Dã sử Tĩnh Hải Loạn Lạc

Bạn thích nước nào nhất?

  • 1. Ngô

    Bình chọn: 1 20.0%
  • 2. Soái

    Bình chọn: 0 0.0%
  • 3. Vệ

    Bình chọn: 4 80.0%

  • Số thành viên bình chọn
    5
Chương 90: Thương Cường một mình đối đáp văn võ bá quan nước Soái

c90.png


Thương Cường chậm rãi bước tới trước sảnh điện, quỳ xuống thưa:

-Thảo dân Thương Cường, bái kiến Soái Vương!

Soái Vương nhìn Thương Cường, cảm thấy rất quen thuộc với người này, dường như đã gặp ở đâu rồi. Soái Vương hỏi:

-Ngươi tới từ đâu?

Thương Cường đáp:

-Thảo dân đến từ huyện Lạc Xuyên!

Soái Vương hỏi tiếp:

-Lạc Xương xa như vậy, ngươi đi bằng gì tới?

Thương Cường đáp:

-Thảo dân cuốc bộ tới!

Soái Vương hỏi tiếp:

-Đường xá xa xôi như vậy, vì cớ gì mà ngươi phải tới kinh thành cho bằng được?

Thương Cường thuật lại chuyện rương gỗ ở Lạc Xuyên, các quan xung quanh đều xì xào bàn tán, cho rằng Thương Cường là kẻ bịa chuyện. Thế nhưng Thương Cường không hề nao núng, nét mặt vẫn cương nghị, hướng về phía Soái Vương.

Đang lúc các quan đang ồn ào, Nguyên Hà nói lớn:

-Các ngươi đã quên câu chuyện Tiểu Đồng rồi sao, chớ nên khinh thường người khác vội rồi chuốc lấy xấu hổ!

Các quan nghe thế cũng không dám bàn tán nữa. Soái Vương nghe câu chuyện của Thương Cường thì không những tin, mà còn thấy tâm đắc, vì câu chuyện đó rất tương đồng với giấc mơ của Soái Vương. Soái Vương nói:

-Ngươi có đem theo vật ấy đi chăng?

Thương Cường gật đầu, rồi lôi trong áo ra một cuộn lụa vàng đã ngả màu và tấm thẻ ngọc dâng lên. Soái Vương nhìn ngắm một lúc, đưa cho Nguyên Hà, hỏi:

-Vật này ta nhìn rất quen, khanh nhìn có ra chăng?

Nguyên Hà nhìn rất kỹ, nói:

-Theo trí nhớ của thần thì đây rất giống đồ vật của hoàng thất họ Lữ khi xưa. Chất liệu này, không thể nhầm lẫn được!

Soái Vương lúc bấy giờ càng tin tưởng Thương Cường hơn, nói:

-Nếu ngươi đã được duyên phận đưa đẩy như vậy, thì ta tất phải sẵn lòng giang tay thâu nạp ngươi về trướng.

Thương Cường mừng:

-Đa tạ Soái Vương đã tin tưởng!

Soái Vương nói tiếp:

-Theo quy chế nước Soái, người mới gia nhập triều đình phải đi lên từ chức quan nhỏ nhất, sau đó tùy theo năng lực, thâm niên mà xét thêm chức bậc. Nhưng với một kẻ không tầm thường như ngươi, theo lộ trình đó thì quá mất thời gian, ta không có kiên nhẫn để chờ đợi. Ngày nay nước Vệ bành trướng, liên minh phía bắc cậy đông hiếp yếu, nước Soái ta đang rơi vào một trạng thái rất cấp bách, tuyệt đối không được chậm trễ một ngày tháng nào.

Nguyên Hà hỏi:

-Vậy ý chúa công là ...?

Soái Vương đáp:

-Ta là người thích đi thẳng vào vấn đề, không thích vòng vo, ta sẽ hỏi ngươi một câu mà nước Soái bây giờ cần nhất. Nếu trả lời được, thuyết phục được các quan đứng đây, ta sẽ lập tức phong ngươi làm Quốc sư, bổng lộc trên vạn người.

Thương Cường đáp:

-Xin Soái Vương cứ hỏi!

Soái Vương đáp:

-Nước Soái ta đất không nhỏ, dân không ít, binh lực mạnh nhưng đối đầu với Vệ, Cừ, Trịnh đều không nắm chắc năm phần thắng. Mấy năm nay nước Soái đã dần chậm lại, không có mấy đột phá, đã thế lại còn bị tứ phương cô lập, ta ngày nào cũng trăn trở suy nghĩ mà chưa ra kế sách vẹn toàn. Nay nếu ngươi trả lời được điều này, giúp Soái trong ba năm tới phát triển cực thịnh, binh lực đủ trấn áp ngoại bang, mở rộng lãnh thổ, tài nguyên dồi dào, các nước nhìn vào đều phải lo sợ, thì ta lấy làm mừng lắm.

Cả điện yên lặng, lắng nghe Thương Cường sẽ trả lời câu hỏi hóc búa này như thế nào.

Thương Cường nói:

-Trước khi thảo dân trả lời câu hỏi này, thì xin hỏi Soái Vương một câu trước!

Soái Vương đáp:

-Được, hỏi đi!

Thương Cường hỏi:

-Soái Vương hỏi làm sao để ba năm cường thịnh, thảo dân xin hỏi lại một câu, ngài muốn một nước mạnh, hay là binh lực mạnh?

Soái Vương hơi nhíu mày:

-Có gì khác?

Thương Cường đáp:

-Khác như trời với đất, quân mạnh mà nước yếu thì đánh được một trận, nước mạnh thì đánh được mười trận. Quân mạnh mà luật yếu, lương yếu, dân nghèo, quan tham thì thắng một trận rồi kiệt sức. Nước mạnh thì dù thua một trận vẫn có thể đánh tiếp mười năm.

Soái Vương gật đầu ra hiệu đồng tình. Thương Cường nhìn quanh văn võ bá quan, nói tiếp:

-Điều nước Soái thiếu, không phải binh, điều nước Soái thiếu là thế!

Một vị Thượng đại phu cười nhạt:

-Thế là gì?

Thương Cường đáp:

-Là cái khiến một vạn người phát huy sức của mười vạn.

-Là cái khiến nước nhỏ cũng khiến nước lớn không dám khinh.

-Là cái khiến dân tự nguyện làm giàu cho quốc gia, tướng tự nguyện liều chết vì quân công, quan lại không dám tham ô vì luật pháp.

-Muốn có cái thế ấy, phải bắt đầu bằng việc phá bỏ bốn căn bệnh của nước Soái.

Soái Vương chống tay lên long án:

-Bốn căn bệnh?

Thương Cường đáp:

-Thứ nhất, người có công hưởng ít, kẻ vô công hưởng nhiều.

-Thứ hai, pháp lệnh nhiều nhưng không ai thật sự sợ, mà chỉ chê bai sau lưng.

-Thứ ba, quan lại chỉ lo giữ ghế chứ không lo làm việc.

-Thứ tư, dân giàu vì buôn bán, đầu cơ nhiều hơn sản xuất.

-Chỉ cần bốn bệnh này còn tồn tại, dù Soái Vương có thêm mười vạn quân, nước Soái cũng chỉ là con hổ béo mà răng đã cùn.

Trong điện lập tức xôn xao, một vị Quốc cữu hỏi Thương Cường:

-Ngươi nói nghe dễ, nhưng sửa cả quốc gia trong ba năm chẳng khác nào dời núi lấp biển!

Thương Cường cười:

-Dời núi thì khó, nhưng đổi hướng dòng nước thì dễ hơn nhiều. Tại hạ không thay đổi lòng người, tại hạ chỉ cần thay đổi lợi ích của con người. Con người không phải là thần tiên, họ chỉ luôn hướng về nơi có lợi. Một nước kém là nước để lợi ích đối nghịch với nước. Một nước sáng suốt là nước khiến người dân muốn giàu thì phải làm nước giàu trước.

Quan Bộ hộ bước ra hỏi:

-Nếu trọng nông, trọng quân như lời ngươi, thương nghiệp sẽ suy yếu, quốc khố lấy gì mà giàu?

Thương Cường đáp:

-Đại nhân sai rồi, quốc khố giàu vì giá trị được tạo ra, không phải vì đồng tiền đổi từ tay người này sang tay người khác. Một trăm thương nhân bán đi bán lại một đấu gạo, nước vẫn chỉ có một đấu gạo. Nhưng nếu một nông dân khai thêm một mẫu ruộng, đất nước sẽ có thêm một mẫu ruộng mãi mãi. Cái gì sinh ra của cải thì thưởng, cái gì chỉ chuyển của cải thì quản, cái gì hút máu đất nước thì diệt.

Các quan nghe Thương Cường đáp trôi chảy như dòng thác, không phản biện được gì. Một vị võ tướng hỏi:

-Muốn ba năm binh lực áp đảo Vệ, Cừ, Trịnh là chuyện không tưởng, ngươi lấy gì mà nói đây!

Thương Cường đáp:

-Tại hạ chưa từng nói ba năm luyện ra thiên hạ vô địch, tại hạ nói nói ba năm khiến quốc lực vượt xa hiện tại. Tướng quân nghĩ binh lực chỉ là số lính, tại hạ lại nghĩ rằng, một người đánh bằng hai, hai người đánh bằng năm, năm người đánh bằng mười, điều ấy không nằm ở cơ bắp, mà nằm ở phép nước.

Thương Cường quay sang hỏi những vị võ tướng còn lại:

-Xin hỏi, hai đội quân cùng một vạn người, một bên lập công được phong đất, một bên chỉ được thưởng vàng bạc và mấy câu khen thưởng, bên nào xông trước?

Vị võ tướng đáp:

-Đương nhiên là phong đất!

Thương Cường hỏi tiếp:

-Một bên bỏ chạy bị chém, một bên bỏ chạy bị phạt, bên nào giữ được trận?

Nhiều vị tướng cùng đồng thanh:

-Đương nhiên bên bị chém!

Thương Cường hỏi tiếp:

-Hai đội quân, một bên quân lương đầy đủ, một bên quan quân ăn chặn ba phần, bên nào thắng?

Các vị tướng đều hiểu ý của Thương Cường, không phản bác gì thêm. Một lão thần phản bác:

-Ngươi nói thưởng phạt nghiêm, nhưng pháp quá nghiêm thì dân oán!

Thương Cường đáp:

-Dân không sợ pháp nghiêm, dân chỉ sợ pháp không công bằng! Trộm cắp vì đói và tham quan ăn cả kho lương, nếu đều được tha, dân sẽ oán, nếu đều bị trừng trị, dân sẽ phục. Nếu dân thường bị chém, quý tộc thì vô sự, pháp luật ấy không phải pháp, chỉ là roi đánh kẻ yếu.

Một người thuộc quý tộc nói:

-Theo lời ngươi, con cháu công thần chẳng còn đặc quyền?

Thương Cường không chút do dự:

-Công của tổ tiên nên ghi vào sử, không nên ghi vào bổng lộc của mười đời con cháu. Nếu cha ông cứu nước, tại hạ kính. Nếu con cháu ông chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, tại hạ khinh. Đất nước thưởng công, không thưởng huyết thống.

Một vị quý tộc khác nói:

-Nếu quý tộc phản đối cải cách thì sao?

Thương Cường cười nhạt, hỏi ngược:

-Nước tồn tại vì quý tộc, hay quý tộc tồn tại nhờ nước? Nước còn, quý tộc còn, nước mất, quý tộc cũng chết hoặc làm tù binh cho nước khác. Cho nên, người phản đối cải cách không phải vì yêu nước, mà vì sợ mất lợi!

Đám người quý tộc tức Thương Cường lắm, nhưng không sao phản biện được.

Một vị học sĩ hỏi:

-Nếu các nước biết Soái cải cách, thừa lúc chưa mạnh sẽ hợp binh đánh trước?

Thương Cường đáp:

-Vậy càng phải cải cách, nước yếu, dù không cải cách họ cũng sẽ đánh. Nước đang mạnh lên, họ muốn đánh cũng phải cân nhắc. Điều khiến chư hầu sợ nhất không phải nước Soái hôm nay, mà là nước Soái của ba năm sau.

Soái Vương hỏi:

-Ba năm đó, ngươi dự định làm những gì?

Thương Cường giơ ba ngón tay:

-Năm đầu, đổi pháp, sửa hộ tịch, chia lại thuế, thưởng quân công, trị tham quan, khai hoang rượng đất.

-Năm hai, giàu dân, kho lương đầy, đường sá thông, xưởng rèn mở, quân dự bị luyện tập.

-Năm ba, cường binh, lấy quân công định tước, tổ chức quân theo chiến lực, đánh một trận nhỏ để lập uy, khiến thiên hạ biết nước Soái đã đổi khác.

Nguyên Hà hỏi:

-Nếu thất bại thì sao?

Thương Cường đáp:

-Tại hạ không sợ thất bại, chỉ sợ không dám thay đổi. Một nước suy yếu không chết vì thua một trận, mà chết vì thắng được hôm nay rồi vẫn dùng phép của hôm qua.

