Dã sử Tĩnh Hải Loạn Lạc

Bạn thích nước nào nhất?

  • 1. Ngô

    Bình chọn: 1 20.0%
  • 2. Soái

    Bình chọn: 0 0.0%
  • 3. Vệ

    Bình chọn: 4 80.0%

  • Số thành viên bình chọn
    5
Chương 100: Ngô Vương tới thăm nước Lỗ, Soái khó xử

c100.png


Tin tức Soái sai sứ sang Lỗ đòi người lan đi khắp Tĩnh Hải quân, thiên hạ khắp nơi đều xì xào bàn tán không ngớt. Ngô Vương biết được tin ấy liền triệu quần thần vào nghị sự.

Ngô Vương nói:

-Soái đang từng bước hợp thức hóa việc đánh Lỗ, quả đúng như ta dự đoán, Lỗ Vương sẽ không trục xuất vương thất Tùy. Nay Soái thế mạnh như hổ rình mồi, nếu để mất Lỗ vào tay Soái thì phía bắc sẽ gặp họa lớn, ta nhất quyết không để việc ấy xảy ra. Các khanh hãy cùng ta nghĩ cách cứu giúp nước Lỗ khỏi biến lần này!

Mộc Kỳ thưa:

-Soái đã đi nước cờ quá chặt chẽ, nhân chứng, bằng chứng tội ác nước Tùy gây ra đều có đủ, xét về lý lẫn tình đều hợp chính đạo cả. Vả lại Ngô và Soái hiện tại không có thù oán gì trước đây, nay chúa công muốn ra tay tương trợ, chỉ còn cách bí mật can thiệp vào nội bộ nước Lỗ, tránh công khai đối đầu với Soái, nhất là động tới binh đao.

Ngô Vương ngẫm nghĩ một hồi, nói:

-Ta lại nghĩ ra một cách, vừa quang minh chính đại mà lại khiến Soái khó mà ra tay được!

Mộc Kỳ hỏi:

-Nếu chúa công đã có ý tưởng như vậy thì chúng thần xin được cùng nghĩ cách tương trợ!

Ngô Vương nói:

-Ta sẽ cử mật thám theo dõi nhất cử nhất động của quân Soái, phàm lúc Soái động binh, đích thân ta sẽ sang thăm nước Lỗ, lấy cớ bang giao mà bố cáo với thiên hạ. Một mặt sai Đỗ Hải điều động vài vạn binh mã đóng ở biên giới, mục đích để ngầm răn đe Soái nếu có ý định tiến quân. Như vậy thì Soái Vương dù có lý đi chăng nữa cũng khó mà tiến quân đánh Lỗ được, dù sao ta cũng là Kinh Lược sứ kia mà!

Quách Tuấn khen:

-Kế của chúa công rất diệu, có điều kế ấy chỉ dùng được trong ngắn hạn, chúa công không thể ở mãi nước Lỗ được. Chi bằng tính thêm kế lâu dài để bảo vệ Lỗ mới được!

Ngô Vương hỏi:

-Thừa tướng có cao kiến gì chăng?

Quách Tuấn đáp:

-Chính là khiến Lỗ căm ghép Tùy mà trục xuất đi!

Hoài Liêm hỏi:

-Lỗ Vương là người cố chấp, có lý nào ông ta lại làm vậy?

Quách Tuấn đáp:

-Chúng ta phải nhắm vào cái gai trong mắt triều thần Lỗ, chính là Thế tử Kha. Lần này thần sẽ cùng chúa công cùng sang nước Lỗ, cụ thể tính việc ấy thế nào sẽ bàn bạc lại với chúa công sau. Có điều chúng ta bỏ tâm bỏ sức ra giúp Lỗ như vậy, dẫu biết là nên làm nhưng không thể giúp không công được!

Các quan triều thần đều cho là phải. Ngô Vương nói:

-Khanh nói vậy rất hợp lý, có điều tránh thô thiển mà đòi người ta đáp lễ, sẽ mất đi cái đại nghĩa của Ngô!

Quách Tuấn chắp tay:

-Thần đã có cách vẹn toàn!

Ngô Vương nói:

-Tốt, vậy thì cứ quyết như vậy đi! Mộc Kỳ, Hoài Liêm, hai khanh hãy chuẩn bị chu toàn cho lần thăm Lỗ sắp tới!

Mộc Kỳ, Hoài Liêm đồng thanh:

-Tuân mệnh!

Một tháng trôi qua kể từ ngày Tư Văn trở về nước Soái. Trong suốt thời gian ấy, sứ giả Soái đã đi khắp các nước chư hầu, đem chuyện Tùy Vương cùng Thế tử Kha được nước Lỗ che chở kể rõ đầu đuôi. Từ việc dân chúng Hải Dương đồng lòng yêu cầu truy cứu tội trạng Tùy thất, đến việc Soái Vương sai sứ mang chứng cứ sang Lỗ, rồi bị Lỗ Vương thẳng thừng cự tuyệt, tất cả đều được truyền đi không sót một lời.

Soái Vương không ngừng rêu rao rằng mình đã tận hết lễ nghĩa, trước lấy lời lẽ phân trần, sau dùng chứng cứ làm bằng, nhưng Lỗ Vương vẫn vì tình riêng mà bỏ ngoài tai nguyện vọng của dân chúng. Bởi vậy, nếu hai nước xảy ra binh đao, trách nhiệm không thể chỉ đổ lên đầu nước Soái.

Lời ấy truyền đi, các nước chư hầu tuy chưa hẳn tin hoàn toàn, nhưng cũng không dễ công khai bênh vực nước Lỗ. Kẻ cho rằng Lỗ Vương trọng nghĩa, người lại trách ông không biết cân nhắc lợi hại. Dẫu nhận định khác nhau, phần đông đều hiểu rằng mối bất hòa giữa Soái và Lỗ đã đến hồi khó tránh khỏi.

Thấy thời cơ đã đến, Soái Vương hạ lệnh cho đại quân tại Hải Dương chỉnh đốn hành trang, chia đội ngũ, chuẩn bị vượt biên.

Quân lệnh truyền xuống, các doanh trại lập tức chuyển động. Kỵ binh kiểm tra yên cương, bộ tốt sửa soạn binh khí, xe lương nối nhau rời kho, cờ hiệu các doanh lần lượt dựng lên. Những tướng lĩnh được giao tiên phong dẫn quân đến gần biên giới, chờ giờ xuất phát. Các đội trinh sát cũng được phái đi dò xét đường sá, bến vượt cùng tình hình phòng bị của nước Lỗ.

Đến ngày đã định, Soái quân nhổ trại. Đại quân gồm mười hai vạn tinh binh đã tập hợp từ trước ở Hải Dương tiến về phía đông bắc, từng hàng nối nhau trên đường, bụi đất cuộn mù phía sau, trống trận chưa thúc, chiến kỳ đã rợp trời.

Soái Vương chưa chính thức ban lời tuyên chiến, nhưng việc đại quân vượt khỏi nơi đóng giữ, tiến sát biên giới nước Lỗ đã là dấu hiệu rõ ràng nhất. Nếu Lỗ Vương không thay đổi quyết định, binh đao có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

Tin cấp báo theo đường trạm truyền về kinh thành nước Lỗ. Khi nghe báo tin Soái quân đã khởi hành, Lỗ Vương tuy đã dự liệu từ trước, sắc mặt vẫn không khỏi biến đổi. Ông đặt mạnh thẻ tre trong tay xuống án, lập tức triệu các tướng lĩnh vào cung nghị sự.

Chẳng bao lâu, văn võ bá quan đã tề tựu trong điện. Lỗ Vương nhìn các tướng, trầm giọng hỏi:

-Soái quân đã đến đâu? Quân số, đường tiến và ý định của chúng ra sao?

Một viên tướng bước ra, chắp tay đáp:

-Khởi bẩm chúa công, theo tin từ biên giới, quân Soái đã rời Hải Dương, đang tiến về phía nước ta. Các doanh trại gần biên giới đều đã có binh mã ứng trực. Tuy chưa rõ Soái Vương định đánh thẳng vào thành nào, nhưng nhìn cách điều quân, rõ ràng họ đã chuẩn bị từ trước, tuyệt không phải hành động nhất thời.

Một vị đại thần khác nói:

- Xin chúa công lập tức điều quân đến những nơi hiểm yếu, giữ chặt các đường tiến vào nước Lỗ. Nếu địch muốn đánh nhanh, ta phải ngăn chúng ở ngoài biên giới, nếu chúng muốn vây thành, ta càng không thể để chúng dễ dàng chiếm được những cửa ngõ trọng yếu.

Lỗ Vương gật đầu, lập tức hạ lệnh điều động binh mã. Các tướng được phân công trấn giữ những tuyến đường dẫn vào nội địa, kiểm tra thành lũy, tích trữ lương thảo, chuẩn bị cung nỏ và khí giới phòng thủ. Quân đội các nơi nhận lệnh, lần lượt kéo về những vị trí đã định.