Thương Cường bước lên một bước, giọng vang khắp đại điện:

-Thảo dân dám nói một câu, thiên hạ không có nước yếu, chỉ có phép trị yếu. Phép trị mạnh thì dân mạnh, dân mạnh thì nước mạnh, nước mạnh thì binh mạnh, binh mạnh thì chư hầu tất phải cúi đầu. Đây không phải đạo lý thảo dân tự nghĩ ra, mà đó là đạo lý của thiên hạ từ xưa tới nay.

Trong đại điện, văn võ bá quan nhìn nhau rất lâu mà không ai tìm được lời phản bác. Soái Vương từ từ đứng dậy, ánh mắt sáng rực, nói lớn:

-Hay!!! Ta hỏi khắp triều đình suốt mấy năm, chưa ai khiến ta hiểu vì sao nước Soái mãi không thể tiến thêm một bước. Hôm nay nghe ngươi một buổi, chẳng khác nào người đang đi trong sương mù bỗng nhìn thấy con đường trước mặt. Từ hôm nay, Quốc sư mới của nước Soái đã có người lĩnh trách nhiệm, mọi việc cải pháp, cường binh, phú quốc đều do Thương Cường chủ trì.

Toàn điện đồng thanh:

-Tuân mệnh!!!

Và đó là sự kiện phong chức nhanh nhất trong lịch sử, một người thường dân áo vải không có tiền đồ, danh vọng, quan hệ một bước lĩnh chức Quốc sư nước Soái chỉ trong vòng hơn một canh giờ. Người đời có câu ca dao về tích này như sau:

"Áo nâu chẳng gấm chẳng vàng,
Tay không một mảnh, dọc ngang một mình.
Không nhờ thế tộc hiển vinh,
Chẳng mang tiền bạc, kết tình quyền môn.

Một thân bước giữa triều tôn,
Đối cùng bá quan, luận nguồn trị an.
Việc binh, việc nước, việc dân,
Nói đâu thấu đó, muôn phần đều xuôi.

Người thì hỏi khó trăm lời,
Người đem cổ lễ, người thời viện kinh.
Thương Cường đối đáp phân minh,
Lời như mũi kiếm, lý tình như gương.

Một câu mở lối cường cương,
Mười câu định kế, biên cương vững bền.
Soái Vương nghe đến ngồi yên,
Long nhan rạng rỡ, lòng liền mừng thay.

Chưa qua một buổi nắng gay,
Chưa tròn một khắc đổi thay triều đường.
Hơn canh giờ đã tuyên chương,
Ban phong Quốc sư, bốn phương sửng người.

Xưa nay sách sử bao đời,
Chưa ai đắc chức, chóng thời đến thế.
Không nhờ vàng bạc nâng đỡ,
Chỉ nhờ tài trí, phép tề nước non."


Nguyên Hà hôm nay vô cùng nể phục Thương Cường, sau buổi thiết triều, Nguyên Hà tới chỗ Thương Cường, nói:

-Hôm nay những lời của Quốc sư như sấm đánh ngang tai, ta như được khai sáng!

Thương Cường đáp:

-Ngài đã quá lời! Ta đã đọc rất nhiều về Thừa tướng, trong lòng ngưỡng mộ từ lâu!

Nguyên Hà cười:

-Quả không dám! Nếu tối nay Quốc sư không bận việc gì, ta mạn phép mời Quốc sư tới phủ dùng bữa, coi như hai vị đại thần làm quen trước với nhau, ngài thấy thế nào?

Thương Cường đáp:

-Ý của Thừa tướng rất hay, thật là vinh dự cho ta lắm!

Tối ấy, phủ Thừa tướng không bày yến tiệc linh đình, chỉ một bàn rượu, vài món ăn quê, một bếp than hồng cùng tiếng gió đêm khẽ lùa qua hàng trúc ngoài sân.

Nguyên Hà tự tay nâng chén rượu, đứng dậy mờiThương Cường.

-Chén rượu này, ta kính Quốc sư!

Thương Cường cũng đứng lên, nói:

-Thừa tướng quá lời, mời!

Nguyên Hà uống cạn chén, nói tiếp:

-Hôm nay ở đại điện, ta vốn định đứng ra phản bác Quốc sư vài câu. Nhưng càng nghe, ta càng thấy những điều mình định nói đều đã được ngài nghĩ tới từ trước. Câu nào cũng có lý, việc nào cũng có kế, ngay cả những điều ta lo ngại nhất, ngài cũng đã chuẩn bị lời giải. Đến cuối cùng, ta mới hiểu vì sao chúa công lại quyết đoán phong Quốc sư ngay tại điện.

Nguyên Hà rót thêm rượu.

-Thú thật, làm Thừa tướng đã nhiều năm, từng gặp rất nhiều người tài, có người giỏi thao lược, có người giỏi trị dân, có người giỏi ngoại giao, có người giỏi tính toán. Nhưng người có thể dùng một đạo lý để nối liền cả quân sự, chính trị, kinh tế và lòng người, hôm nay là lần đầu tiên ta gặp.

Thương Cường khẽ cúi đầu.

-Thừa tướng quá khen.

Nguyên Hà đặt chén xuống, giọng nói cũng trở nên chậm rãi hơn.

-Không phải ta quá khen, mà là nói thật.

Nguyên Hà nhìn về khoảng sân ngoài cửa sổ,

-Ta sinh ra trên đất Soái, lớn lên nhờ lúa gạo nước Soái, làm quan hưởng bổng lộc của Soái, đến hôm nay tóc đã điểm bạc. Cả đời này, ta chưa từng nghĩ đến việc làm sao để con cháu mình giàu hơn, điều ta nghĩ nhiều nhất, ấy chính là làm sao để nước Soái mạnh hơn.

Trong ánh nến lay động, gương mặt vị Thừa tướng hiện lên đầy chân thành. Ông quay sang Thương Cường, ánh mắt ánh lên niềm hy vọng hiếm thấy.

-Hôm nay, sau khi nghe ngài nói ở đại điện, ta bỗng cảm thấy ngày ấy không còn quá xa, ngày nước Soái làm bá chủ Tĩnh Hải quân.

Thương Cường lặng thinh, ngồi yên lặng nghe vị đại thần nước Soái giãi bày tấm lòng.

Nguyên Hà lại rót đầy hai chén rượu, ông nâng chén bằng hai tay, nói

-Quốc sư, ta già rồi, có lẽ không còn đủ sức để nhìn thấy thiên hạ thống nhất. Nhưng nếu trong quãng đời còn lại, ta có thể cùng ngài đặt một viên gạch đầu tiên cho bá nghiệp nước Soái, thì dù sau này nhắm mắt, ta cũng không còn điều gì hối tiếc.

Thương Cường cũng đứng dậy, nâng chén đáp lễ.

-Thừa tướng là trụ cột của triều đình, tại hạ chỉ là người mới nhận trọng trách. Ngày sau còn rất nhiều điều phải học hỏi từ ngài.

Nguyên Hà cười lớn:

-Học hỏi thì cùng học, gánh vác thì cùng gánh, tranh luận thì cứ tranh luận. Nhưng có một điều, ta mong Quốc sư hãy ghi nhớ. Đừng bao giờ vì quyền thế mà quên lời hôm nay ngài nói trước đại điện. Đừng vì lợi ích trước mắt mà đánh mất cái lợi trăm năm. Đừng để chức vị Quốc sư trở thành chiếc ghế để ngồi. Hãy biến nó thành thanh kiếm để mở đường cho nước Soái, ta sẽ ở phía sau ủng hộ ngài. Còn nếu có một ngày cả triều đình quay lưng với ngài, chỉ cần điều ngài làm thực sự vì xã tắc, thì Nguyên Hà này vẫn sẽ đứng bên cạnh.

Thương Cường im lặng giây lát rồi chắp tay thật sâu.

-Tại hạ xin ghi khắc từng lời!

Nguyên Hà mỉm cười, giơ cao chén rượu.

-Vậy chén rượu này, không phải kính Thừa tướng, không phải kính Quốc sư, mà kính nước Soái, kính chúa công đã có mắt nhìn người, kính trăm họ đang gửi gắm hy vọng.

Hai người cùng nâng chén, ánh rượu sóng sánh dưới ánh nến, phản chiếu như một lời thề không cần viết thành văn tự. Từ tối ấy, Thừa tướng Nguyên Hà và Quốc sư Thương Cường không chỉ là hai đại thần cùng chầu một triều, mà trở thành hai cánh tay đắc lực của Soái Vương, cùng chung một chí hướng, gây dựng bá nghiệp, làm cho nước Soái hùng cường, để không phụ lòng quân vương và muôn dân đang gửi trọn niềm tin vào họ.
 
Sửa lần cuối:
Chương 91: Thương Cường bắt tay vào cải cách, nước Soái dần chuyển mình

c91.png


Chỉ vài ngày sau khi được Soái Vương sắc phong Quốc sư, Thương Cường không mở yến tiệc mừng nhậm chức, cũng không nhận lời chúc tụng của các quan. Thương Cường mặc triều phục đến chính điện từ lúc trời còn chưa sáng, xin Soái Vương ban cho mình một đạo kim bài cùng toàn quyền thi hành cải pháp trong phạm vi pháp luật đã được nhà vua chuẩn tấu.

Soái Vương nói với Thương Cường:

-Ta đã giao cho khanh thì sẽ không nghi khanh, chỉ cần việc gì lợi cho nước Soái, cứ làm!

Ngay ngày hôm đó, hơn bốn mươi đạo lệnh cải cách được niêm yết tại cổng thành, nha môn các quận huyện và mọi chợ lớn trong nước Soái. Điều lạ là những đạo lệnh ấy không hề dài dòng, mỗi điều luật chỉ vỏn vẹn vài hàng chữ, rõ ràng đến mức một người dân vừa học chữ cũng có thể hiểu. Thưởng ai, phạt ai, vì sao thưởng, vì sao phạt, tất cả đều được viết minh bạch.

Có người đọc xong bật cười:

-Cải cách ư? Quan nào mới lên chẳng hô hào cải cách!

-Đợi vài tháng rồi đâu lại vào đấy!

-Luật viết cho đẹp thôi!

Tiếng bàn tán nổi lên khắp nơi, Thương Cường nghe được nhưng không giải thích, y biết điều khó thay đổi nhất không phải phép nước, mà là lòng tin của dân chúng.

Ba ngày sau, giữa quảng trường phía nam kinh thành, binh lính dựng lên một cây cột gỗ lim cao gần hai trượng, không ai biết để làm gì. Đến giờ Ngọ, Quốc sư Thương Cường đích thân xuất hiện, y chỉ vào cây cột rồi lớn tiếng:

-Ai bê cây cột này sang phía bắc quảng trường sẽ được thưởng mười lượng bạc!

Dân chúng nhìn nhau bàn tán, có người cười phá lên:

-Chỉ bê một cây cột mà được mười lượng?

-Lừa trẻ con sao?

-Quan phủ lại bày trò!

Dân chúng sợ rằng chẳng có bữa trưa nào miễn phí, sợ rằng nếu làm theo sẽ phải đổi lại thứ gì đó. Suốt nửa canh giờ, không một ai dám bước ra. Thương Cường vẫn đứng đó, nét mặt bình thản, y quay sang viên quan ghi chép, nói:

-Đổi, tăng lên năm mươi lượng!

Lần này cả quảng trường xôn xao càng ầm ĩ hơn. Năm mươi lượng bạc, đủ để một gia đình nông dân sống dư dả nhiều tháng trời, nhưng vẫn chẳng ai dám, họ không tin, không phải không tin vào số bạc, mà không tin quan phủ sẽ giữ lời.

Qua một lúc lâu, một tiều phu ngoài bốn mươi tuổi, quần áo vá chằng chịt, chậm rãi bước ra, nói lớn:

-Quốc sư, nếu ta bê thật, có được năm mươi lượng?

Thương Cường đáp:

-Luật đã ban, lời đã nói, không đổi!

Người tiều phu nghiến răng, một mình khiêng cây cột gỗ, từng bước nặng nhọc đi sang đầu bắc quảng trường. Vừa đặt cây cột xuống, Thương Cường lập tức ra lệnh mở rương bạc, đếm đủ năm mươi lượng, trao tận tay người tiều phu không bớt một đồng, không trì hoãn một khắc.

Người tiều phu run rẩy cầm bạc, nước mắt chảy dài, hắn quỳ xuống thưa:

-Tiểu dân chưa từng thấy quan phủ giữ lời như vậy, đa tạ, đa tạ ngài nhiều lắm!

Thương Cường đỡ người tiều phu dậy, nói:

-Từ hôm nay, không phải quan giữ lời với ngươi, mà là pháp luật giữ lời với mọi người.

Ngay sau sự việc đó, thanh niên trai tráng đua nhau bê cột gỗ để lãnh thưởng, tổng cộng hơn trăm người, Thương Cường tiêu của ngân khố năm ngàn lượng bạc. Tin ấy chỉ trong hai ngày đã truyền khắp nước Soái, người dân bắt đầu kháo nhau:

-Luật mới là thật, quốc sư nói được làm được!

Từ đó về sau, mỗi đạo luật mới ban ra đều được dân chúng nghiêm túc đọc, nghiêm túc thi hành. Không phải vì họ kính sợ Thương Cường, mà vì họ tin rằng luật pháp không còn là những tờ giấy treo trên tường.

Việc đầu tiên Thương Cường làm không phải tuyển quân mà là đo lại ruộng đất. Y cử hơn ba nghìn lại viên chia nhau đi khắp các quận huyện, mang theo thước chuẩn và bản đồ mới. Ruộng của ai thì ghi đúng tên người ấy, ruộng bỏ hoang thì thu hồi, ruộng do quý tộc chiếm trái phép thì trả lại công điền. Kẻ nào giấu ruộng, khai gian, lập tức xử theo luật rất nghiêm khắc. Ban đầu, nhiều thế gia phản đối dữ dội, họ đem gia phả tổ tiên ra viện dẫn, đem công lao nhiều đời ra đòi đặc quyền. Thương Cường chỉ nói một câu:

-Công lao tổ tiên đã được thưởng khi còn sống, không thể để con cháu đời đời lấy đó làm giấy miễn luật.

Có vị quý tộc tức giận đến thẳng phủ Quốc sư, nói:

-Ngươi dám động vào ruộng nhà ta?

Thương Cường không tranh cãi, y chỉ sai người mang bản đồ, sổ hộ tịch và khế đất tới. Ba loại giấy tờ đối chiếu, ruộng ấy quả thật là công điền bị lấn chiếm. Vị quý tộc giọng vẫn hằn học không phục, xong Thương Cường không quan tâm, sai người đuổi về.

Ngay hôm sau, quan phủ cho người cắm mốc thu hồi, không ai dám can thiệp. Cáo thị có viết một dòng gây chấn động: "Ngay cả Soái Vương cũng không ban đặc ân."

Từ đó, thiên hạ hiểu rằng, pháp luật đã bắt đầu đứng cao hơn dòng họ quý tộc, quan lại quyền thế, phú hộ giàu có, tất cả đều công bằng, ai cũng như ai.

Sau đó là cải cách quân đội, Thương Cường bãi bỏ gần hết chế độ bổ nhiệm tướng lĩnh theo dòng dõi. Con cháu công thần nếu không biết cầm quân thì chỉ làm lính, người dân nếu lập đại công thì được phong tước, điều luật ấy khiến cả triều đình chấn động.

Một số đại thần đồng loạt dâng sớ phản đối rằng:

-Như vậy lễ pháp sẽ loạn!

Thương Cường đáp ngay trước điện.

-Lễ pháp dùng để phân tôn ti, quân pháp dùng để quyết sinh tử. Ra chiến trường, mũi tên của địch không hỏi ngươi là quý tộc hay dân thường.

Không ai phản bác được.

Thương Cường chia quân công thành mười hai bậc, giết được một địch, thưởng bao nhiêu. Bắt được tướng địch, thưởng bao nhiêu, giữ thành, phá thành, cứu quân, cứu lương, tất cả đều ghi thành luật, không còn phụ thuộc vào tâm trạng của người ban thưởng. Quân sĩ từ đó ai nấy đều thuộc lòng bảng quân công hơn cả thuộc tên tướng. Họ biết, lập công là đổi vận mệnh, ai ai cũng hăng hái xông pha muốn lập công trạng.

Tiếp đó là phép khảo hạch quan lại, mỗi năm, quan huyện phải báo đủ bốn việc. Bao nhiêu ruộng mới, bao nhiêu hộ mới, bao nhiêu lương thực, bao nhiêu vụ án. Nhưng Thương Cường không tin báo cáo, y lập đội thanh tra bí mật, có khi chính Thương Cường cải trang thành lái buôn, đi qua từng huyện. Có khi giả làm khách trọ, có khi ngồi ăn ở quán rượu nghe dân nói chuyện. Nếu báo cáo và thực tế khác nhau, quan huyện lập tức bị bãi chức.

Có một vị huyện lệnh nổi tiếng thanh liêm, sổ sách đẹp như tranh, nhưng dân đói, ruộng hoang. Thương Cường chỉ nhìn một vòng đã nói:

-Người này không tham nhưng bất tài, lập tức bãi quan!

Quan trong thiên hạ nghe vậy đều rúng động, từ đó không ai dám chỉ lo giữ tiếng mà bỏ mặc việc dân, ngày đêm đau đáu nghĩ cách giúp huyện mình giàu mạnh.

Điều khiến nhiều người kính phục nhất lại không phải những đạo luật, mà là chính bản thân Thương Cường. Y nghiêm với người khác một, nghiêm với chính mình mười. Lương Quốc sư, Thương Cường chỉ giữ lại đủ chi tiêu, phần còn lại sung vào quỹ khai hoang. Phủ Quốc sư không nhận quà biếu, ngày sinh thần không mở tiệc, quan lại đến cầu tình đều bị từ chối ngoài cửa.

Có lần phu nhân Soái Vương ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân hiệu ngăn lại, về dinh khóc bảo Soái Vương:

-Mụ này làm vợ ông, mà bị bọn quân hiệu khinh nhờn đến thế.

Soái Vương giận lắm, nói Thương Cường giúp mình xử lý việc ấy, Thương Cường bèn sai đi bắt. Người quân hiệu ấy nghĩ rằng mình chắc chắn phải chết. Khi đến nơi, Thương Cường vặn hỏi trước mặt, người quân hiệu ấy cứ theo sự thực trả lời. Thương Cường nói:

-Ngươi ở chức thấp mà giữ được luật pháp, ta còn trách gì nữa?

Sau đó lấy vàng lụa thưởng cho về.

Thương Cường có lần duyệt định số hộ khẩu, quốc mẫu xin riêng cho một người làm câu đương. Thương Cường gật đầu, rồi ghi họ tên quê quán của người đó. Khi xét duyệt đến xã ấy, hỏi tên mỗ ở đâu, người đó mừng rỡ thưa. Thương Cường bảo hắn:

-Ngươi vì có quốc mẫu xin được cho làm câu đương, không thể ví những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt với người khác!

Người đó van xin thôi mãi mới tha cho. Từ đó không ai dám đến thăm vì việc riêng nữa.

Chỉ trong hơn một năm, khí tượng nước Soái đổi khác rõ rệt. Ruộng hoang giảm từng ngày, kho lương đầy dần, thanh niên tự nguyện nhập ngũ nhiều hơn trước, quan lại đi sớm về khuya, thương nhân không còn dám đầu cơ lương thực, trộm cướp cũng ít hẳn vì luật pháp được thi hành thống nhất.

Các sứ thần các nước bấy giờ sang kinh đô Soái đều nhận ra một điều kỳ lạ. Người dân nơi đây không còn bàn xem vị quan nào có thế lực nhất, họ bàn xem đạo luật mới ban có lợi gì cho việc cày cấy, lập công và làm ăn, đó chính là điều khiến các nước láng giềng bắt đầu e ngại.

Tử Trọng nước Vệ sau khi nghe tin về nước Soái, lập tức bẩm với Vệ Vương rằng:

-Từ ngày có Quốc sư mới, nước Soái đang đi đúng hướng. Chỉ trong vòng một năm mà hắn thay đổi nước Soái chóng mặt.

Vệ Vương hỏi:

-Một năm ư? Một năm thì làm được những gì, không lẽ có kẻ đại tài như vậy sao?

Tử Trọng đáp:

-Không những là đại tài, mà còn là bậc cường đại trí giả, tài trị quốc của hắn không thua Trần Lượng, Quách Tuấn một phân nào.

Vệ Vương kinh ngạc, hỏi:

-Vì sao khanh lại đánh giá cao hắn như vậy?

Tử Trọng đáp:

-Thần chỉ nhìn vào kết quả mật thám báo về, một năm qua, kho lương nước Soái năm nay tăng hơn ba phần, ruộng khai hoang tăng gần hai thành, số người tự nguyện nhập ngũ nhiều hơn hẳn năm trước. Thuế bội thu mà dân oán ít, trộm cướp giảm, quan lại bị cách chức hơn hai trăm người nhưng không hề xảy ra đại loạn.

Vệ Vương hỏi:

-Hắn chỉ sửa vài bộ luật mà hiệu quả đến vậy sao?

Tử Trọng thưa:

-Người bình thường sửa luật, bậc trị quốc sửa lòng người. Quốc sư nước Soái không bắt dân phải trung thành, hắn khiến dân thấy rằng trung thành với quốc gia cũng chính là có lợi cho bản thân, đó mới là điểm đáng sợ.

Vệ Vương khẽ gõ ngón tay lên bàn, nói:

-Có lần ta nghe nói hắn dựng cột gỗ giữa chợ, thưởng rất nhiều bạc chỉ để dân tin vào pháp luật?

Tử Trọng gật đầu:

-Thần vốn tưởng chỉ là chuyện đồn, sau mới biết là thật. Chúa công có biết chỉ một việc nhỏ ấy có tác động thế nào không?

Vệ Vương đáp:

-Ở chỗ giữ lời hứa?

Tử Trọng nói:

-Không, ở chỗ từ đó về sau, dân Soái bắt đầu tin rằng luật pháp còn đáng tin hơn lời của quan lại. Một khi lòng tin ấy hình thành, ban một điều luật còn mạnh hơn mười đạo thánh chỉ.

Vệ Vương nói:

-Nghe lời khanh nói, nước Soái mấy năm nữa sẽ bứt lên thần tốc, lúc ấy thì nguy to!

Tử Trọng đáp:

-Cứ đà này, chỉ vài năm nữa thôi, cán cân thiên hạ sẽ thay đổi. Nước Soái sẽ trở thành thế lực đe dọa đến cả Tĩnh Hải quân!

Vệ Vương hỏi:

-Có điều này ta thắc mắc, xưa nay nước Soái tuy mạnh nhưng bị kìm kẹp, ta chưa bao giờ nghĩ rằng Soái sẽ nguy hiểm tới vậy. Không lẽ chỉ một người trần mắt thịt tới mà thay đổi một đất nước chóng mặt như vậy sao?

Tử Trọng đáp:

-Nước Soái xưa nay chưa từng thiếu đất, chưa từng thiếu dân, cũng chưa từng thiếu vàng bạc. Thứ nước Soái thiếu, đó là một người biết cách khiến tất cả những thứ ấy cùng phát huy sức mạnh. Nguyên Hà giỏi mưu lược và binh pháp nhưng tài trị quốc còn thua xa Thương Cường, chính người này dám đi con đường mà rất ít người dám đi. Thưởng thật, phạt thật, động vào quý tộc, đề bạt người có công, để luật pháp đứng trên quyền thế. Nếu Thương Cường cải cách thất bại, hắn tất sẽ bị hãm hại mà chết, nếu hắn thành công, Soái sẽ trở thành cường quốc đứng đầu Tĩnh Hải quân. Người dám đem tính mạng mình đặt lên bàn cờ để đổi lấy vận nước, thiên hạ không có nhiều.

Vệ Vương siết chặt tay, hỏi:

-Nếu để mặc hắn, sau này sẽ ra sao?

Tử Trọng đáp:

-Ba năm, Soái sẽ giàu, năm năm, Soái sẽ mạnh, khi ấy Soái sẽ trở thành đối thủ lớn nhất của Vệ. Điều thần lo không phải Thương Cường, mà là Soái Vương.

Vệ Vương hỏi:

-Vì sao?

Tử Trọng nói:

-Soái Vương là một minh quân, mang tham vọng rất lớn. Trong tay hắn đã có Nguyên Hà đa mưu túc trí, nay lại được một Quốc sư như Thương Cường, giống như hổ mọc thêm cánh vậy.

Vệ Vương trầm ngâm mội hồi, hỏi Tử Trọng:

-Nếu khanh là ta thì sẽ làm gì?

Tử Trọng đáp:

-Nếu thần là chúa công, việc thứ nhất là lập tức tăng cường quốc lực, bởi chỉ có tự mạnh lên mới là kế lâu dài. Thứ hai, sai mật thám theo dõi mọi động tĩnh của Thương Cường, không để sót một cải cách nào. Thứ ba, tuyệt đối không để nước Soái có năm năm yên ổn.

Sau buổi chầu hôm ấy, Vệ Vương cứ nghĩ mãi về cái tên Thương Cường, y nhận ra cục diện Tĩnh Hải quân ngày một khó lường. Nước Vệ sẽ tuyệt đối không được giậm chân tại chỗ, nếu không các nước như Ngô và Soái sẽ lần lượt vượt qua và áp đảo Vệ một sớm một chiều.
 
Chương 92: Nước Tùy gặp biến, Nguyên Hà hiến kế gây nhiễu loạn lòng dân

c72.png


Ba năm kể từ ngày Thương Cường nắm quyền cải pháp, cục diện thiên hạ đã âm thầm thay đổi. Nước Soái vẫn là nước Soái của ngày trước, vẫn nằm giữa vòng vây của các chư hầu, vẫn không có đồng minh thực sự, vẫn là quốc gia mà nhiều nước e dè nhưng chẳng ai muốn kết giao. Con đường thông thương ra bốn phía từ lâu đã bị các nước lớn khống chế, sứ thần các nước cũng hiếm khi lui tới. Thế cô lập ấy đã kéo dài nhiều năm, từ trước cả khi Thương Cường bước vào triều đình.

Nhưng điều khiến các nước không ngờ tới là, cô lập được một quốc gia không đồng nghĩa với việc có thể làm quốc gia ấy suy yếu. Ba năm qua, nước Vệ cùng nước Tấn gần như dùng hết mọi kế sách có thể nghĩ ra. Biết nước Soái đang thiếu thợ thủ công giỏi và đáng ráo riết tìm người với bổng lộc rất cao. Vì lo sợ người gần biên giới ham tiền mà bỏ sang nước Soái làm ăn, Tấn Vương lập tức tăng bổng lộc, ban ruộng đất, mời gọi các nghệ nhân khắp vùng về nước Tấn, đồng thời bí mật ra lệnh, ai dám sang Soái sẽ bị coi là phản bội đất nước.