Dù mệnh lệnh được ban xuống liên tiếp, nét lo âu trên mặt Lỗ Vương vẫn chưa tan. Ông hiểu rõ nước Soái vừa chiếm được Tùy, quân lực đang mạnh, lại đã có thời gian chuẩn bị tại Hải Dương. Nước Lỗ tuy không phải không có quân đội, song nếu phải đối đầu với một đại quân hùng mạnh của Soái vừa thắng trận, sĩ khí đang thịnh, thì thắng bại khó thể đoán trước.

Một vị lão thần tiến lên khuyên:

-Chúa công, nay Soái quân đã động, xin người hãy cân nhắc lại việc Tùy thất. Nếu có thể tìm một lối giải quyết, vẫn còn hơn để binh đao tràn vào bờ cõi.

Lỗ Vương nhìn ông, đáp:

-Khanh cho rằng quả nhân không biết lo cho xã tắc hay sao? Nhưng Tùy Vương đã đến cầu cứu, quả nhân đã nhận lời che chở. Nếu chưa thấy quân Soái đã quay lưng, nay lại vì họ kéo đến mà đuổi người đi, thiên hạ sẽ nhìn nước Lỗ ra sao? Từ nay về sau, còn ai dám tin lời hứa của quả nhân?

Lão thần cúi đầu, không dám nói thêm.

Lỗ Vương tuy lo lắng, nhưng vẫn không có ý giao nộp Tùy Vương. Ông tin rằng nếu phải chống đỡ một phen để giữ trọn lời hứa, ít nhất mình còn có thể ngẩng đầu trước thiên hạ. Chỉ có điều, trong lòng ông vẫn canh cánh một điều, nếu nước Soái quyết tâm đánh đến cùng, nước Lỗ có thể cầm cự được bao lâu?

Đúng lúc triều thần đang bàn bạc, một viên quan giữ cửa cung vội vã bước vào, quỳ xuống tâu:

- Khởi bẩm chúa công! Sứ giả nước Ngô vừa đến kinh thành, mang quốc thư của Ngô Vương. Ngô Vương cùng các đại thần đang trên đường đến nước ta, nói rằng muốn thăm hỏi chúa công, bàn việc giao hảo giữa hai nước!

Trong điện nhất thời xôn xao. Lỗ Vương ngẩn người, lập tức hỏi:

-Ngô Vương đích thân đến ru? Có nói rõ ngày giờ không?

-Dạ bẩm, quốc thư đã ghi rõ, Ngô Vương sẽ đến trong ba ngày nữa, đi cùng các đại thần trọng yếu trong triều. Đoàn tùy tùng đông đảo, nghi trượng đầy đủ, sứ giả đã xin triều đình chuẩn bị lễ nghênh tiếp theo đúng quy chế dành cho quân vương một nước.

Lỗ Vương đưa mắt nhìn quần thần. Vẻ lo âu ban nãy chưa tan, nay đã xen thêm vài phần kinh ngạc. Ngô Vương vốn không phải người dễ dàng rời khỏi quốc đô. Lúc này, nước Soái đang tiến quân, nước Lỗ đứng trước nguy cơ chiến tranh, vậy mà vị Kinh Lược sứ lại chọn đúng thời điểm ấy đến thăm. Chuyện này tuyệt nhiên không thể xem là ngẫu nhiên.

Một vị đại thần lập tức hiểu ra, bước lên thưa:

-Chúa công, thần cho rằng chuyến đi này của Ngô Vương ắt có dụng ý. Nước Ngô đã sớm biết chuyện giữa Soái và Lỗ, nay Ngô Vương đích thân đến, lại mang theo các đại thần, hẳn muốn cho thiên hạ thấy nước Ngô đang hiện diện tại đây. Nếu Soái Vương vẫn bất chấp mà đánh nước Lỗ, e rằng sẽ khiến các nước chư hầu nghi ngờ mục đích thực sự của ông ta.

Một người khác tiếp lời:

-Hơn nữa, Ngô Vương mang danh Kinh Lược sứ, có tiếng nói và ảnh hưởng đối với cục diện các nước. Khi ông ấy đang ở nước Lỗ, Soái quân nếu tiến sâu vào bờ cõi, chuyện ấy sẽ không còn chỉ là tranh chấp giữa hai nước. Dẫu nước Ngô chưa hứa đem quân tương trợ, sự hiện diện của Ngô Vương cũng đủ khiến Soái Vương phải cân nhắc.

Lỗ Vương nghe vậy, vẻ mặt dần bớt lo lắng, ông vốn hiểu Ngô Vương đang tìm cách ngăn nước Soái tiếp tục mở rộng thế lực. Trước đó, Ngô đã sai Hoài Liêm sang khuyên ông trục xuất hoàng thất Tùy, nhưng không đạt được kết quả. Nay Ngô Vương đích thân đến, không những không yêu cầu ông thay đổi quyết định, mà còn chọn nghi thức long trọng để công khai chuyến đi. Đây chẳng khác nào một lời nhắn gửi đến Soái Vương, nước Ngô đang theo dõi việc này, và nước Lỗ không hoàn toàn đơn độc.

Lỗ Vương lập tức đứng dậy, ra lệnh:

-Ngô Vương quả là bậc quân tử trượng nghĩa, ta vốn chưa mở lời nhờ cậy mà ngài ấy tới giúp Lỗ như vậy, đúng là trời giúp Lỗ rồi! Các ngươi lập tức chuẩn bị nghênh đón Ngô Vương, các quan văn võ đều phải có mặt, tuyệt không được thất lễ. Đồng thời, việc phòng bị ở biên giới vẫn tiến hành như cũ, chớ chỉ vì tin Ngô Vương đến mà lơ là quân vụ.

Quần thần đồng thanh lĩnh mệnh.

Ba ngày sau, tiếng chuông nghênh khách vang lên, Lỗ Vương dẫn các đại thần ra ngoài thành đón tiếp. Đoàn xe của Ngô Vương xuất hiện trên con đường lớn, cờ tiết nối nhau, nghi trượng chỉnh tề. Các đại thần nước Ngô cưỡi ngựa theo hầu, sứ giả cầm quốc thư đi trước. Đội hộ vệ đông đảo nhưng giữ hàng ngũ nghiêm cẩn, thể hiện rõ đây không phải một chuyến thăm riêng tư bình thường.

Hai quân vương gặp nhau, cùng hành lễ theo nghi thức, rồi nắm tay chào hỏi.

Ngô Vương mỉm cười nói:

- Đã lâu không gặp, ta nghe nói ngài gần đây phải lo nhiều việc, nên đặc biệt đến thăm. Mong rằng chuyến đi này không làm phiền quý quốc!

Lỗ Vương đáp lễ:

- Ngô Vương đường xa đến thăm, nước Lỗ vô cùng vinh hạnh. Xin mời vào thành, ta đã chuẩn bị yến tiệc, mong được cùng ngài đàm đạo.

Hai người cùng lên xe vào thành. Dọc đường, dân chúng đứng hai bên quan sát đoàn nghi trượng, còn quan viên nước Lỗ thì theo sát phía sau. Tin Ngô Vương đích thân đến Lỗ nhanh chóng truyền khắp kinh thành, rồi theo các thương nhân và sứ giả lan ra những vùng lân cận.

Đến buổi yến tiệc, Lỗ Vương lấy lễ chủ nhà tiếp đãi long trọng. Hai bên trước tiên đàm luận chuyện mùa màng, bang giao, lễ nhạc, rồi mới chuyển sang tình hình các nước. Ngô Vương không vội nhắc đến Soái quân, chỉ hỏi thăm việc trị quốc của nước Lỗ, tỏ ý mong hai nước tiếp tục giữ mối giao hảo lâu dài.

Mãi đến khi yến tiệc gần tàn, Ngô Vương mới đặt chén xuống, chậm rãi nói:

-Ta nghe nói gần đây giữa quý quốc và nước Soái có điều bất hòa. Soái quân đã rời Hải Dương, tiến về phía biên giới. Chẳng hay hiền hầu đã có đối sách gì chưa?

Lỗ Vương thở dài:

-Chuyện ấy khiến ta không khỏi lo lắng, Soái Vương lấy việc Tùy thất lưu vong làm cớ, đòi nước Lỗ giao người. Ta đã nói rõ, Tùy Vương là bằng hữu cũ, nay gặp nạn, lão phu không thể bỏ mặc. Không ngờ Soái vẫn quyết ý động binh.

Ngô Vương nhìn ông, giọng ôn hòa:

-Tình nghĩa giữa bằng hữu với nhau vốn đáng quý, nhưng khi đã ở ngôi quân chủ, mỗi quyết định đều liên quan đến an nguy của muôn dân. Ta không dám thay hiền hầu quyết định việc của nước Lỗ, chỉ mong hai bên còn có thể giữ được bình tĩnh, chớ để một cuộc tranh chấp khiến sinh linh phải chịu cảnh lầm than.

Lời nói nghe như khuyên giải, nhưng ý tứ bên trong lại rất rõ. Ngô Vương không công khai đứng về phía Lỗ, cũng không tuyên bố sẽ đem quân trợ chiến. Tuy nhiên, việc Ngô Vương đích thân đến thăm, công khai bàn về tình hình giữa Soái và Lỗ, đã khiến chuyến đi này trở thành một sự kiện mà Soái Vương không thể làm ngơ.