Nước Soái không hề đáp trả, Thương Cường chỉ cho mở rộng các xưởng thủ công trong nước, miễn thuế ba năm cho những người chịu truyền nghề, thưởng hậu hĩnh cho bất kỳ ai chế tạo được nông cụ hay binh khí tốt hơn trước. Chưa đầy hai năm, những người thợ trẻ của nước Soái đã trưởng thành, kỹ nghệ tuy chưa vượt thiên hạ nhưng đã đủ để tự cung tự cấp.

Biết nước Soái cần ngựa chiến, nước Vệ liền vét sạch ngựa tốt ở các vùng biên, dùng giá cao mua hết những đàn ngựa chuẩn bị bán cho Soái.

Nước Soái không tranh mua, Thương Cường xin Soái Vương lập ba đồng cỏ lớn, tuyển riêng một đội chuyên nuôi và chọn giống chiến mã. Y từng nói trước triều đình:

-Ngựa người khác bán, hôm nay có, mai có thể không. Ngựa mình nuôi, chậm một chút, nhưng đời đời không thiếu.

Ba năm sau, đàn chiến mã nước Soái tuy chưa nhiều bằng Vệ và Tấn, nhưng toàn bộ đều do chính nước Soái gây giống, đủ dùng cho nhu cầu trong nước và dần mở rộng thêm quy mô chăn nuôi.

Nước Vệ lại đổi kế, họ sai mật thám mang vàng bạc lẻn vào nước Soái, tìm cách mua chuộc quan lại vừa được đề bạt sau cải pháp. Nhưng điều khiến mật thám kinh ngạc là phần lớn đều bị cự tuyệt, không phải vì ai cũng là bậc quân tử, mà bởi luật pháp của Thương Cường quy định rất rõ, rằng:

-Kẻ nhận hối lộ nếu bị phát giác sẽ mất chức, đày đi biên ải, tịch thu gia sản, con cháu ba đời không được dự khảo tuyển làm quan.

Trong khi đó, chỉ cần làm tốt chức trách ba năm liên tiếp, quan lại sẽ được thăng chức, gia quyến được miễn nhiều nghĩa vụ. Không ai ngu ngốc đánh đổi tiền đồ cả một dòng họ chỉ vì vài rương vàng, mật thám của nước Vệ đành trở về tay trắng.

Không mua chuộc được quan lại, nước Vệ lại chuyển sang gieo rắc lời đồn. Khắp các nước đều lan truyền rằng Thương Cường chuyên quyền, cải pháp quá nghiêm, dân chúng oán thán, chẳng bao lâu sẽ có đại loạn. Những lời đồn ấy cuối cùng cũng truyền tới tai Soái Vương. Một hôm, Soái Vương cải trang cùng Thương Cường đi vi hành một vòng kinh thành. Chợ vẫn đông, ruộng vẫn cày, lò rèn vẫn đỏ lửa, doanh trại vẫn vang tiếng luyện quân. Đi qua mười dặm, không thấy một nơi nào có dấu hiệu náo loạn.

Soái Vương quay sang hỏi:

-Khanh có biết vì sao lời đồn không làm dân dao động không?

Thương Cường đáp:

-Vì bụng dân đang no! So với lời đồn, người dân tin vào lúa trong nhà hơn.

Một quốc gia mà người dân mỗi năm đều nhìn thấy cuộc sống khá hơn năm trước thì không dễ bị vài câu đồn đại làm lung lay. Nước Vệ vẫn chưa chịu từ bỏ, họ nhiều lần xúi giục các bộ tộc biên giới quấy phá, mong nước Soái phải dồn sức vào chiến sự mà bỏ dở cải cách. Lần nào cũng vậy, quân Soái đánh rất nhanh, không truy kích quá sâu, không tham chiến công, dẹp yên biên giới xong lập tức trở về tiếp tục sản xuất.

Nguyên Hà từng căn dặn các tướng:

-Ngoại bang muốn chúng ta mệt, vậy đừng đánh theo cách chúng muốn. Cứ để chúng hao người, hao của, còn chúng ta chỉ cần giữ nhịp để Quốc sư có thể thoải mái phát triển nước Soái.

Sau nhiều lần quấy phá không thành mà lại tổn thất rất nhiều, các bộ tộc bèn không nghe theo lời Vệ xúi giục nữa, từ bỏ việc đánh Soái.

Ba năm trôi qua, không một kế sách nào của Vệ và Tấn làm chậm được bước tiến của Soái. Ruộng đất tăng, kho lương đầy, quân đội lớn mạnh, quan lại ngày một trong sạch, người tài trong nước ngày càng nhiều. Tất cả diễn ra đều đặn như bánh xe khổng lồ đang lăn xuống dốc, muốn cản cũng không nổi.

Ba năm cải cách tưởng chừng không dài, nhưng đối với nước Soái lại là ba năm đổi thay đến mức ngay cả những lão thần sống hơn nửa đời người cũng không dám tin vào mắt mình. Ngày Thương Cường mới nhậm chức, kinh thành tuy phồn hoa nhưng chỉ gói gọn trong vài con phố chính. Ra khỏi thành không xa là những cánh đồng bỏ hoang, nhiều nơi cỏ dại mọc cao quá đầu người, mùa mưa thì úng nước, mùa hạn thì nứt nẻ. Dân nhiều nơi vẫn phải trông chờ vào ông trời ban mưa, năm được mùa thì đủ ăn, năm mất mùa lại bán ruộng, bán trâu, thậm chí bán cả con cái để đổi lấy lương thực.

Ba năm sau, cảnh tượng ấy gần như biến mất, những cánh đồng hoang năm nào đã biến thành biển lúa xanh bạt ngàn. Hàng trăm con kênh lớn nhỏ được đào nối liền với các dòng sông, dẫn nước đến từng thửa ruộng. Đê điều được gia cố bằng đá, cống điều tiết được dựng khắp nơi, khiến mùa mưa không còn ngập úng, mùa khô cũng ít khi thiếu nước.

Theo thống kê của Bộ hộ, diện tích đất canh tác của nước Soái tăng gần bốn thành, sản lượng lương thực gần gấp đôi so với trước cải cách. Các kho lương của triều đình vốn chỉ đủ dự trữ cho một năm, nay chất đầy thóc gạo đến mức phải xây thêm kho mới ở các quận huyện. Đến vụ thu hoạch, từng đoàn xe chở lương nối đuôi nhau tiến vào kinh thành, cảnh tượng kéo dài suốt nhiều ngày liền.

Điều khiến người dân tự hào nhất không phải là được mùa, mà là lần đầu tiên trong nhiều năm, giá gạo ổn định quanh năm. Không còn cảnh thương nhân đầu cơ tích trữ, cũng không còn cảnh dân nghèo chen chúc trước các kho cứu tế mỗi khi thiên tai xảy đến.

Cùng với nông nghiệp, thủ công nghiệp của nước Soái cũng thay da đổi thịt. Ở ngoại thành kinh đô, nơi trước đây chỉ có vài lò rèn nhỏ, nay đã hình thành cả một khu xưởng rộng lớn. Ban ngày, tiếng búa đập vào thép vang vọng liên hồi, ban đêm, ánh lửa từ những lò luyện đỏ rực cả một góc trời.

Nông cụ được chế tạo ngày càng tinh xảo, giúp một người có thể cày cấy nhanh hơn trước gấp nhiều lần. Binh khí cũng được tiêu chuẩn hóa, từ trường mâu, trường kiếm, khiên gỗ đến nỏ mạnh đều được sản xuất theo cùng một quy cách, giúp việc huấn luyện quân đội thuận lợi hơn hẳn.

Các mỏ sắt, mỏ đồng được khai mở liên tục. Đường vận chuyển khoáng sản được mở rộng, xe ngựa qua lại tấp nập ngày đêm. Thương Cường từng nói với Hộ bộ Thượng thư:

- Muốn quốc gia giàu thì trước hết phải khiến của cải nằm dưới lòng đất trở thành của cải trong kho.

Ba năm sau, câu nói ấy đã trở thành hiện thực, nếu như sự thay đổi trên đồng ruộng khiến dân chúng nhìn thấy bằng mắt, thì sự thay đổi trong quân đội lại khiến các nước chư hầu phải khiếp sợ. Doanh trại nước Soái được quy hoạch lại hoàn toàn. Quân lính không còn mạnh ai nấy luyện như trước mà được chia thành từng doanh, từng lữ, từng đội với chế độ huấn luyện thống nhất. Mỗi buổi sáng, tiếng trống tập trận vang lên từ lúc mặt trời chưa mọc, đến tận chiều muộn, thao trường vẫn phủ kín bụi đất bởi những hàng quân diễn luyện không ngừng.

Quân công được ghi chép công khai, thưởng phạt phân minh. Người lập công được phong thưởng ngay trước toàn quân, kẻ vi phạm quân lệnh dù là con cháu quý tộc cũng bị xử phạt không khác binh sĩ thường. Kỷ luật ấy khiến quân đội nước Soái như được thay máu.

Các tướng lĩnh nhiều lần thừa nhận rằng chỉ trong ba năm, sức chiến đấu của quân Soái đã tăng lên vượt bậc, không phải vì quân số đông hơn, mà vì mọi đơn vị đều biết phối hợp như tay chân của cùng một cơ thể.

Quan trường cũng đổi khác, những nha môn vốn nổi tiếng trì trệ nay sáng đèn từ tinh mơ. Quan lại không còn ngồi chờ dân đến cầu xin, mà chủ động xuống các thôn ấp kiểm tra ruộng đất, thống kê hộ khẩu, giải quyết tranh chấp. Không ít người từng giữ chức lớn nhưng bất tài bị bãi miễn. Ngược lại, nhiều viên lại nhỏ xuất thân bình dân nhờ làm việc xuất sắc mà liên tục được cất nhắc. Điều ấy khiến cả triều đình hình thành một bầu không khí chưa từng có, muốn giữ chức, phải làm được việc. Muốn thăng chức, phải có công lao, dòng dõi không còn là tấm bùa che chở cho sự bất tài.

Ngay cả dân chúng cũng cảm nhận được sự thay đổi ấy, chợ búa đông đúc hơn, đường sá được mở rộng, cầu đá thay dần cầu gỗ, xe ngựa qua lại không dứt.

Ban đêm, nhiều phố lớn vẫn sáng đèn vì các xưởng thủ công làm việc đến khuya. Từ biên giới trở về, nhiều thương nhân các nước có dịp đi qua đều kinh ngạc trước sự nhộn nhịp ấy. Có người thốt lên:

-Ba năm trước đến nước Soái, ngoài kinh thành còn thấy tiêu điều, ba năm sau quay lại, đi đến đâu cũng thấy người làm việc. Không thấy ai nhàn rỗi, không thấy ai chỉ ngồi than nghèo.

Thanh niên nước Soái không còn xem việc nhập ngũ là nghĩa vụ nặng nề, mà coi đó là con đường lập thân. Nông dân không còn sợ khai hoang vì biết ruộng mở đến đâu, triều đình công nhận đến đó. Quan lại không còn xem chức tước là đặc ân ban phát, mà là trách nhiệm phải gánh vác.

Ngay cả trẻ nhỏ trong các thôn xóm cũng truyền miệng câu nói mà người lớn thường nhắc:

-Có sức thì cày, có tài thì làm quan, có gan thì lập công.

Ba năm cải cách không chỉ khiến nước Soái giàu hơn, mạnh hơn hay đông quân hơn, điều lớn nhất mà Thương Cường mang lại là một tinh thần mới cho cả quốc gia. Từ quân vương, bá quan cho đến thứ dân đều tin rằng chỉ cần chịu lao động, chịu lập công và tuân theo pháp luật thì ai cũng có cơ hội đổi thay số phận.

Chính niềm tin ấy đã biến nước Soái từ một quốc gia bị cô lập thành một cường quốc đang từng bước vươn lên bằng chính nội lực của mình. Người đời sau khi nhắc đến ba năm cải cách ấy đều nói rằng:

"Thương Cường không chỉ thay đổi phép nước, ông đã thay đổi vận nước".

Nhắc đến nước Tùy, nằm ở phía đông bắc giáp ranh với nước Soái, năm ấy có một biến loạn rất lớn, bắt nguồn từ sự việc của Thế tử Kha.

Thế tử Kha là con trai duy nhất của Tùy Vương. Từ thuở lọt lòng đã được cưng chiều hết mực, hễ muốn gì thì được nấy, phạm lỗi cũng chẳng ai dám quở trách. Trong cung, cung nữ thái giám đều sợ oai Thế tử, ngoài triều thì văn võ bá quan nể mặt Tùy Vương, chẳng ai dám can gián.

Lớn lên, Kha càng thêm ngang ngược, ban ngày cưỡi ngựa phóng như bay giữa phố xá, xô ngã người đi đường cũng chỉ quẳng vài đồng bạc rồi bỏ đi. Ban đêm tụ tập bè đảng ăn chơi, say rượu đánh người, cướp đoạt đồ vật quý hiếm, nhìn thấy cô gái nào có dung mạo xinh đẹp liền tìm mọi cách ép về phủ.

Quan lại địa phương ai cũng biết chuyện, nhưng mỗi lần đơn kiện được dâng lên đều bị người của phủ Thế tử chặn lại. Kẻ dám nói thẳng thì bị giáng chức, người cương trực hơn thì bị vu cho tội tham ô, cuối cùng chỉ còn biết ngậm miệng mà sống.

Bi kịch lớn nhất xảy ra vào mùa thu năm ấy, ở phủ thành phía nam nước Tùy có một thương nhân buôn gỗ nổi tiếng tên là Bảo Đức. Ông vốn xuất thân nghèo khó, nhờ cần cù mà gây dựng nên gia sản. Điều khiến người đời kính trọng không phải của cải, mà là tấm lòng nhân hậu của ông. Mỗi năm Bảo Đức đều mở kho phát gạo cứu đói, dựng cầu sửa đường, bỏ tiền chuộc thân cho những người bị bán làm nô lệ. Dân chúng trong vùng nhắc đến Bảo gia đều hết lời khen ngợi.

Ông chỉ có một người con gái là Bảo Ngọc. Bảo Ngọc nổi tiếng dung mạo đoan trang, cử chỉ dịu dàng, lại thông hiểu lễ nghĩa. Không ít công tử quyền quý ngỏ ý cầu thân nhưng nàng đều khéo léo từ chối, chỉ mong phụ giúp cha chăm nom việc làm ăn.

Trong một lần dự tiệc ở tửu lầu lớn nhất phủ thành, Bảo Ngọc chẳng may gặp Thế tử Kha. Kha vừa nhìn đã nổi lòng tà niệm. Hắn liên tục sai người mang rượu quý, châu báu đến lấy lòng nhưng đều bị Bảo Ngọc nhã nhặn khước từ. Thế tử chẳng những không biết xấu hổ, trái lại càng thêm hiếu thắng.

Đến lúc men rượu bốc lên, Kha cười lớn, bước thẳng sang bàn của Bảo Ngọc, nói giọng lè nhè:

-Khắp nước Tùy này, còn có nữ nhân nào dám từ chối bổn Thế tử sao?

Nói rồi hắn đưa tay giữ lấy cổ tay nàng, Bảo Ngọc vội vàng vùng ra, lui lại mấy bước. Kha vẫn không chịu buông tha, liên tiếp ép sát, định ôm chầm lấy nàng giữa tửu lầu đông người. Bảo Ngọc vừa giận vừa sợ, cố sức chống cự. Trong lúc giằng co, nàng lùi đến lan can tầng hai.

Chỉ nghe một tiếng kêu thất thanh, thân người mảnh mai mất thăng bằng, ngã nhào xuống nền đá. Tiếng va chạm khô khốc vang lên.Máu đỏ loang thành một vệt dài, đến khi mọi người chạy xuống thì Bảo Ngọc đã tắt thở. Lúc ấy trời vừa chập tối, khách khứa đã thưa dần. Chỉ còn vài người tận mắt chứng kiến cảnh tượng ấy, ai nấy đều kinh hãi nhưng không dám lên tiếng. Người của Thế tử lập tức phong tỏa tửu lầu, xua đuổi tất cả những ai có mặt.

Ngay trong đêm, toàn bộ vụ việc bị triều đình bưng bít, những người chứng kiến bị ép điểm chỉ vào lời khai rằng Bảo Ngọc vì trượt chân nên tự ngã. Có người không chịu thì bị bắt giam với tội danh "vu khống hoàng thất", có người sáng hôm sau liền bỏ cả gia đình trốn khỏi phủ thành.

Bảo Đức ôm thi thể con gái khóc cạn nước mắt, ông bán bớt gia sản, nhiều lần dâng đơn lên phủ doãn, mong triều đình trả lại công bằng cho con gái. Lần thứ nhất, phủ doãn phán rằng Bảo Ngọc say rượu nên vô ý ngã lầu. Lần thứ hai, lại đổi lời rằng nàng vì chuyện riêng mà tự gieo mình. Lần thứ ba, thứ tư rồi đến lần thứ năm, kết luận vẫn chỉ có một:

"Bảo Ngọc tự vẫn, vụ án khép lại."

Bảo Đức quỳ ngoài công đường suốt ba ngày ba đêm, dập đầu đến nỗi trán rớm máu, nhưng đổi lại chỉ là cánh cổng nha môn đóng chặt. Khắp phủ thành, ai nấy đều thương xót, người ta nhớ đến những cây cầu Bảo Đức từng dựng, những bao gạo ông từng phát, những đứa trẻ mồ côi được ông cưu mang. Một người hiền hậu như vậy, cuối cùng ngay cả công lý cho con gái cũng không đòi nổi.

Từ đó, lời oán than lan khắp nước Tùy, người dân không còn chỉ oán Thế tử Kha nữa, họ bắt đầu oán cả triều đình. Trong các quán trà, ngoài bến sông, giữa chợ phiên, đâu đâu cũng vang lên những tiếng thì thầm:

-Nếu người nghèo giết người thì phải đền mạng, nếu Thế tử giết người thì gọi là ngoài ý muốn.

-Luật pháp chỉ trị được dân đen, không trị được kẻ mang huyết thống vương thất.

Không ai biết rằng, chính vụ án của Bảo Ngọc đã trở thành giọt nước làm tràn ly. Lòng dân vốn đã chất chứa bao oán hận nay càng sôi sục. Chỉ cần một người dám đứng lên hô một tiếng, hàng vạn người sẽ hưởng ứng.

Đó cũng chính là ngọn lửa đầu tiên, âm thầm cháy dưới nền móng của vương triều Tùy, báo hiệu một cơn biến loạn chưa từng có đang lặng lẽ kéo đến.

Tin tức về cái chết của Bảo Ngọc cùng làn sóng phẫn nộ của dân chúng nước Tùy chẳng mấy chốc đã theo những lái buôn, khách thương và mật thám truyền sang nước Soái.

Mạng lưới mật thám của nước Soái vốn cài cắm khắp các nước chư hầu, từ quán rượu, bến cảng cho đến phủ nha. Chỉ trong vòng hơn mười ngày, mọi diễn biến từ vụ án của Bảo Ngọc, sự bao che của triều đình Tùy, cho đến nỗi oán hận của bá tánh đều được ghi chép cẩn thận rồi cấp tốc đưa về vương đô.

Đọc xong mật báo, Soái Vương khẽ gõ ngón tay lên long án, ánh mắt sáng lên. Soái Vương vốn đã nhiều năm ôm chí thôn tính nước Tùy. Chỉ vì thời cơ chưa chín muồi, nếu mạo hiểm xuất binh thì dù thắng cũng tổn thất nặng nề. Nay nước Tùy tự sinh nội loạn, chẳng khác nào trời cao ban cho một thời cơ hiếm có.

Ngay hôm sau, Soái Vương triệu tập văn võ bá quan vào nghị sự.

Soái Vương trầm giọng:

-Nước Tùy lòng dân đang ly tán, theo các khanh, đây có phải thời cơ để đánh Tùy hay chưa?

Hứa Chung bước ra trước, nói:

-Bẩm chúa công, quân Soái mấy năm nay liên tục chỉnh đốn binh mã, huấn luyện tinh nhuệ. Hiện có hơn hai mươi vạn quân chính quy, chiến mã sung túc, khí giới đầy đủ. Chỉ cần chúa công hạ lệnh, thần nguyện làm tiên phong, trong một năm bình định nước Tùy.

Lời vừa dứt, tiếng phụ họa vang lên khắp triều. Thừa tướng Nguyên Hà cũng bước ra, cúi mình tâu:

- Chúa công, thần cũng cho rằng nên đánh, nhưng đánh lúc này vẫn chưa phải thượng sách. Cây lớn muốn đốn, không nhất thiết phải dùng búa trước, hãy để chính gốc rễ của nó tự mục nát.

Soái Vương hỏi:

-Khanh có diệu kế gì?

Nguyên Hà đáp:

-Dân Tùy vốn đã oán triều đình vì vụ án của Bảo Ngọc, nhưng oán hận mới chỉ là ngọn lửa âm ỉ. Muốn khiến một nước tự sụp đổ, phải biến ngọn lửa ấy thành biển lửa. Năm xưa Lê Cung từng dùng kế ly gián, khiến nước Yên cũng từng rơi vào biến loạn, nay ta nên học theo kế sách ấy.

Đại thần Tư Văn hỏi:

-Chẳng phải nước Đinh cuối cùng vẫn bị Vệ đánh chiếm sao, Thừa tướng nói học theo là vì cớ gì?

Nguyên Hà đáp:

-Kế sách của Lê Cung rất hay, thế nhưng kế đó áp dụng cho một nước không có sự biến loạn thật sự, chỉ thành gây ra phản tác dụng. Nhưng nếu kế sách ấy dùng cho nước Tùy, tất công hiệu gấp trăm lần!

Soái Vương hứng thú, hỏi:

-Khanh nói tiếp đi!

Nguyên Hà thưa:

-Thần xin cho mật thám trà trộn vào dân gian nước Tùy. Ban ngày giả làm thương nhân, phu khuân vác, học trò, đạo sĩ, ban đêm bí mật kích động dân chúng. Chúng sẽ loan truyền rằng triều đình coi mạng dân như cỏ rác, rằng quan lại đều cấu kết với Thế tử Kha, rằng nếu không đứng lên thì đời đời con cháu cũng phải chịu áp bức. Lại ngấm ngầm xúi giục đập phá nha môn, cướp kho lương, đốt phủ quan và hô hào khởi loạn. Đến khi trong ngoài nước Tùy đều rối ren, quân Soái chỉ cần lấy danh nghĩa dẹp loạn, cứu lê dân mà tiến quân.

Nghe xong, Soái Vương bật cười lớn.

-Hay! Diệu kế! Đúng là thượng sách không đánh mà thắng.

Ít lâu sau, từng toán mật thám nước Soái bí mật vượt biên, có kẻ giả làm người bán thuốc rong, có kẻ khoác áo nhà sư đi khất thực, có kẻ trà trộn vào các đoàn lái buôn, các phường thợ và bến sông. Họ không cầm đao kiếm, thứ họ mang theo là những lời đồn.

Khắp nơi đều xuất hiện những tiếng nói giống hệt nhau:

-Con gái Bảo gia chết oan mà không ai đòi được công bằng!

-Hôm nay là Bảo Ngọc, ngày mai có thể là con gái nhà ngươi.

-Quan phủ chỉ biết bảo vệ quyền quý.

-Muốn có công lý thì phải tự mình đứng lên.

Những lời ấy như từng giọt dầu rơi vào đống than hồng. Vốn dĩ người dân nước Tùy đã chất chứa bất bình từ lâu. Nay có kẻ đứng ra hô hào, người này kéo người kia, chẳng mấy chốc đám người tức giận ngày một đông.

Ban đầu chỉ vài chục người tụ tập trước nha môn, ít ngày sau thành vài trăm, rồi vài nghìn. Chỉ trong hơn một tháng, nhiều phủ huyện đồng loạt nổi dậy. Đám đông kéo đến công đường, đập nát trống kêu oan, phá cổng nha môn, ném đá vào dinh thự quan lại. Có nơi kho lương bị cướp sạch, xe thuế bị lật đổ giữa đường, tiếng hô "trả lại công bằng cho Bảo Ngọc!", "diệt trừ gian thần!", "trừng trị Thế tử Kha!" vang lên khắp các phố chợ.

Quan binh địa phương nhiều nơi không dám ngăn cản. Có người còn lặng lẽ cởi bỏ giáp trụ, hòa vào dòng người, bởi ngay trong hàng ngũ của họ cũng có không ít kẻ từng chịu cảnh hà hiếp của bọn quyền quý. Chẳng bao lâu, số người tham gia bạo loạn đã lên đến mấy vạn.

Khói lửa bốc lên từ nhiều phủ huyện, tiếng trống báo động vang suốt ngày đêm. Những con đường từng tấp nập xe ngựa nay chỉ còn gạch đá ngổn ngang. Cửa hiệu đóng kín, chợ búa tan hoang, xác xe cháy nằm la liệt. Dân chúng vừa hò hét, vừa đập phá, cơn giận tích tụ bao năm như được dịp bùng phát không gì ngăn nổi.

Người đời khi ấy đều bàng hoàng, chẳng ai ngờ rằng một vụ án tưởng như chỉ liên quan đến một cô gái lại có thể châm ngòi cho cơn sóng dữ cuốn khắp nước Tùy. Cũng không ai biết, ẩn sau đám đông phẫn nộ ấy là những bàn tay vô hình của mật thám nước Soái, đang từng bước lái cơn dân biến đi đúng hướng mà triều đình Soái đã định sẵn.
 
Chương 93: Triều đình Tùy đàn áp dân chúng, Nguyên Hà nguyện ra tiền tuyến

c93.png


Triều đình nước Tùy rốt cuộc cũng không thể ngồi yên nhìn dân chúng nổi loạn. Nhưng thay vì nhìn lại những điều khiến lòng dân oán hận, triều đình lại chọn cách đơn giản và tàn bạo nhất, đó là dùng đao kiếm để bắt dân phải im tiếng.