Ngô Vương không cần tuyên bố bảo vệ nước Lỗ, cũng không cần đưa ra lời đe dọa. Chỉ riêng sự hiện diện của ông cùng các đại thần nước Ngô đã khiến cục diện trở nên phức tạp hơn. Soái Vương vẫn có thể đánh Lỗ, nhưng từ thời khắc này, ông không còn có thể xem đó là một cuộc chiến chỉ liên quan đến hai nước.

Đêm ấy, tin Ngô Vương đã đến nước Lỗ được mật báo về doanh trại Soái quân.

Đại quân đã chuẩn bị xong, chỉ chờ quân lệnh vượt biên, vậy mà Ngô Vương lại xuất hiện đúng vào lúc này. Chuyến đi ấy rõ ràng không đơn thuần là thăm hỏi bằng hữu.

Khi nghe xong, Soái Vương đập bàn quát lớn:

-Cái tên Ngô Khởi ấy lại chọn sang thăm Lỗ ngày lúc này, tất là muốn cản bước ta. Lần trước hắn đã cùng chư hầu tìm cách cô lập Soái, nay lại chõ mũi vào chuyện Soái và Lỗ, ta thề sẽ không bỏ qua cho chúng.

Nguyên Hà nói:

-Ngô Vương quả nhiên không muốn Soái dễ dàng lấy được nước Lỗ. Hắn biết rõ chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ, nên mới chọn lúc này đến thăm, muốn dùng danh nghĩa Kinh Lược sứ khiến chúa công phải dè chừng.

Hứa Chung hỏi:

-Chúa công, vậy có nên tạm hoãn việc xuất binh hay không?

Soái Vương nói:

-Quân đã tập kết, không thể vì một chuyến đi sứ mà lập tức rút lui. Nhưng lúc này cũng chưa phải thời điểm tốt nhất để khai chiến. Hãy giữ nguyên đội ngũ, tiếp tục trinh sát, không được tự ý vượt biên. Ta muốn xem Ngô Vương có ở Lỗ được mãi hay không?

Mệnh lệnh được truyền xuống, Soái quân tạm thời giữ nguyên vị trí, chưa phát động cuộc tiến công.

Ngô Vương đã đạt được mục đích trước mắt, dùng chính sự hiện diện của mình để làm chậm bước tiến của Soái Vương, khiến cuộc chiến không thể bùng nổ dễ dàng như dự tính. Nhưng Ngô Vương cũng hiểu rằng đây chỉ là kế hoãn binh, một khi Soái Vương quyết tâm khai chiến, thời gian sẽ chẳng cản bước được y.

Còn Lỗ Vương, tuy tạm thời có thêm một chỗ dựa về ngoại giao, vẫn phải đối mặt với đạo quân Soái đang đóng gần biên giới. Binh đao chưa nổ, nhưng thiên hạ đã bắt đầu dõi mắt về Hải Dương và nước Lỗ. Chỉ cần một quyết định sai lầm, thế cờ đang giằng co giữa ba nước có thể lập tức đổi khác.

Bảo Nha, vốn là bậc lão thần am tường chính sự, biết cân nhắc lợi hại, lại một lòng lo nghĩ cho xã tắc. Từ khi Tùy Vương cùng thế tử Kha chạy sang cầu nương nhờ, ông đã nhiều lần can gián Lỗ Vương, cho rằng tình nghĩa bằng hữu tuy đáng quý, nhưng không thể vì một người mà đặt sự an nguy của cả nước vào chỗ hiểm nghèo. Nhưng Lỗ Vương trọng tình cũ, lòng đã quyết thì khó ai lay chuyển. Mỗi lần Bảo Nha dâng lời can gián, Lỗ Vương đều lấy nghĩa kết giao thuở thiếu thời làm lẽ đáp lại, nhất quyết không chịu đuổi bằng hữu vào lúc cùng đường.

Bảo Nha tuy giữ chức Thừa tướng, nhưng trước ý chí của quân vương, nhất thời cũng chẳng biết phải làm sao. Quách Tuấn nắm rõ điều ấy, bèn sai người chuyển lời, xin được gặp riêng Bảo Nha để bàn việc cơ mật.

Đêm hôm ấy, khi tiệc tiếp sứ đã tan, trong phủ Thừa tướng nước Lỗ, đèn được thắp sáng nơi thư phòng. Bảo Nha đích thân ra đón Quách Tuấn, sai gia nhân lui hết, chỉ để lại hai người đối diện bên án gỗ.

Chén trà vừa đặt xuống, Quách Tuấn đã đi thẳng vào việc chính:

-Ta nghe nói đại phu nước Lỗ đều lo việc Soái đem quân đến, riêng Thừa tướng đã nhiều lần khuyên can, nhưng Lỗ Vương vẫn không chịu đổi ý. Chẳng hay lời ấy có đúng chăng?

Bảo Nha thở dài:

-Quách công đã hỏi, ta cũng chẳng cần giấu. Tùy Vương cùng ta vốn chẳng có giao tình sâu nặng, càng không phải người có đại ân với nước Lỗ. Nay ông ta cùng thế tử Kha đến đây, chúa công vì tình bằng hữu mà tiếp đãi trọng hậu. Ta đã nói hết lẽ lợi hại, từ sự an nguy của xã tắc đến nỗi khổ của bách tính, nhưng chúa công vẫn cho rằng nếu lúc hoạn nạn còn quay lưng với bạn cũ, thì sau này lấy gì giữ chữ tín với thiên hạ? Ta chẳng phải người bất nghĩa, cũng không muốn thấy vương thất Tùy phải lưu lạc không nơi nương náu. Nhưng nước Lỗ nhỏ hơn, binh lực không thể sánh với Soái, nếu chỉ vì một lời hứa cũ mà khiến hai nước giao tranh, dân chúng chịu cảnh lầm than, thành quách hóa thành gò đống, thì lòng trung của ta rốt cuộc còn có ích gì cho xã tắc?

Quách Tuấn nghe xong, khẽ gật đầu:

-Thừa tướng đã thấy rõ điều cốt yếu, chỉ là chưa tìm được cách khiến Lỗ Vương có thể lui một bước mà vẫn giữ được thể diện.

Bảo Nha hỏi:

-Ngài có cao kiến gì chăng?

Quách Tuấn đặt chén trà xuống, chậm rãi đáp:

-Chuyện này, theo ta, không thể chỉ trông mong Lỗ Vương đổi lòng. Người trọng tình nghĩa thường xem lời đã nói nặng hơn lợi hại trước mắt. Càng có người can ngăn, ông ấy càng cho rằng mình đang giữ đạo bằng hữu, chẳng chịu cúi đầu trước thế cục. Chi bằng đổi cách mà làm, chẳng cần ép Lỗ Vương tự miệng hạ lệnh trục xuất Tùy Vương, mà hãy khiến vương thất Tùy tự rời khỏi nước Lỗ.

Bảo Nha hỏi tiếp:

-Để họ tự rời đi? Nhưng vương thất Tùy đã mất nước, ngoài Lỗ ra còn biết nương tựa vào đâu? Thế tử Kha kiêu căng, Tùy Vương lại không muốn cúi đầu trước người khác. Nếu không có ai ép buộc, e rằng họ sẽ chẳng chịu đi!

Quách Tuấn mỉm cười:

-Bởi vậy mới cần có người khiến họ tin rằng rời khỏi Lỗ mới là con đường tốt nhất để phục quốc!

Quách Tuấn nghiêng người, hạ thấp giọng rồi nói tiếp:

-Thừa tướng thử nghĩ xem, Soái Vương đòi giao Tùy Vương và thế tử Kha để tra xét tội trạng, cốt để có cớ gây sức ép với Lỗ. Nếu hai người ấy vẫn ở đây, Soái có thể tiếp tục rêu rao rằng Lỗ che chở kẻ có tội, từ đó lấy danh nghĩa hỏi tội mà động binh. Nhưng một khi vương thất Tùy đã rời khỏi lãnh thổ nước Lỗ, cớ ấy tự nhiên không còn đứng vững như trước. Soái muốn xuất binh, ắt phải tìm một lý do khác, mà nếu vô cớ tiến đánh, các nước sẽ khó tránh khỏi nghi ngờ dã tâm của họ.

Bảo Nha đáp:

-Ý ngài là khiến Tùy Vương cùng thế tử Kha tự nguyện rời khỏi Lỗ, như vậy chúa công không phải mang tiếng thất tín, mà nước Lỗ cũng có thể tránh được binh tai?

Quách Tuấn tiếp lời:

Chính là như vậy, Lỗ Vương vẫn có thể giữ lời rằng mình không bỏ mặc bạn cũ trong lúc hoạn nạn. Ngài đã tiếp đón, cấp lương thực, cung cấp nơi ở, bảo toàn gia quyến cho họ. Đến nay, nếu vương thất Tùy tự chọn một nơi khác để mưu đồ phục quốc, thì ấy là quyết định của họ, chẳng phải Lỗ Vương đuổi khách. Chúa công của ngài vẫn giữ được tình nghĩa, mà xã tắc nước Lỗ cũng tránh được hiểm họa. Hai việc ấy vốn không nhất thiết phải trái ngược nhau.

Bảo Nha vỗ nhẹ lên án, vẻ mặt lộ rõ vui mừng:

-Diệu kế! Ta ngày đêm lo nghĩ, chỉ sợ không thể khuyên được chúa công. Nay nghe lời Quách công, quả thực đã tìm ra một lối thoát.

Nhưng niềm vui vừa hiện lên, Bảo Nha lại trầm ngâm:

-Có điều, nếu muốn làm việc này, tất phải âm thầm tiến hành. Một khi chúa công hay biết, e rằng ngài sẽ ngăn cản. Nếu ta tự ý sắp đặt, chẳng khác nào vượt quyền quân vương. Dẫu có ý vì xã tắc, nhưng quân thần có phận, há có thể tùy tiện hành sự?

Quách Tuấn nói:

-Thừa tướng cho rằng làm tôi thì mọi việc đều phải bẩm báo trước rồi mới được làm hay sao?

Bảo Nha nhíu mày:

-Phép tắc triều đình vốn là như thế!

Quách Tuấn giải thích:

-Phép tắc đặt ra để giữ nước, chứ chẳng phải để trói buộc người giữ nước. Nếu việc nhỏ thì có thể chờ mệnh, việc thường thì nên theo phép. Nhưng gặp đại sự liên quan đến an nguy xã tắc, biết rõ trước mắt có hiểm họa mà vẫn ngồi chờ quân vương gật đầu, đến khi binh đao nổi lên, thành trì thất thủ, bách tính chịu nạn, lúc ấy dẫu có đem hết lời can gián ngày trước ra nhắc lại thì còn ích gì?

Bảo Nha im lặng lắng nghe.

Quách Tuấn tiếp tục:

-Ta biết Lỗ Vương là người trọng tình, cũng chính vì thế mà ngài khó thấy hết hiểm họa do tình riêng gây nên. Nếu Thừa tướng đã tận lòng khuyên giải mà không được, thì nay nên tìm cách cứu vãn đại cục. Chẳng lẽ chỉ vì sợ bị trách phạt mà để muôn dân chịu cảnh binh đao?

Bảo Nha đáp:

-Nhưng nếu chúa công cho rằng ta lừa dối ngài, tội ấy há nhẹ sao?

Quách Tuấn lắc đầu:

-Người tôi hiền quý ở chỗ biết điều gì nên giữ, điều gì nên bỏ, biết lúc nào phải thuận theo mệnh lệnh, lúc nào phải gánh lấy trách nhiệm. Trung với quân vương không chỉ là vâng theo từng lời, mà còn là giữ gìn cơ nghiệp của quân vương, bảo toàn sinh mạng của bách tính. Nếu việc làm hôm nay khiến nước Lỗ tránh được chiến tranh, dân chúng được yên ổn, thì dẫu sau này chúa công có trách phạt, Thừa tướng cũng có thể ngẩng đầu trước trời đất. Còn nếu vì giữ mình mà để xã tắc lâm nguy, đến khi hối hận thì đã muộn mất rồi!

Lời ấy đánh trúng nỗi lòng Bảo Nha, ông vốn không sợ gánh trách nhiệm, chỉ sợ làm trái phép tắc mà phụ lòng quân vương. Nay nghe Quách Tuấn phân tích, ông mới hiểu rằng trong cục diện này, giữ nguyên phép tắc bề ngoài chưa chắc đã là trung, có khi dám nhận lấy tiếng trái lệnh mới thực sự là lo cho đại nghĩa.

Sau hồi lâu suy xét, Bảo Nha cuối cùng gật đầu:

-Được! Nếu có thể khiến vương thất Tùy tự rời khỏi nước Lỗ, lại không làm tổn hại đến tính mạng của họ, ta nguyện cùng Quách công mưu việc này. Chỉ mong kế sách kín đáo, chớ để sinh thêm biến cố.

Quách Tuấn chắp tay đáp:

-Thừa tướng đã quyết, việc này có thể tiến hành! Nếu muốn vương thất Tùy tự nguyện rời đi, phải nhắm đến Thế tứ Kha và phải hiểu rõ điều hắn mong muốn nhất!

Bảo Nha hỏi:

-Hắn là kẻ kiêu căng ngạo mạn, thậm chí đôi lúc còn không nghe lời Tùy Vương. Ta nghe nói khi xưa Tùy Vương từng cho hắn nắm quyền trước khi nước Tùy mất, không lẽ điều hắn muốn nhất chính là việc khôi phục quyền chức như xưa?

Quách Tuấn gật đầu:

-Đúng vậy, hắn là kẻ rất ham quyền lực, hơn cả vật chất phù phiếm. Nhưng người có chí phục quốc chưa chắc đã chịu đi theo con đường có thể thành công, kẻ như Kha lại càng không. Hắn quen được người khác cung phụng, tự cho mình hơn người, trong lòng chỉ nghĩ đến quyền thế và vinh hoa. Nếu ta khuyên hắn rời Lỗ vì muốn tránh chiến tranh, hắn sẽ cho rằng mình bị đuổi đi, nhất định sinh lòng chống đối. Nhưng nếu khiến hắn tin rằng ở nơi khác có người sẵn lòng giúp hắn chiêu binh mãi mã, khôi phục cơ nghiệp, thì hắn sẽ xem việc rời Lỗ là cơ hội, chứ chẳng phải nỗi nhục!

Bảo Nha hiểu ý, khẽ gật đầu.

Quách Tuấn bèn trình bày kế hoạch đã suy tính từ trước.
 
Sửa lần cuối:
Chương 101: Ngô Vương phải lòng công chúa nước Lỗ, Tân Dũ tiếp cận Thế tử Kha

c101.png


Sau ba ngày cùng các đại thần nước Lỗ bàn định việc bang giao, Ngô Vương tuy chưa nhận được lời cam kết nào về việc Lỗ sẽ xử trí vương thất Tùy, nhưng cũng hiểu rằng Lỗ Vương đang cố tìm một phương kế để tránh binh đao. Bởi vậy, khi Lỗ Vương mở lời mời ông lưu lại ít ngày, nhân dịp du ngoạn danh lam thắng cảnh trong nước, Ngô Vương liền vui vẻ nhận lời. Ngô Vương nói:

-Quý quốc non sông tươi đẹp, lại có nhiều bậc hiền tài. Ta đã đến đây, nếu chỉ bàn chuyện chính sự rồi vội vã trở về, chẳng phải phụ mất thịnh tình của Lỗ Vương hay sao?

Lỗ Vương nghe vậy, mừng rỡ đáp:

-Được Ngô Vương lưu lại, nước Lỗ chúng ta thật lấy làm vinh hạnh. Mấy ngày tới, ta sẽ sai người sửa soạn yến tiệc, đưa ngài thăm thú những nơi thắng cảnh nổi tiếng, mong Ngô Vương chớ chê nơi đất nhỏ này.

Ngô Vương chỉ cười mà không nói thêm.

Hai người đều hiểu, chuyến du ngoạn ấy không đơn thuần là để thưởng ngoạn phong cảnh. Lỗ Vương muốn kéo dài thời gian, khiến quân Soái chưa thể dễ dàng tiến đánh khi Kinh Lược sứ nước Ngô còn lưu lại. Ngô Vương cũng vui lòng thuận theo, bởi chỉ cần Soái chưa vượt qua giới hạn, Ngô vẫn còn thời gian tìm cách ngăn cản thế lực đang ngày một lớn mạnh ấy.

Lỗ Vương bèn hạ lệnh trong kinh thành mở hội đá cầu, mời những đội cầu thủ nổi danh từ các châu quận về dự. Nước Lỗ vốn có truyền thống đá cầu lâu đời, người trong nước từ quan lại đến thứ dân đều ưa chuộng môn này. Kẻ giỏi đá cầu được các nhà quyền quý trọng vọng, có người nhờ tài nghệ mà được tiến cử vào phủ công khanh.

Tin mở hội truyền đi, các đội cầu thủ từ khắp nơi lần lượt kéo về kinh. Có người nổi danh bởi cú sút mạnh như sấm, có người khéo léo điều khiển quả cầu giữa vòng vây đối thủ, lại có người thân pháp nhẹ nhàng, tung mình đón cầu giữa không trung tựa chim én lượn trên mặt nước. Chẳng bao lâu, sân lớn ngoài cung đã được dựng đài cao, cắm cờ hiệu, bày chỗ ngồi cho vương thất và các đại thần.

Ngày khai hội, trống chiêng vang dậy, người xem chen kín hai bên sân. Lỗ Vương cùng Ngô Vương ngồi trên đài chủ tọa, phía dưới là các công khanh, đại phu và sứ thần tùy hành. Rượu ngon được dâng lên, nhạc công tấu khúc vui mừng, không khí náo nhiệt chẳng khác nào ngày hội lớn trong nước.

Nhưng việc tổ chức hội đá cầu lần này, ngoài mục đích giải khuây cho Ngô Vương, trong lòng Lỗ Vương còn có một dụng ý khác.