Lệnh từ kinh thành truyền xuống các châu phủ, yêu cầu lập tức trấn áp tất cả những kẻ tụ dân làm loạn, phỉ báng triều đình và kích động dân chúng. Quân lính được điều động đến các phủ huyện, mang theo giáo dài, cung nỏ và gông cùm. Những con đường vốn đã hỗn loạn nay càng trở nên đáng sợ. Hễ thấy một đám đông tụ tập, quan binh lập tức xông tới giải tán. Kẻ chống cự bị đánh chết tại chỗ, người bỏ chạy bị truy bắt. Nhiều nơi, quan phủ còn đặt ra lệnh giới nghiêm, quá giờ mà vẫn còn ngoài đường thì bị bắt giữ như loạn dân, các cuộc bắt bớ diễn ra ngày một dữ dội.

Ai bị cho là đầu têu bạo loạn, bất kể có thật sự tham gia hay không, đều bị giải về nha môn. Có người bị khép vào tội phản nghịch rồi xử chém giữa chợ để thị uy, có người bị kết án đi đày đến những vùng biên viễn xa xôi, có kẻ chỉ vì từng đứng trong đám đông hôm trước, hôm sau đã bị quan binh xông vào nhà bắt đi.

Trong các nhà lao, quan lại ngày đêm tra hỏi tù nhân:

-Ai xúi ngươi nổi loạn?

-Ai đứng sau?

-Ai thường xuyên nói xấu triều đình?

-Ai từng tham gia đập phá nha môn?

-Ai chứa chấp loạn đảng?

Chỉ cần một người khai ra một cái tên, người mang cái tên ấy lập tức bị bắt. Đến lượt người đó lại bị ép phải khai thêm người khác. Cứ như vậy, một sợi dây oan nghiệt nối từ người này sang người khác, từ một gia đình sang cả một thôn xóm. Có những người vốn chẳng biết gì về chuyện bạo loạn, nhưng chỉ vì hàng xóm bị bắt mà bị kéo vào vòng lao lý, Có người chỉ từng đứng ngoài đường xem đám đông, cũng bị quan phủ quy thành đồng đảng. Có người vì sợ hãi không chịu nhận tội, bị đánh đến mê man rồi cuối cùng đành phải ký vào bản cung đã được viết sẵn. Những tiếng khóc bắt đầu xuất hiện khắp nước Tùy.

Trong một ngôi làng nọ, quân lính đến lúc trời vừa sáng. Họ phá cửa từng nhà, lục soát từng gian bếp, từng kho thóc, bắt đi những người bị tố giác là có lời chống đối triều đình. Một bà lão quỳ dưới đất van xin rằng con trai mình chỉ là người làm ruộng, quanh năm chưa từng bước chân tới phủ thành, nhưng chẳng ai nghe, người con bị trói giải đi. Bà lão chạy theo đến tận đầu làng, vừa khóc vừa gọi tên con. Đáp lại bà chỉ là tiếng vó ngựa và tiếng xiềng sắt va vào nhau.

Ở những phủ thành lớn, cảnh tượng còn thảm khốc hơn. Cổng chợ dựng lên những cọc gỗ, quan binh áp giải từng đoàn người ra giữa phố để xét xử. Những bản án được đọc vội vàng, nhiều khi người bị kết tội còn chưa kịp hiểu mình đã phạm phải tội gì, có người bị xử chém, có người bị đóng gông đưa đi đày. Gia quyến của họ cũng bị quan phủ theo dõi, tài sản bị niêm phong, nhà cửa trở nên lạnh lẽo chỉ sau một đêm.

Dân chúng vốn đã sợ hãi, nay càng không dám nói chuyện. Quán trà im tiếng, chợ búa im tiếng, ngay cả trong những bữa cơm gia đình, người ta cũng không dám nhắc đến chuyện triều đình.

Có người đang nói giữa chừng bỗng nhìn ra cửa rồi hạ thấp giọng:

-Thôi... đừng nói nữa.

Bởi chẳng ai biết người ngồi bên cạnh mình có phải tai mắt của quan phủ hay không, nỗi sợ len vào từng ngõ ngách. Người dân bắt đầu đóng cửa từ sớm, không dám tụ tập đông người, không dám bàn chuyện chính sự. Nhưng càng đàn áp, lòng người lại càng căm phẫn. Bởi mỗi nhát đao của quan binh không làm người dân quên đi cái chết của Bảo Ngọc, mà chỉ khiến họ nhớ rõ hơn rằng triều đình đã đứng về phía kẻ có quyền thế.

Nhà Bảo Đức từ một gia đình được người người kính trọng, chỉ trong thời gian ngắn đã bị cuốn vào vòng xoáy oan nghiệt của triều đình Tùy. Sau cái chết của Bảo Ngọc, Bảo Đức gần như mất hết tinh thần. Người con gái duy nhất, niềm hy vọng lớn nhất của ông, chết một cách oan khuất, vậy mà quan phủ chẳng những không xét lại vụ án, còn hết lần này đến lần khác buộc gia đình phải chấp nhận rằng nàng tự vẫn. Nhưng Bảo Đức không chịu khuất phục, ông đem từng tờ đơn kiện, từng lời khai của những người chứng kiến, từng chứng cứ mà gia đình có được đến nha môn. Ông bán dần những tài sản có giá trị để thuê người viết đơn, nhờ người chạy đường quan, mong có ngày được gặp một vị quan thanh liêm có thể nghe cho mình một lời.

Nhưng ông càng kêu oan, triều đình càng coi ông là cái gai phải nhổ bỏ. Cửa hàng buôn gỗ của Bảo gia vốn làm ăn phát đạt, thuyền bè ngày ngày xuôi ngược trên sông, kho gỗ lúc nào cũng đầy ắp. Từ phương bắc đến phương nam, những thương đội từng tìm đến Bảo gia nay lần lượt tránh xa. Không phải họ không muốn làm ăn, mà chẳng ai muốn dây vào một gia đình đã bị triều đình để mắt.

Quan phủ liên tiếp gây khó dễ, giấy thông hành bị giữ, hàng hóa bị khám xét, thuyền vận chuyển bị viện cớ kiểm tra rồi lưu lại nhiều ngày, khách mua gỗ bị cảnh cáo không được giao dịch với Bảo gia. Chỉ trong vài tháng, những mối làm ăn gây dựng suốt mấy chục năm lần lượt tan vỡ. Những người làm thuê cũng chẳng còn việc để làm, có người phải trở về quê, có người dắt cả gia đình đi nơi khác kiếm sống. Những con thuyền từng tấp nập trước bến Bảo gia dần biến mất, kho gỗ ngày một trống rỗng.

Rồi một ngày, quan binh kéo đến. Một tờ công văn được đọc giữa sân, cáo buộc Bảo Đức có hành vi kích động dân chúng, phỉ báng triều đình, cấu kết loạn đảng. Ngay lập tức, gia sản Bảo gia bị niêm phong, kho gỗ bị tịch thu, thuyền bè bị sung công, cửa hàng đóng cửa. Nhà cửa, ruộng đất, tiền bạc và những thứ tài sản mà cả đời Bảo Đức gây dựng đều bị quan phủ lấy đi.

Người trong gia đình bị lục soát từng phòng, những rương hòm chứa đồ gia truyền bị mở tung. Những vật dụng mà Bảo Ngọc từng dùng khi còn sống cũng bị quan binh thu gom chẳng chút thương tình. Đến cuối ngày, căn nhà từng rộng lớn và ấm cúng chỉ còn lại những gian phòng trống rỗng.

Gia đình Bảo Đức cũng từ đó ly tán, người vợ vốn đã đau đớn vì mất con nay bị bệnh tật hành hạ, phải nương nhờ họ hàng ở một vùng xa. Người con trai bị bắt đi thẩm vấn, rồi bị áp giải đến nơi khác. Những người thân thích sợ liên lụy nên cũng lần lượt tránh mặt.

Bảo Đức, từ một thương nhân giàu có được người dân kính trọng, trở thành một người không nhà, không của, không còn bất cứ chỗ dựa nào. Nhưng triều đình vẫn chưa chịu dừng lại, đối với họ, Bảo Đức còn sống ngày nào thì cái chết của Bảo Ngọc vẫn còn có người nhắc đến ngày ấy. Vì vậy, triều đình Tùy phải khiến ông trở thành một kẻ có tội, cuối cùng, Bảo Đức bị giải ra công đường.

Ông quỳ giữa sân, thân hình tiều tụy sau những ngày tháng trong lao ngục. Vị thương nhân từng có hàng trăm người dưới quyền nay chỉ còn một bộ áo cũ trên người. Quan phủ đọc bản án, những lời buộc tội nối tiếp nhau, nhưng chẳng có lời nào nói đến Bảo Ngọc. Không một câu hỏi về việc vì sao nàng chết, không một lời nhắc đến những người từng chứng kiến, không một lần xét hỏi Thế tử Kha, chỉ có một kết luận đã được định sẵn, Bảo Đức là kẻ gây loạn, ông bị kết tội chém đầu.

Ngày hành hình, người dân trong vùng kéo đến rất đông, họ đến để nhìn người mà họ từng kính trọng lần cuối. Bảo Đức bị áp giải ra ngõ chợ, nơi vốn là chỗ buôn bán đông đúc nhất phủ thành. Quan phủ muốn biến nơi ấy thành chỗ thị uy, muốn cho dân chúng thấy rằng bất cứ ai chống lại triều đình đều sẽ có kết cục như vậy.

Nhưng cảnh tượng trước mắt lại khiến lòng người đau xót, những người từng được Bảo Đức cứu giúp đứng lẫn trong đám đông, có người cúi đầu khóc, có người nghiến răng không dám nói một lời. Một bà lão từng được ông phát gạo trong năm mất mùa quỳ xuống đất, hai tay chắp trước ngực. Một người phu từng được Bảo gia cho việc làm đứng chết lặng bên đường. Những người ấy đều hiểu rằng người sắp chết trước mắt họ không phải một tên phản loạn, ông chỉ là một người cha đã cố đòi lại công bằng cho con gái mình.

Trước giờ hành hình, Bảo Đức không xin tha mạng, ông chỉ ngẩng đầu nhìn đám đông. Một lúc lâu, ông mới cất tiếng:

-Ông trời... ông quả không có mắt!

Giọng nói yếu ớt nhưng vang lên giữa ngõ chợ:

-Con gái ta bị chết oan!!!

Quan binh lập tức quát lớn, không cho ông nói thêm, nhưng rất nhiều người nghe thấy lời trăn trối cuối cùng ấy.

Bảo Đức bị hành hình, sau đó, triều đình còn cho bêu đầu ông tại nơi ngõ chợ để thị uy, hòng khiến dân chúng khiếp sợ. Nhưng chính việc ấy lại trở thành một vết sẹo không thể xóa trong lòng người Tùy, bởi từ ngày hôm đó, mỗi khi đi ngang qua khu chợ ấy, người dân lại nhớ đến Bảo Đức. Nhớ đến người thương nhân hiền hậu từng giúp đỡ họ, nhớ đến cô gái Bảo Ngọc chết oan, nhớ đến một gia đình chỉ vì đòi công lý mà tan cửa nát nhà, và nhớ đến một triều đình đã có thể dùng quyền lực biến người bị hại thành tội nhân.

Một tay che trời, triều đình có thể biến trắng thành đen, biến người bị hại thành kẻ có tội, biến kẻ gây ra tai họa thành người vô can. Trong kinh thành, Thế tử Kha vẫn sống trong phủ đệ nguy nga, hắn vẫn ăn ngon, mặc đẹp, vẫn có người hầu kẻ hạ, không một sợi tóc trên đầu hắn bị động đến. Còn ngoài kia, những người dân vô tội đang phải chịu cảnh tù ngục, ly tán, mất cha, mất con. Sự tương phản ấy khiến lòng dân càng thêm tuyệt vọng, nhưng cũng chính trong những ngày tháng đen tối ấy, một thứ khác bắt đầu hình thành.

Đó là sự căm phẫn, ban đầu người ta sợ triều đình, sau đó người ta oán triều đình. Rồi dần dần, người ta bắt đầu nghĩ rằng nếu cả triều đình đều đứng về phía kẻ ác, thì muốn sống được, muốn đòi lại công bằng, chỉ còn một cách duy nhất, đó là đứng lên chống lại nó.

Triều đình Tùy tưởng rằng những cuộc chém giết sẽ khiến thiên hạ khiếp sợ mà quy phục, nhưng họ không hiểu rằng có những nỗi đau càng bị đè nén thì càng tích tụ sâu hơn. Máu đổ xuống mặt đất có thể khiến một con phố im tiếng trong một ngày, nhưng không thể khiến hàng vạn người quên đi những gì họ đã chứng kiến.

Và từ chính những nhà lao tối tăm, những gia đình tan nát, những tiếng khóc bị ép phải câm lặng ấy, một cơn bão lớn hơn đang âm thầm hình thành. Nước Tùy tưởng rằng mình đang dẹp loạn, nhưng thực ra, chính những nhát đao của triều đình đang từng ngày nuôi lớn cuộc loạn.

Đám mật thám của nước Soái vô số người bị chém và bắt đi vì tội cố ý gieo rắc phản loạn. Hơn hai mươi người sang nước Tùy nay chỉ còn lại ba người vẫn đang ẩn náu. Họ bàn với nhau rằng phải cử một người về báo tin cho Soái Vương, sau đó hai người còn lại sẽ ẩn mình chờ tiếp viện đến, tạm thời không kích động nữa.