Nước Lỗ có một vị công chúa tên là Tường Hân, dung mạo mỹ lệ, phong thái đoan trang, lại thông minh hơn người. Nàng từ nhỏ đã được các bậc danh sư dạy dỗ, am tường kinh sử, hiểu lễ nghi bang giao, thường được phụ vương cho dự nghe những cuộc bàn luận trong cung. Khác với nhiều nữ nhi nơi vương thất chỉ quen cầm kỳ thi họa, Tường Hân còn thích tìm hiểu thế cuộc các nước, biết phân biệt lợi hại trong việc trị quốc và dùng người.

Nàng có dung nhan sắc sảo, ánh mắt sáng, lời nói không nhiều nhưng mỗi câu đều có chừng mực. Người từng tiếp chuyện đều nhận xét nàng không chỉ đẹp ở dung mạo, mà còn có khí chất khiến người khác phải kính trọng.

Lỗ Vương rất mực yêu quý nữ nhi này. Nay trước thế nước hiểm nghèo, ông chợt nghĩ đến việc kết thân với Ngô Vương. Nếu Tường Hân có thể trở thành vương hậu nước Ngô, hai nước sẽ có thêm mối dây ràng buộc. Nước Lỗ khi ấy chẳng những có thể dựa vào uy thế của Ngô để kiềm chế Soái, mà còn gia tăng ảnh hưởng trước các nước lân cận.

Sau khi suy tính, Lỗ Vương cho gọi Tường Hân đến điện bàn chuyện

Tường Hân vừa bước vào, đã thấy phụ vương ngồi bên án thư, vẻ mặt khác thường. Sau vài lời hỏi han, Lỗ Vương mới chậm rãi nói:

-Ngô Vương đang lưu lại nước ta, người ấy mới ngoài tứ tuần, có uy vọng trong chư hầu, lại nắm giữ một nước giàu mạnh. Nay nước Lỗ đang ở vào lúc khó khăn, nếu hai nước có thể kết thành thân gia, chẳng những là chuyện tốt cho con, mà còn có lợi cho xã tắc.

Tường Hân nghe đến đó, đã hiểu ý phụ vương. Nàng cúi đầu một lát rồi đáp:

-Phụ vương muốn gả con cho Ngô Vương?

Lỗ Vương gật đầu:

-Ngô Vương là bậc quân chủ có thế lực lớn, nếu con được gả sang Ngô, sau này hai nước có thể nương tựa lẫn nhau. Soái đang đem quân áp sát biên giới, nước Lỗ không thể chỉ dựa vào thành trì và binh mã của mình để chống đỡ. Đây là việc liên quan đến vận mệnh quốc gia, ta mong con suy xét.

Tường Hân im lặng hồi lâu. Từ nhỏ, nàng đã hiểu hôn sự của nữ nhi vương thất chẳng phải lúc nào cũng do bản thân lựa chọn. Nhưng hiểu là một chuyện, cam lòng lại là chuyện khác. Nàng không muốn cả đời mình trở thành một món sính lễ được đem ra đổi lấy sự yên ổn cho một nước.

Nàng ngẩng đầu, bình tĩnh thưa:

-Con biết phụ vương lo cho xã tắc, nhưng hôn nhân là việc cả đời, há có thể chỉ vì một phen bang giao mà định đoạt? Con chưa từng gặp Ngô Vương, cũng chẳng biết người ấy có tâm tính ra sao. Nếu chỉ bởi nước Ngô có uy thế mà gả con sang đó, chẳng khác nào đem thân mình đặt lên bàn cân giữa các nước.

Lỗ Vương không trách, chỉ khẽ thở dài:

-Con nói không sai, nhưng con cũng nên hiểu, vương thất không giống thứ dân. Khi nước nhà lâm nguy, mỗi người đều phải gánh lấy phần trách nhiệm của mình. Quả nhân không muốn ép con, song nếu việc này có thể giúp nước Lỗ tránh được chiến họa, thì quả nhân không thể không nghĩ đến.

Tường Hân nhìn phụ vương, thấy trên gương mặt vốn hiền hậu nay đã hiện rõ nét ưu tư. Nàng biết Soái đang tập trung binh mã ngoài biên, biết các tướng trong triều ngày đêm lo việc phòng thủ, cũng hiểu Ngô Vương đến đây không chỉ để dự tiệc vui.

Tường Hân suy nghĩ hồi lâu, nàng mới khẽ đáp:

-Nếu hôn sự này thực sự có thể giúp nước Lỗ tránh được binh đao, khiến dân chúng khỏi phải chịu cảnh ly tán, con xin nghe theo sự sắp đặt của phụ vương. Nhưng con có một điều thỉnh cầu!

Lỗ Vương hỏi:

-Con cứ nói!

-Con muốn được tự mình gặp gỡ, trò chuyện với Ngô Vương. Nếu người ấy là bậc quân chủ có thể phó thác cả đời, con sẽ không vì tư tình mà làm hỏng đại sự. Nhưng nếu chỉ là kẻ ham sắc, trọng lợi, thì dù có kết thành thân gia, nước Lỗ chưa chắc đã có được chỗ dựa lâu dài!

Lỗ Vương nghe xong, gật đầu tán thưởng:

-Con quả không phụ lòng dạy dỗ của quả nhân. Chuyện này cứ theo ý con mà làm!

Ngày hôm sau, hội đá cầu ở hoàng cung diễn ra, các đội đã qua vòng tuyển chọn lần lượt bước vào tranh tài. Có trận đấu gay cấn đến nỗi quả cầu bay qua lại hàng chục lượt mà chưa đội nào ghi được điểm. Tiếng reo hò của người xem vang dậy khắp sân.

Lỗ Vương nhân lúc Ngô Vương đang thưởng thức trận đấu, bèn sai người dọn thêm một chỗ ngồi bên cạnh. Không lâu sau, Tường Hân công chúa xuất hiện trong bộ y phục màu nhạt, trâm ngọc điểm tóc, dáng đi khoan thai mà đoan nhã.

Nàng tiến đến trước đài, cúi mình hành lễ.

-Thần nữ Tường Hân, xin bái kiến Ngô Vương!

Ngô Vương quay đầu nhìn lại, chỉ trong khoảnh khắc, ánh mắt ông đã dừng trên dung nhan nàng. Nàng có vẻ đẹp không phô trương, đôi mắt sáng mà điềm tĩnh, nét mặt thanh tú, cử chỉ đoan trang. Điều khiến người ta khó quên hơn cả là phong thái tự nhiên, không hề có vẻ e dè hay lấy lòng của một nữ nhi đang đứng trước quân chủ nước khác.

Ngô Vương thoáng ngẩn người, rồi mới mỉm cười đáp:

-Công chúa miễn lễ, ta đã nghe danh công chúa từ lâu, nay được gặp, quả nhiên danh bất hư truyền.

Tường Hân ngồi xuống chỗ đã được sắp đặt, nhẹ nhàng đáp:

-Ngô Vương quá lời. Một người được sinh trong cung, quanh năm ít ra ngoài, danh tiếng truyền đến tai người khác phần nhiều cũng chỉ nhờ lời người đời tô vẽ. Hôm nay được cùng Ngô Vương xem hội, thần nữ mới là người có phúc.

Ngô Vương bật cười:

-Công chúa khiêm nhường quá! Ta nghe nói người Lỗ giỏi đá cầu, hôm nay tận mắt chứng kiến mới biết lời ấy chẳng sai. Chỉ một quả cầu nhỏ mà khiến hàng tá người dốc sức tranh đoạt, thật có phần thú vị.

Tường Hân nhìn xuống sân, nơi hai đội cầu thủ đang giành nhau quyền kiểm soát quả cầu, nói:

-Đá cầu cũng giống như dụng binh, một người dù có sức mạnh đến đâu, nếu không biết phối hợp với đồng đội thì khó lòng giành thắng lợi. Kẻ giữ cầu phải biết khi nào nên tiến, khi nào nên lui, người đứng ngoài phải biết quan sát thế trận, chờ lúc đối phương sơ hở mới ra tay. Đội nào chỉ cậy vào một người tài giỏi, đội ấy thường khó đi đến cuối cùng.

Ngô Vương quay sang nhìn nàng, có chút ngạc nhiên.

-Công chúa xem một trận đá cầu mà cũng luận được đến phép dụng binh?

Tường Hân mỉm cười:

-Thiên hạ tuy có muôn việc, nhưng đạo lý thường chẳng cách nhau bao xa. Trên sân có đội ngũ, trong triều có bá quan, trên sân có người giữ cầu, trong quân có chủ tướng. Nếu người đứng đầu chỉ biết khoe sức mình mà không biết dùng sức của người khác, thì dù nhất thời thắng được một trận, cũng khó giữ được thắng lợi lâu dài.

Ngô Vương nghe xong, không khỏi chăm chú nhìn nàng. Ông vốn tưởng công chúa nước Lỗ chỉ là một nữ nhi có dung mạo hơn người, được phụ vương đưa đến để tiếp chuyện khách quý. Không ngờ nàng lại có kiến thức và cách nhìn riêng, lời nói vừa mềm mỏng vừa sắc bén, không hề tỏ ra khoe khoang.

Trên sân, một cầu thủ nước Lỗ vừa tung người đón quả cầu từ đường biên, dùng gót chân hất ngược qua đầu đối thủ. Quả cầu bay thẳng vào khung cầu, tiếng trống lập tức vang lên. Người xem đứng dậy reo hò, các quan đại thần cũng vỗ tay tán thưởng.

Tường Hân nhìn trận đấu, thuận miệng hỏi:

-Ngô Vương thấy trận đấu vừa rồi đội nào mới là đội mạnh hơn?

Ngô Vương đáp:

-Xét trận vừa rồi, đội thua quả thực có nhiều người tài giỏi. Đặc biệt là người mặc áo xanh, thân pháp nhanh nhẹn, xử trí rất khéo. Thế nhưng không rõ bằng cách nào đội thắng các cầu thủ không nổi bật bằng lại thắng sát nút như vậy, quả rất mãn nhãn!

Tường Hân nói:

-Đội thua có người giữ cầu rất giỏi, nhưng các cầu thủ còn lại thường đứng quá xa nhau, khi bị đối phương vây ép thì không có người tiếp ứng. Đội thắng tuy không có một cá nhân quá xuất chúng, song mỗi người đều biết giữ vị trí, tiến lui có phép, một đội như thế mới đáng gọi là mạnh.

Ngô Vương khen:

-Công chúa nhìn người thật tinh tường. Nếu được làm tướng, hẳn cũng là người biết điều binh.

Tường Hân đáp:

-Thần nữ chỉ là nữ nhi chốn khuê phòng, chưa từng cầm quân. Nhưng đã sinh ra trong vương thất, nếu không hiểu chút ít việc nước, thì sau này lấy gì giúp phụ vương phân ưu?

Lời ấy khiến Ngô Vương càng thêm cảm phục. Ông vốn là người có tham vọng, lại thường tự cho mình hiểu rõ lòng người. Trong những cuộc bang giao, ông đã gặp không ít kẻ khéo ăn nói, nhưng phần nhiều chỉ biết tâng bốc hoặc dùng lời lẽ dò xét. Tường Hân thì khác, nàng không tâng bốc, cũng không vội tỏ ra thân thiết, mỗi câu đều có ý tứ, vừa đủ để người nghe hiểu rằng nàng có học thức, có chủ kiến, nhưng vẫn giữ lễ của một công chúa.

Ngô Vương bất giác hỏi:

-Công chúa thường quan tâm đến thế cuộc các nước như vậy, chẳng hay có nhận định gì về tình hình hiện nay?

Tường Hân đáp:

-Thần nữ không dám bàn việc lớn trước mặt Ngô Vương. Nhưng có một điều thần nữ vẫn nghĩ, các nước tranh nhau đất đai, binh mã, rốt cuộc cũng là để giữ lấy cơ nghiệp. Song cơ nghiệp ấy nếu được dựng bằng xương máu của bách tính, thì dù thành trì có rộng thêm mười dặm, kho lẫm có đầy thêm trăm vạn thạch, cũng chưa chắc đã là phúc của một nước.

Ngô Vương khẽ gật đầu:

-Công chúa cho rằng nước Lỗ nên làm thế nào trước thế cục này?

Tường Hân nói:

-Nước Lỗ nhỏ, không thể tùy tiện kết oán với nước lớn. Nhưng nếu chỉ biết cúi đầu cầu hòa, thì cũng khó giữ được xã tắc. Điều đáng quý nhất là biết lúc nào nên nhẫn, lúc nào phải giữ vững giới hạn. Một nước muốn tồn tại lâu dài, không thể chỉ trông vào lòng nhân của nước khác, càng không thể chỉ dựa vào một lời hứa giữa hai quân vương.

Ngô Vương hiểu Tường Hân không chỉ đang nói chuyện thiên hạ. Những lời ấy còn hàm ý về mối bang giao giữa Ngô và Lỗ. Nàng muốn nước Ngô trở thành chỗ dựa cho Lỗ, nhưng không hề van xin hay hạ mình, nàng đặt hai nước ngang hàng, lấy lợi ích lâu dài làm căn bản.

Ngô Vương càng thêm quý trọng. Ông nói:

-Công chúa tuổi còn trẻ mà đã có kiến giải như vậy, thật hiếm thấy. Nếu trong triều nước Lỗ cũng có nhiều người hiểu được đạo lý ấy, tất sẽ thịnh trị.

Tường Hân mỉm cười:

-Nước Lỗ hiền tài rất nhiều, thần nữ so với các đại thần nước Lỗ thì thua kém xa!

Ngô Vương bật cười, rồi cùng nàng tiếp tục đàm luận. Khi nói đến việc dùng người, nàng có thể dẫn chuyện xưa để luận việc nay, khi bàn đến lễ nghi bang giao, nàng lại phân biệt rõ danh phận và thực lợi. Nàng không tranh lời với Ngô Vương, nhưng cũng không vì thân phận đối phương mà thuận theo mọi ý kiến.

Từ đầu đến cuối, Ngô Vương gần như quên mất trận cầu đang diễn ra trước mắt.

Trên đài cao, Lỗ Vương thỉnh thoảng đưa mắt nhìn sang. Thấy Ngô Vương và Tường Hân chuyện trò vui vẻ, trong lòng ông không khỏi nhẹ nhõm. Ông biết nữ nhi mình đã hiểu đại sự, cũng biết nàng đang cố gắng vì nước Lỗ.

Ở bên kia, Ngô Vương cũng không giấu được vẻ hài lòng. Ông vốn đến Lỗ với ý định ngăn Soái tiến binh, đồng thời tìm cách giữ thế cân bằng giữa các nước. Nay gặp được Tường Hân, Ngô Vương lại càng thêm gần gũi, yêu mến đất Lỗ.

Đến khi buổi thi kết thúc, Lỗ Vương sai người bày tiệc mừng những đội cầu thủ đoạt giải. Ngô Vương nhân lúc mọi người nâng chén, quay sang nói với Lỗ Vương:

-Công chúa Tường Hân học thức uyên bác, lời nói tinh tế, lại hiểu việc nước. Ta hôm nay được trò chuyện cùng nàng, thật là một điều may mắn.

Lỗ Vương nghe vậy, trong lòng vui mừng, nhưng ngoài mặt vẫn giữ vẻ điềm nhiên, đáp:

-Tiểu nữ được Ngô Vương khen ngợi, ấy là phúc của nó. Nếu có điều gì thất lễ, mong Ngô Vương rộng lòng bỏ qua!

Ngô Vương lắc đầu:

-Công chúa không những chẳng thất lễ, mà còn khiến ta được mở mang nhiều điều.

Lỗ Vương nhìn Ngô Vương, biết rằng việc mình mong muốn đã có phần thuận lợi. Nhưng ông không vội đề cập đến hôn sự, chỉ nâng chén rượu, mời Ngô Vương cùng uống.

Tường Hân ngồi bên cạnh, vẫn giữ phong thái đoan trang. Nàng biết phụ vương đang gửi gắm hy vọng vào cuộc gặp này, cũng hiểu một lời nói của mình có thể ảnh hưởng đến vận mệnh nước Lỗ. Tuy vậy, trong lòng nàng vẫn có một điều chưa thể định đoạt, Ngô Vương là người có tài, nhưng liệu sau này ông có thật sự coi trọng nàng như một người tri kỷ, hay chỉ chú ý đến nàng nhân lúc rảnh rỗi, hay xem nàng là mối dây buộc chặt nước Lỗ vào nước Ngô? Trong đầu nàng chứa nhiều suy nghĩ sâu xa.

Còn Ngô Vương, sau buổi hội ấy, lòng đã nảy sinh thiện cảm sâu sắc với vị công chúa nước Lỗ. Ông bắt đầu mong những ngày lưu lại nơi đây không chỉ là thời gian chờ đợi chiến sự lắng xuống, mà còn là dịp để được gặp nàng thêm nhiều lần.

Sau đêm mật nghị với Bảo Nha, Quách Tuấn biết rằng kế sách đã có người trong triều Lỗ ngầm tiếp ứng. Việc còn lại là khiến thế tử Kha tự nguyện rời khỏi nước Lỗ, hơn nữa phải ra đi trong tâm thế hăm hở mưu đồ phục quốc, chứ không phải vì bị người khác xua đuổi.

Bởi vậy, ông không vội sai người đến gặp Kha ngay, ông hiểu kẻ như Kha vốn kiêu căng, đa nghi với người ngoài nhưng lại dễ xiêu lòng trước những lời tâng bốc. Nếu một người xa lạ bỗng dưng tỏ ra thân thiết, ắt khiến hắn sinh nghi. Muốn lấy được lòng tin của hắn, trước hết phải khiến cuộc gặp gỡ tưởng như chỉ là tình cờ, rồi để mọi chuyện thuận theo tính nết của chính hắn mà diễn ra.

Trong chuyến đi này, Quách Tuấn có đưa theo một mật thám tên là Tân Dũ. Người ấy không chỉ giỏi dò xét, ứng biến, mà còn có tài giả dạng đến mức xuất thần. Khi khoác lên mình một thân phận khác, từ dáng đi, giọng nói, ánh mắt đến từng cử chỉ nhỏ đều biến đổi, chẳng khác nào một con người hoàn toàn khác. Kẻ từng gặp Tân Dũ nhiều lần cũng khó lòng nhận ra đâu là bộ mặt thật của y.