Vài ngày sau, mật thám báo tin về, Soái Vương lập tức cho truyền văn võ bá quan vào nghị sự. Soái Vương mở đầu:

-Tình hình bên nước Tùy hiện rất cam go, triều đình đàn áp dân chúng thô bạo, khiến mật thám của ta cũng liên lụy mà chết gần hết. Cứ đà này dân chúng nước Tùy chẳng mấy sẽ bị đem hết ra xử, chẳng còn chút ý chí nào để phản kháng được nữa, như vậy sẽ hỏng việc ta. Các khanh có cao kiến gì thì tâu ngay để ứng phó.

Huy Cẩn đáp:

-Thần không ngờ triều đình nước Tùy vì bao che cho Thế tử Kha mà đàn áp kinh thiên động địa như vậy. Chúa công nói rất phải, chúng ta phải lập tức can thiệp vào tình hình này, tránh để ngọn lửa oán hận của dân Tùy qua đi.

Nguyên Hà nói:

-Mật thám của ta hy sinh không hề uổng phí, họ đã khiến lòng dân Tùy ngày càng oán hận một cách sâu sắc. Thế nhưng triều đình Tùy ra tay lần này quyết liệt như vậy, chứng tỏ họ đã có nhiều kinh nghiệm trong việc áp chế dân chúng. Nếu ta không ra tay can thiệp, e rằng tinh thần dân Tùy sẽ ngày một rệu rã, lo giữ mạng hơn là đồng lòng chống triều đình. Thần nghĩ ra một cách, có thể khiến xoay chuyển tình thế nước Tùy, nhưng có đôi chút mạo hiểm.

Soái Vương tò mò:

-Khanh cứ nói, ta là người ưa thích mạo hiểm!

Nguyên Hà đáp:

-Chúng ta vẫn dùng kế cũ, nhưng đổi lại sẽ cử đi những người giỏi nhất!

Hứa Chung hỏi:

-Ý Thừa tướng nói đến những người giỏi nhất là ai?

Nguyên Hà đáp:

-Một văn thần dùng tài chí và lý lẽ liên kết được lòng dân Tùy, một võ tướng võ nghệ phi phàm, có thể lấy một địch trăm để bảo vệ và dẫn đầu loạn dân!

Soái Vương nói:

-Ý đó quả rất hay! Có điều việc lần này rất mạo hiểm, các khanh ai muốn xung phong thì đứng ra phía trước, nếu sự việc thành nhất định ta sẽ trọng thưởng xứng đáng!

Ngay lập tức, văn thần Huy Cẩn và võ tướng Hổ Uy đồng thanh:

-Thần nguyện xung phong!

Soái Vương mừng:

-Được, vậy trọng trách này sẽ giao cho hai khanh đảm nhận!

Nguyên Hà can:

-Không được, hai người họ tuyệt đối không thể đi!

Soái Vương hỏi:

-Vì cớ gì?

Nguyên Hà đáp:

-Huy Cẩn tuy có tài trí nhưng lời nói chưa đủ thuyết phục, Hổ Uy tuy dũng mãnh nhưng tính cách bộc trực, dễ bứt dây động rừng. Nếu chúa công cử họ đi thì vừa không được việc nước Tùy, mà ta lại mất đi hai đại thần uổng phí!

Soái Vương hỏi:

-Vậy ý khanh muốn tiến cử ai?

Nguyên Hà đáp:

-Thần nguyện xin đi!

Tất cả mọi người trong điện đều kinh ngạc trước câu trả lời của Nguyên Hà. Soái Vương đập bàn đứng dậy, nói:

-Không được, tuyệt đối không được! Khanh là cánh tay phải của ta, ai đời lại cử tướng quốc của mình đi làm nhiệm vụ ấy!

Các quan cũng đồng tình, cho là phải. Nguyên Hà nét mặt vẫn điềm tĩnh, đáp:

-Kể từ sau lần chết hụt ở hẻm Tàng Nguyệt, thần vốn đã coi tính mạng của mình nhẹ tựa lông hồng. Thần tự ứng cử mình, đều vì công lẫn tư cả, xin chúa công minh xét!

Soái Vương cau mày:

-Công tư như thế nào?

Nguyên Hà đáp:

-Xét về công, thần là người phù hợp nhất cho nhiệm vụ lần này. Thần có đủ tài trí, am hiểu bản tính con người và có sức thuyết phục đám đông rất lớn. Xét về tư, thần vẫn còn áy náy những thất bại ở Diễn Châu trong quá khứ, trong lòng luôn muốn lập công chuộc tội. Cơ hội lần này quả là hiếm có, giúp thần được thỏa lòng mong ước bấy lâu nay, đó chính là đóng góp công lao cho nước Soái.

Soái Vương quay mặt lại, hai tay để sau lưng, lặng thinh không đáp. Các quan cũng yên lặng chờ quyết định của Soái Vương.

Suy nghĩ một hồi, Soái Vương nói:

-Thôi được, nhưng phải cử một võ tướng đủ tài nghệ bảo vệ cho khanh!

Nguyên Hà quay sang nhìn Hứa Chung, Hứa Chung lập tức hiểu ý, bước ra nói:

-Thần nguyện đi theo bảo vệ Thừa tướng!

Soái Vương phẩy tay, nói:

-Cả ngươi cũng vậy sao?

Hứa Chung đáp:

-Bẩm chúa công, thần đi lần này thỏa mãn cả công lẫn tư, không ai khác thích hợp hơn ạ!

Soái Vương cười:

-Giỏi, giờ các ngươi thay nhau nói đến công tư với ta sao! Thôi được, nói!

Hứa Chung thưa:

-Xét về công, thần đủ dũng mãnh để đối đầu quân Tùy, có thể địch vài trăm tên dễ như bỡn. Thần cũng không phải là kiểu người nóng vội mà hỏng việc. Xét về tư, thần và Thừa tướng có mối thâm giao sâu đậm, nếu ngài ấy có mệnh hệ gì thần cũng không thể an tâm được, chi bằng đi theo bảo vệ ngài thì hơn!

Soái Vương gật đầu, tuy ngoài mặt tỏ ra không hài lòng nhưng trong tâm rất mãn nguyện vì có hai đại thần, một người là Thừa tướng, một người là Nguyên soái, đều không ngại hiểm nguy và trung thành với nước Soái như vậy. Soái Vương nói:

-Thôi được, chuẩn tấu! Ta giao trọng trách này cho hai khanh, tuyệt đối không được làm hỏng việc!

Nguyên Hà và Hứa Chung đồng thanh:

-Tuân mệnh!
 
Chương 94: Nguyên Hà và Hứa Chung cải trang xâm nhập nước Tùy

c94.png


Vài ngày sau, Nguyên Hà cùng Hứa Chung lên đường khởi hành sang nước Tùy. Hai người không mang theo cờ hiệu, không mặc quan phục, cũng chẳng có tùy tùng hộ vệ, họ cải trang thành những người dân bình thường.

Nguyên Hà đóng vai một tiên sinh hành nghề viết chữ, khoác trên người một chiếc áo vải cũ, tóc bạc, lưng hơi còng, tay luôn mang theo nghiên mực, bút lông và một túi giấy. Ông tự nhận mình là một lão nho sinh phiêu bạt, chuyên viết câu đối, thư từ và khế ước thuê mướn cho người dân, lấy tên là Trần Nhĩ.

Hứa Chung thì hoàn toàn trái ngược, mặc áo vải thô, vai vác một chiếc rìu lớn, trên lưng đeo bó củi, chân đi đôi giày rơm đã cũ, lấy tên là Trình Sư. Thân hình cao lớn, vai rộng, cánh tay rắn chắc y như một vị tiều phu đốn củi, khiến chẳng ai nghĩ y là một vị Nguyên soái thống lĩnh đại quân nước Soái.

Hai người cứ thế theo một đoàn dân buôn vượt qua biên ải. Qua khỏi biên ải, hai người không lập tức tiến về thành lớn mà chọn vùng Thạch Xá có dân cư đông đúc, trà trộn vào các thôn xóm, chợ búa và quán trà.

Nguyên Hà nhanh chóng phát hiện ra điều mà những mật báo từ xa không thể truyền tải hết thực trạng. Nước Tùy đang thực sự mục ruỗng từ bên trong, người dân không còn tin quan phủ, thương nhân sợ quan binh, nông dân oán thuế khóa. Những gia đình có người bị bắt vì tội đồng đảng sống trong cảnh ngày đêm thấp thỏm.

Nguyên Hà hiểu rằng đây chính là mảnh đất tốt nhất để gieo mầm biến loạn. Ông bắt đầu hành nghề viết chữ ngay tại các khu chợ. Ban đầu chỉ là viết thư cho những người không biết chữ, sau đó là viết khế ước, đơn từ, thư gửi người thân. Nhờ vậy, Nguyên Hà có cơ hội tiếp xúc với đủ hạng người.

Nguyên Hà nghe một người nông dân kể chuyện ruộng đất bị quan lại chiếm đoạt, một người phu than thở về khoản thuế ngày một nặng, một góa phụ kể rằng chồng mình bị bắt chỉ vì từng đứng xem dân chúng biểu tình. Nghe những người từng được Bảo Đức giúp đỡ nhắc lại chuyện gia đình ông bị triều đình bức hại.

Nguyên Hà chỉ ngồi im, lắng nghe, đến khi người ta hỏi:

-Tiên sinh nghĩ chuyện này phải làm sao?

Nguyên Hà chậm rãi giải thích:

-Dân chúng sợ quan phủ, bởi quan phủ có đao kiếm, nhưng quan phủ cũng phải sống nhờ dân. Không có dân cày ruộng thì lấy đâu ra lương thực? Không có dân buôn bán thì lấy đâu ra thuế? Không có dân đóng quân thì lấy đâu ra binh lính. Triều đình tưởng rằng thiên hạ thuộc về chúng, nhưng thiên hạ này vốn do hàng vạn hàng vạn người cùng dựng nên.

Dân chúng ở Thạch Xá nghe Nguyên Hà nói vậy đều cho là phải, liền ở lại tám chuyện hồi lâu. Những lời ấy của Nguyên Hà không giống tiếng hô hào của một kẻ nổi loạn, chúng giống như những câu hỏi khiến người nghe tự mình suy nghĩ. Và đó chính là điều Nguyên Hà muốn, ông không cần lập tức khiến dân chúng cầm dao đứng lên, ông muốn trước tiên khiến họ không còn tin rằng triều đình là thứ không thể chống lại.

Ngày qua ngày, tiếng tăm của lão viết chữ dần lan ra, người ta gọi ông là Trần tiên sinh. Có người tìm đến chỉ để hỏi một câu, có người đến kể chuyện nhà mình, có người chỉ ngồi uống trà rồi nghe ông luận chuyện thời cuộc. Nguyên Hà bắt đầu liên kết những người bất mãn lại với nhau. Một người bị quan phủ chiếm ruộng được ông giới thiệu với một người từng chịu cảnh tương tự. Một thương nhân mất hết hàng hóa được ông dẫn đến gặp những chủ buôn khác cũng từng bị bóc lột. Những người vốn xa lạ dần nhận ra rằng nỗi khổ của mình không phải chuyện riêng.

Ở một nơi khác, Hứa Chung cũng âm thầm xây dựng ảnh hưởng của mình, y vẫn ngày ngày lên núi đốn củi, ít nói, sống như một tiều phu nghèo. Nhưng mỗi khi trong thôn xảy ra tranh chấp với bọn du côn hoặc quan binh, Hứa Chung thường là người đứng ra tương trợ người dân.

Có lần một nhóm quân lính say rượu đến quấy phá một quán rượu, đánh đập dân chúng, Hứa Chung chỉ bước tới, đặt bó củi xuống đất rồi lao vào can quân lính. Một tên lính cười nhạo, vung giáo đánh y, Hứa Chung nghiêng người tránh khỏi mũi giáo, chộp lấy cán rồi bẻ gãy. Tên lính còn chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra đã bị Hứa Chung quật ngã. Những người còn lại đồng loạt xông tới. Hứa Chung không hề lùi bước, chỉ trong chốc lát, cả toán lính đều bị Hứa Chung đánh cho nằm dưới đất.

Hứa Chung lạnh lùng nói:

-Đừng tưởng có mặc áo lính thì muốn làm gì cũng được!

Từ hôm đó, người trong vùng bắt đầu truyền nhau về một tiều phu có võ nghệ cao cường, họ gọi y là Trình đại ca.

Dần dần, những thanh niên trong các thôn xóm tìm đến học võ, Hứa Chung không nói mình là ai, chỉ vui vẻ nhận lời mà không thu đồng tiền phí nào. Hứa Chung chỉ dạy họ cách tự bảo vệ bản thân, cách giữ đội hình, cách dùng gậy gỗ, dao rừng và những thứ công cụ vốn có trong tay.

Bề ngoài, đó chỉ là những người dân học võ để phòng thân, nhưng trong mắt Hứa Chung, đó chính là những hạt giống đầu tiên của một lực lượng có thể đứng lên khi thời cơ đến.