Quách Tuấn giao cho Tân Dũ một thân phận, đó là thương nhân giàu có nước Cừ, gia thế hiển hách, có nhiều mối giao tình với các đại thần trong triều Cừ. Y mang theo đoàn tùy tùng, xe ngựa, hàng hóa quý hiếm, lại có đủ thư tín và vật chứng giả tạo để làm rõ lai lịch. Mỗi lời nói, mỗi món đồ đem ra đều được sắp đặt cẩn thận, không để người khác có cớ nghi ngờ.

Trước khi Tân Dũ lên đường, Quách Tuấn dặn dò:

-Thế tử Kha là người ham danh lợi, lại tự phụ hơn người. Ngươi chớ vội đem việc phục quốc ra nói, càng không được để lộ ý muốn lôi kéo hắn. Hãy làm một người bạn mà hắn muốn kết giao, chứ đừng làm một kẻ đang tìm cách lợi dụng hắn. Đến khi hắn tự mở lòng, ngươi hãy đưa con đường phục quốc ra trước mắt!

Tân Dũ cúi đầu lĩnh mệnh:

-Đại nhân cứ yên tâm. Thuộc hạ biết phải làm thế nào.

Chẳng bao lâu sau, trong thành Lỗ xuất hiện một thương nhân từ nước Cừ tên là Ngã Nam. Y tự xưng gia nghiệp nhiều đời buôn bán, có cửa hàng và điền trang ở các nơi, giao du rộng rãi với giới quyền quý nước Cừ. Lần này đến Lỗ, ngoài việc trao đổi hàng hóa, y còn muốn kết giao với các bậc vương công, đại phu để mở rộng đường làm ăn.

Tân Dũ không lập tức tìm đến phủ của vương thất Tùy. Y trước hết giao thiệp với một số quý tộc nước Lỗ, thường xuyên lui tới các buổi yến tiệc, khiến danh tiếng dần lan trong kinh thành. Những món hàng y đem theo đều là vật hiếm thấy, ngọc quý từ phương xa, lụa dệt tinh xảo, chim lạ, ngựa tốt và những món đồ thủ công mà ngay cả các nhà quyền quý cũng ít có dịp nhìn thấy.

Một hôm, trong buổi săn bắn do một vị đại phu nước Lỗ tổ chức, Tân Dũ tình cờ gặp thế tử Kha.

Khi ấy, Kha đang cùng mấy kẻ tùy tùng cưỡi ngựa săn thú. Dù đã mất nước, hắn vẫn giữ thói quen của một người từng sống trong nhung lụa, áo quần sang trọng, ngựa cưỡi quý hiếm, bên cạnh luôn có người hầu hạ. Tân Dũ vừa trông thấy liền nhận ra, nhưng không tỏ vẻ đặc biệt chú ý, chỉ đứng bên cạnh vị đại phu chủ nhà, cùng mọi người thưởng thức cuộc săn.

Đến khi một con hươu lớn bị dồn khỏi rừng, thế tử Kha thúc ngựa đuổi theo. Mũi tên đầu tiên của hắn trượt khỏi mục tiêu, con hươu lập tức lao về phía triền dốc. Tân Dũ đứng gần đó, liền lấy cung bắn một phát. Mũi tên cắm trúng thân hươu, khiến nó gục xuống ngay trước khi kịp chạy xa.

Tân Dũ xuống ngựa, sai gia nhân mang con hươu đến trước mặt Kha, chắp tay nói:

-Tại hạ chỉ tình cờ ra tay, chẳng dám nhận công. Mũi tên vừa rồi nếu không có ngài dồn ép con thú ra khỏi rừng, ta cũng khó lòng bắn trúng.

Kha nghe lời ấy, vẻ mặt lập tức vui lên. Hắn vốn đang khó chịu vì phát tên hụt, nay được người khác nhường công, trong lòng không khỏi vừa ý.

-Ngươi là ai, sao ta chưa từng gặp?

Tân Dũ đáp:

-Tại hạ là thương nhân nước Cừ, họ Ngã, tên Nam. Gia nghiệp ở phương bắc, lần này đến Lỗ buôn bán, may mắn được các đại thần nước Lỗ mời cùng săn bắn.

Kha nhìn y từ đầu đến chân, thấy ăn mặc sang trọng, gia nhân đông đúc, lại có vẻ am hiểu cung mã, bèn hỏi thêm vài câu. Tân Dũ đáp lời vừa phải, không khoe khoang quá mức, cũng không tỏ ra khúm núm. Trước khi chia tay, y còn sai người đem tặng Kha một con ngựa quý, nói rằng đó chỉ là chút lễ mọn để tạ cuộc gặp gỡ.

Thế tử Kha nhận lấy, trong lòng rất đỗi hài lòng.

Từ hôm ấy, Tân Dũ thường tìm cớ đến thăm Kha. Khi thì đem đến một thanh bảo kiếm có khảm ngọc, khi lại tặng một chiếc cung tốt hoặc vài món đồ quý hiếm. Mỗi lần gặp, y đều biết lựa lời chuyện trò, lúc bàn về săn bắn, lúc nói về ngựa tốt, khi lại kể chuyện phong thổ nước Cừ. Tân Dũ không bao giờ tỏ vẻ thương hại cảnh ngộ lưu vong của Kha, trái lại vẫn đối đãi với hắn như một vị thế tử đang nắm trong tay cơ nghiệp lớn. Chính điều ấy khiến Kha càng thêm quý mến.

Hai người dần trở nên thân thiết, Tân Dũ thường cùng Kha ra ngoại thành săn bắn, có lúc ở lại uống rượu đến khuya. Y biết khi nào nên nói, khi nào nên im lặng, biết lúc nào phải phụ họa, lúc nào cần tỏ vẻ bất bình thay cho Kha. Mọi việc diễn ra tự nhiên đến mức ngay cả những kẻ hầu cận bên cạnh Thế tử cũng không nhận thấy điều gì khác thường.

Có lần, trong một buổi tiệc rượu, khi đã ngà say, Kha than rằng từ ngày mất nước, mọi người đều đối đãi với mình bằng vẻ ngoài cung kính nhưng trong lòng chẳng còn coi trọng, chỉ riêng Tân Dũ thì khác, hắn rất quý y. Tân Dũ nghe xong, lập tức đặt chén xuống, nói:

-Thế tử chớ nên buồn, người đời thường nhìn vào thế lực trước mắt mà định đoạt sự tôn kính. Hôm nay họ thấy Tùy đã mất nên không còn giữ lễ như xưa, nhưng nếu một ngày Thế tử lấy lại cơ nghiệp, những kẻ ấy ắt lại tìm đến cúi đầu.

Kha nghe vậy, sắc mặt dịu đi, nói:

-Ngươi nói đúng! Tùy mất chẳng qua là nhất thời thất thế, bổn Thế tử vốn có tài, chỉ tiếc trong triều trước kia bị đám gian thần che mắt phụ vương, khiến cơ nghiệp tổ tiên suy vong. Nếu được trao lại binh quyền, ta nhất định sẽ khiến thiên hạ phải nhìn bằng con mắt khác.

Tân Dũ lập tức nâng chén, chúc:

-Tại hạ tin rằng ngày ấy không còn xa!

Qua nhiều lần qua lại, Tân Dũ nhận thấy thế tử Kha đã hoàn toàn xem mình là người thân cận. Bấy giờ, y mới bắt đầu hé lộ tâm tư thật sự của nhân vật mà mình đang đóng vai.

Hôm ấy, hai người vừa đi săn trở về, ngồi uống rượu trong một biệt viện ngoài thành. Gia nhân được sai lui hết, chỉ còn hai người bên bàn tiệc. Rượu đã qua vài tuần, Tân Dũ bỗng đặt chén xuống, thở dài.

Kha thấy lạ, liền hỏi:

-Huynh có điều gì phiền muộn chăng? Từ trước đến nay ta chưa từng thấy huynh buồn bã như vậy.

Tân Dũ nhìn ra ngoài cửa sổ, chậm rãi đáp:

-Thế tử có điều chưa biết, ta tuy có gia sản, đi đến đâu cũng được người đời kính trọng, nhưng trong lòng vẫn có một mối tiếc nuối.

Kha hỏi:

-Là chuyện gì?

Tân Dũ đáp:

-Có tiền chưa chắc đã có quyền! Ta làm ăn nhiều năm, tích góp được của cải, nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là một thương nhân. Gặp các đại thần nước Cừ, ta phải dùng lễ mà tiếp đãi, muốn bàn việc triều chính, lại chẳng có tư cách xen lời. Ta muốn làm một việc lớn hơn, muốn đứng trong triều, giúp quân vương định đoạt chính sự, trở thành Tướng quốc, dưới một người mà trên muôn người. Nhưng nước Cừ đất rộng, nhân tài đông đảo, trong triều lại có nhiều đại thần đức cao vọng trọng. Một thương nhân như ta, dù có bạc vàng đầy kho, cũng khó chen chân vào hàng ngũ ấy.

Kha nghe đến đây, bất giác ngồi thẳng người, hỏi:

-Vậy huynh muốn làm quan?

Tân Dũ đáp:

-Không chỉ là làm quan, ta muốn có quyền thế thực sự, muốn đem tài trí của mình thi thố giữa thiên hạ. Nhưng ở nước Cừ, con đường ấy đã bị những dòng họ thế gia chiếm giữ. Dẫu ta có bỏ ra bao nhiêu vàng bạc, cũng chẳng đổi được một chức vị xứng đáng.

Y nói đến đó, lại tự rót một chén rượu, uống cạn rồi mới tiếp:

-Gần đây, ta nghe chuyện vương thất Tùy lưu lạc đến Lỗ. Nghĩ đi nghĩ lại, ta cho rằng đây chính là cơ hội hiếm có!

Kha hỏi:

-Cơ hội như thế nào?

Tân Dũ nhìn thẳng vào hắn, giọng nói trở nên tha thiết:

-Thế tử vốn là người kế thừa chính thống của nước Tùy, tuy nay cơ nghiệp đã mất, nhưng danh phận vẫn còn, lòng người cũ chưa chắc đã tuyệt. Nếu Thế tử cứ ở mãi đất Lỗ, ngày ngày nhận sự cung phụng của người khác, thì lấy đâu ra cơ hội dựng lại cơ đồ? Chi bằng nhân lúc này, tìm một nơi có thể âm thầm gây dựng lực lượng. Nước Cừ đất rộng, dân đông, lại có nhiều đường giao thương. Ta tuy không thể tiến thân trong triều, nhưng vẫn có những mối giao tình với các đại thần, đủ để tìm nơi dung thân và che chở cho Thế tử!

Kha chăm chú lắng nghe, ánh mắt dần sáng lên.

Tân Dũ tiếp tục:

-Nếu Thế tử bằng lòng, ta nguyện theo phò tá. Tiền bạc trong nhà, thế tử có thể tùy ý sử dụng. Ta sẽ lo liệu nơi ăn chốn ở, cung cấp lương thảo, mua sắm binh khí, tìm kiếm những người còn trung thành với Tùy để cùng Thế tử gây dựng quân đội. Những mối quan hệ của ta ở nước Cừ cũng có thể giúp thế tử tránh khỏi sự dò xét của triều đình, ít nhất là trong thời gian đầu. Đợi khi lực lượng đã thành, ta sẽ tìm cách đưa thế tử kết giao với những người có thế lực, từng bước mưu việc phục quốc.

Kha nghe từng lời, trong lòng như có ngọn lửa bừng lên. Từ ngày chạy sang Lỗ, hắn vẫn luôn nghĩ đến việc lấy lại ngôi báu thuở trước, nhưng trước mắt chẳng có binh mã, không có tiền của, cũng không biết phải bắt đầu từ đâu. Lỗ Vương tuy tiếp đãi hậu hĩnh, song đó chỉ là sự cưu mang của một nước khác. Hắn không thể tùy tiện chiêu binh, càng không có cách nào tự mình gây dựng thế lực ngay trên đất Lỗ.

Nay Tân Dũ chẳng những có tiền, lại còn có quan hệ với giới quyền quý nước Cừ. Đối với Kha, đây chẳng khác nào người đang đi trong đêm tối bỗng trông thấy một ngọn đèn dẫn lối.

Hắn lập tức nắm lấy tay Tân Dũ, nói:

-Lời huynh nói quả thật hợp ý ta! Ta ở Lỗ đã lâu, ngày nào cũng chỉ quanh quẩn trong phủ, nhìn cảnh cơ nghiệp tổ tiên tan thành mây khói mà lòng như lửa đốt. Nếu có thể sang Cừ, dựa vào tài lực và các mối quan hệ của huynh để gây dựng binh mã, thì chẳng phải đã có nền móng phục quốc hay sao?

Tân Dũ tỏ vẻ xúc động, nhưng vẫn làm ra vẻ do dự:

-Chỉ sợ Thế tử không tin ta, ta với thế tử quen biết chưa lâu, nay lại nói đến chuyện lớn như vậy, quả thực có phần đường đột.

Kha cười lớn:

-Ta đã xem huynh như người thân cận. Huynh có lòng giúp ta, ta há lại nghi ngờ? Hơn nữa, nếu đại nghiệp thành công, ta tuyệt đối không để huynh chịu thiệt!

Tân Dũ nghe vậy, bèn đứng dậy, sửa lại y phục rồi chắp tay nói:

-Thế tử đã có lòng tin, Tân Dũ nguyện cùng thế tử kết nghĩa huynh đệ. Từ nay về sau, nếu có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia, nguyện chết cùng ngày, cùng tháng, không phụ tình nghĩa hôm nay.

Kha nghe xong, vô cùng vui vẻ. Hắn cũng đứng dậy, nắm tay Tân Dũ mà đáp:

-Được! Ta với huynh hôm nay kết nghĩa, sau này chẳng còn phân biệt người ngoài kẻ trong. Nếu có ngày ta phục quốc, nắm lại quyền bính, chiếc ghế Tướng quốc nhất định thuộc về huynh. Ta sẽ cho huynh dưới một người, trên vạn người, để tài năng của huynh được thi thố giữa thiên hạ.

Tân Dũ lập tức quỳ xuống hành lễ:

-Xin ghi nhớ lời Thế tử! Chỉ mong ngày ấy sớm đến, để chúng ta cùng làm nên nghiệp lớn!

Kha cũng quỳ xuống đáp lễ. Hai người nâng chén thề nguyền, uống cạn rượu kết nghĩa.

Đêm ấy, tiệc rượu kéo dài đến tận canh khuya. Thế tử Kha càng uống càng hăng, liên tục nói về ngày trở lại kinh đô Tùy, về việc thu phục cựu thần, chiêu mộ tướng sĩ, rồi từng bước lấy lại những vùng đất đã mất. Tân Dũ chỉ ngồi bên cạnh lắng nghe, thỉnh thoảng thêm vài lời tán đồng, khiến Kha càng tin rằng mình đã tìm được một người đồng chí hướng.

Trong khi ấy, Tân Dũ vẫn giữ vẻ chân thành như lúc mới gặp. Y không hề tỏ ra vội vã, cũng chẳng nhắc đến chuyện phải lập tức rời khỏi Lỗ. Y hiểu rằng việc lớn đã có khởi đầu, nhưng muốn đưa Kha ra khỏi đất Lỗ, còn phải khiến hắn tự mình tin rằng không thể tiếp tục lưu lại nơi đây.

Sau buổi kết nghĩa, Tân Dũ sai gia nhân đưa thêm vàng bạc, lụa quý và những vật dụng cần thiết đến phủ Thế tử. Kha nhận lấy, chẳng những không nghi ngờ mà còn càng thêm kính trọng vị nghĩa huynh giàu có này.

Hắn bắt đầu thường xuyên bàn với Tân Dũ về kế hoạch sang Cừ. Có khi hỏi nên thu nhận bao nhiêu người, có khi hỏi cần chuẩn bị bao nhiêu lương thảo, lại có khi bàn đến việc tìm những cựu thần Tùy đang lưu lạc khắp nơi. Tân Dũ đều kiên nhẫn đáp lời, nhưng luôn nhấn mạnh rằng việc ấy phải tiến hành kín đáo, không được để người ngoài hay biết trước khi mọi thứ đã sẵn sàng.

Kha nghe theo, càng cảm thấy nghĩa huynh là người thận trọng, có thể phó thác đại sự.

Điều đáng nói là từ đầu đến cuối, hắn không hề đem chuyện này hỏi ý Tùy Vương. Trong mắt Kha, phụ vương đã già yếu, mất nước lại mất cả quyền thế, nay chỉ biết dựa vào lòng nhân của Lỗ Vương mà sống qua ngày. Nếu mọi việc đều phải chờ phụ vương quyết định, thì chẳng biết đến bao giờ mới có thể phục quốc.

Hắn cho rằng mình là người kế thừa chính thống, mọi việc liên quan đến tương lai nước Tùy đều nên do mình định đoạt.

Còn ở một nơi khác trong kinh thành, Quách Tuấn nhận được mật báo của Tân Dũ. Đọc xong, ông chỉ khẽ gật đầu, không lộ vẻ vui mừng quá mức.

Bảo Nha hỏi:

-Thừa tướng, kế đã thành, có nên thúc giục Tân Dũ sớm đưa thế tử Kha rời khỏi Lỗ chăng?

Quách Tuấn đặt thư xuống, đáp:

-Chưa đến lúc, kẻ vừa thấy hy vọng thường dễ sinh nóng vội. Nhưng nếu thúc ép quá nhanh, hắn sẽ sinh nghi. Hãy để hắn tự nghĩ đến chuyện ra đi, tự cho rằng ở lại Lỗ chỉ làm lỡ mất cơ nghiệp. Khi ấy, dù chẳng có ai khuyên bảo, hắn cũng sẽ tìm đến Tân Dũ mà đòi khởi hành.

Bảo Nha khen:

-Quách công liệu việc thật sâu xa!
 
Back
Top