Nguyên Hà và Hứa Chung cứ thế đi khắp vùng sầm uất của Thạch Xá, một người dùng lý lẽ để thu phục lòng người, một người dùng võ nghệ để bảo vệ những người đã đứng về phía họ. Nguyên Hà biết rõ rằng chỉ có lòng phẫn nộ thì chưa đủ làm nên đại loạn, phẫn nộ cần một người khiến nó có phương hướng. Hứa Chung cũng hiểu rằng chỉ có võ lực thì chưa đủ, võ lực cần một lý do để người dân sẵn sàng đi theo. Chính vì vậy, hai người bổ trợ cho nhau một cách hoàn hảo.

Thế rồi uy tín của Hứa Chung, tức Trình Sư lan truyền trong dân chúng nước Tùy một cách nhanh chóng qua sự việc nọ. Một gia đình nghèo trong thôn có người con trai bị bắt vì bị vu là thông đồng với loạn dân. Người mẹ già chạy khắp nơi cầu cứu, nhưng không một quan lại nào chịu tiếp đơn. Người mẹ tuyệt vọng, thế rồi dân chúng Thạch Xá bảo bà tới gặp Hứa Chung nhờ giúp đỡ, bà lập tức đi ngay. Hứa Chung nghe chuyện liền tìm đến nha môn, y không có tiền, không có chức tước, cũng chẳng có người chống lưng, chỉ có một thân võ nghệ.

Quan phủ đuổi Hứa Chung ra ngoài, y kiên quyết không đi. Đến khi lính canh định dùng vũ lực, Hứa Chung đứng trước cổng nha môn, nói một câu khiến đám đông phía sau trầm trồ:

-Người dân sợ các ngươi vì trong tay các ngươi có đao, nhưng đao của các ngươi cũng không thể biến người vô tội thành kẻ có tội.

Lời ấy được truyền đi khắp chợ, mọi người bỏ công việc dang dở chạy tới xem. Người dân vốn đã căm phẫn, nay lại càng tụ tập đông hơn.

Hứa Chung không hô hào họ đánh nhau, y chỉ đứng đó, yêu cầu quan phủ đưa người bị bắt ra đối chất, dân chúng xung quanh cũng bất bình, hùa vào đòi công lý cho nhà bà lão. Tên quan phủ vùng này tính tình vốn cũng nhu nhược, thấy có kẻ bặm trợn ngoài kia cùng rất nhiều dân chúng nhìn vào, không dám sai quân đàn áp, đành làm theo ý Hứa Chung, đưa phạm nhân ra đối chất.

Cuối cùng, vì không có chứng cứ, người thanh niên kia được thả, hai mẹ con ôm nhau mừng rỡ, dân chúng xung quanh thấy chuyện vui ấy cũng hò reo không ngớt, cho là Hứa Chung tài giỏi. Từ hôm ấy, Hứa Chung trở thành một cái tên đặc biệt trong mắt dân chúng.

Có lần một phú hộ có quan hệ mật thiết với quan phủ trong vùng đánh chết người làm thuê chỉ vì người này làm hỏng một kiện hàng đắt đỏ. Gia đình nạn nhân đến xin Hứa Chung giúp đỡ. Y lập tức tìm đến nhà phú hộ.

Phú hộ cười nhạt:

-Ngươi là cái thá gì mà dám đến đây sủa càn?

Hứa Chung đáp:

-Ta chẳng là gì cả, nhưng mạng người cũng chẳng phải thứ mà nhà ngươi có thể dùng tiền mua.

Hứa Chung đứng ra đưa gia đình nạn nhân đến gặp những người dân khác trong vùng. Hàng trăm người cùng làm chứng cho những việc làm của tên phú hộ. Sự việc cuối cùng lan đến quan phủ, phú hộ vốn có quan hệ với quan lại nên ban đầu vẫn tìm cách thoát tội. Nhưng lần này dân chúng không chịu im lặng, họ đồng loạt đứng trước nha môn, Hứa Chung đứng ở phía trước.

Y nói:

-Chúng ta không xin quan phủ ban ơn, chúng ta chỉ đòi thứ vốn thuộc về mình.

Trước sức ép của số đông, nhân chứng, vật chứng rõ ràng, tên quan phủ một lần nữa phải nhượng bộ, bắt tên phú hộ phải chịu tội.

Người ta bắt đầu tìm đến Hứa Chung mỗi khi gặp chuyện bất công, có người bị cường hào chiếm ruộng, có người bị thương lái quyền thế ép giá, có góa phụ bị nha dịch vòi tiền, có người có người thân bị bắt oan,...

Hứa Chung chẳng phải quan lại, vậy mà những người khốn khổ ấy lại tìm đến y trước cả khi nghĩ đến việc tìm đến nha môn. Y giúp được thì giúp, không giúp được thì đứng ra bảo vệ. Dần dần, người dân nhận ra Hứa Chung có một tính cách rất khác thường, trong mắt họ, y là người có thể khiến kẻ yếu thế dựa vào lúc khó khăn nhất.

Nhưng tất cả những điều ấy không hoàn toàn là ngẫu nhiên, phía sau Hứa Chung luôn có một người âm thầm quan sát và đưa ra đường lối cho y, đó chính là Nguyên Hà.

Ban ngày, Nguyên Hà vẫn đóng vai lão viết chữ, ngồi trong góc chợ với nghiên mực và vài tờ giấy cũ. Ông nghe từng câu chuyện về Hứa Chung, rồi khi có người nhắc đến vị tiều phu kia, ông lập tức phụ họa.

-Ta sống từng này tuổi rồi, chưa từng thấy người nào có khí phách như tên họ Trình đó!

Có người hỏi:

-Tiên sinh thấy Trình đại ca thế nào?

Nguyên Hà đáp:

-Lão phu xưa nay luôn nể phục những kẻ can đảm và có ý chí như vậy, sẵn sàng ra tay tương trợ người khác.

Rồi Nguyên Hà kể lại những việc Hứa Chung từng làm, thêm vào đó những lời bình luận khiến hình ảnh Hứa Chung trong mắt dân chúng ngày càng cao lớn.

-Trình Sư có sức mạnh nhưng rất hiếm khi dùng vũ lực để ức hiếp người khác.

-Y giỏi võ nghệ nhưng không tham tiền bạc.

-Y có thể đánh người, nhưng chỉ đánh kẻ làm điều bất nghĩa.

-Trình Sư chính là người mà dân chúng có thể gửi gắm, không phải triều đình thối nát kia!

Những lời ấy nghe qua tưởng chỉ là lời khen của một ông già, nhưng Nguyên Hà biết rất rõ mình đang làm gì. Ông không trực tiếp đứng lên kêu gọi dân chúng nổi loạn, ông chỉ khiến họ tự hỏi:

"Nếu Trình Sư đứng ra, liệu chúng ta có thể đi theo ông ấy không?"

Mỗi khi có người tới than thở về sự bất công của mình, Nguyên Hà đều nói:

-Ngươi đừng vội nản chí, muốn chống lại cường quyền, trước hết phải biết vì sao mình đứng lên. Nếu ngươi nghĩ mình chưa đủ can đảm, hãy tới gặp Trình Sư mà nhờ giúp đỡ!

Cứ như thế, Hứa Chung đã trở thành người mà dân chúng tìm đến khi bị cường quyền áp bức, còn Nguyên Hà trở thành một vị tiên sinh thông tuệ, đứng sau những lời nói có thể kết nối họ lại với nhau.

Những việc xảy ra ở Thạch Xá ban đầu chỉ được triều đình xem như những vụ tranh chấp nhỏ. Một tiều phu đánh mấy tên nha dịch, một nhóm dân chúng tụ tập trước nha môn, một vài gia đình tìm đến Trình Sư kêu oan... Đối với triều đình, tất cả chẳng qua chỉ là những đốm lửa nhỏ, dùng vài đội quân là có thể dập tắt.

Nhưng rồi những báo cáo từ Thạch Xá lần lượt được đưa về kinh thành như sau:

"Trình Sư có hàng trăm người theo, hắn thường xuyên xuất hiện tại những nơi có dân chúng bất mãn. Những người bị áp bức đều tìm đến hắn, có kẻ đã bắt đầu gọi hắn là người đứng về phía dân."

Đến bản báo cáo thứ mười, triều đình Tùy mới thực sự nhận ra vấn đề. Một kẻ tiều phu không đáng sợ, đáng sợ là một kẻ tiều phu có thể khiến hàng nghìn người tin tưởng mình. Tùy Vương nổi giận, lập tức hạ lệnh cho quan phủ đến bắt Hứa Chung.

Mệnh lệnh được truyền xuống rất kín đáo, triều đình không muốn biến Hứa Chung ngày càng trở thành một người hùng trong mắt dân chúng, vì vậy không được công khai nói hắn là phản loạn. Quan phủ chỉ được phép bắt với tội danh gây rối trị an, tụ tập dân chúng trái phép và đánh người của nha môn.

Một đội quân được phái đến vùng Thạch Xá, quan phủ tưởng rằng chỉ cần bắt được người cầm đầu thì đám đông tự nhiên sẽ tan. Nhưng chúng không biết rằng Nguyên Hà đã sớm nghe được tin.

Đêm ấy, trong căn nhà nhỏ ven rừng, Hứa Chung nhìn Nguyên Hà, nói:

-Chúng tới rồi, Thừa tướng, chúng ta bây giờ phải làm thế nào? Có nên tụ tập dân chúng đánh trả bọn chúng không?

Nguyên Hà bật cười:

-Nếu đánh, dù ngươi có dũng mãnh đến đâu thì chúng ta thắng được một trận nhưng mất cả thế cờ.

Hứa Chung hỏi:

-Không đánh thì để chúng bắt sao?

Nguyên Hà lắc đầu:

-Không, chúng ta sẽ để chúng tự nói cho thiên hạ biết chúng đang sợ điều gì!

Nguyên Hà trải một tấm bản đồ đơn sơ lên bàn, ông đã quan sát rất kỹ tình hình trong nhiều ngày. Ông biết quân phủ sắp tới có khoảng vài trăm người, nhưng cũng biết một điều quan trọng hơn, binh lính phần lớn là người địa phương. Họ cũng có cha mẹ, có vợ con, có ruộng đất. Có những người thân đang sống trong chính những ngôi làng mà họ sắp được lệnh đến đàn áp.

Nguyên Hà nói:

-Không được chủ động tấn công, không được giết quan binh, không được cướp phá!

Hứa Chung hỏi:

-Vậy chúng ta làm gì?

Nguyên Hà chỉ vào tấm bản đồ, đáp:

-Ta muốn tất cả dân chúng trong vùng biết trước rằng quân triều đình đang tới. Nhưng thay vì trốn chạy, họ phải cùng nhau đứng ra chứng kiến.

Ngay trong đêm, Hứa Chung kêu gọi mọi người loan tin tức ấy. Chẳng mấy chốc, người dân từ làng này đến làng khác, kháo nhau rằng:

-Quan binh sắp đến bắt Trình đại ca! Trình đại ca dặn rằng không được đánh nhau, không được chống cự, chỉ cần tất cả cùng đứng đó.

Sáng hôm sau, khi quân phủ tiến vào một ngôi làng, chúng không gặp một nhóm loạn dân cầm dao kiếm như quan phủ tưởng tượng. Chúng gặp hàng trăm người dân đứng hai bên đường, từ người già, đàn bà, trẻ nhỏ, nông dân, thợ thủ công.

Kỳ lạ thay, điều quan binh không ngờ rằng không có ai tấn công, không ai ném đá, không ai chửi mắng gì cả, tất cả chỉ im lặng nhìn.

Ở cuối con đường, Hứa Chung đứng một mình, người không mặc giáp trụ, chỉ mặc bộ áo tiều phu cũ.

Tên đội trưởng dẫn đầu đám binh lính xông tới, quát:

-Trình Sư và những kẻ đi theo ngươi bị bắt vì tội tụ tập dân chúng, chống lệnh quan phủ!

Hứa Chung không đáp lại, Nguyên Hà đứng trong đám đông lặng lẽ quan sát.

Thế rồi , Nguyên Hà bước lên phía trước, cúi đầu nói:

-Quan quân muốn bắt người, cứ bắt, nhưng trước hết xin hỏi một câu để cho dân chúng được biết!

Tên đội trưởng quát:

-Hỏi gì?

Nguyên Hà chỉ vào đám đông:

-Những người này phạm tội gì?

Tên đội trưởng đáp:

-Chúng là đồng đảng!

Nguyên Hà hỏi tiếp:

-Đồng đảng là những ai, dựa theo tiêu chí nào, vì đã đứng ở đây bên cạnh Trình Sư sao?

Tên đội trưởng ngơ ngác, rồi lắp bắp:

-Thì... thì đúng!

Nguyên Hà tiếp tục hỏi:

-Vậy người bán hàng ngoài chợ hôm qua được Trình Sư giúp có phải đồng đảng không?

-Phải!

-Người nông dân từng nhờ Trình Sư giúp lấy lại ruộng thì sao?

-Phải!

-Người đàn bà có chồng bị bắt oan thì sao?

Tên đội trưởng mất kiên nhẫn:

-Tất cả đều là đồng đảng!

Tiếng xì xào lập tức lan khắp đám đông, Nguyên Hà quay lại nhìn mọi người, ánh mắt thông thái của ông như thuyết phục tất cả mọi người xung quanh. Ông nói:

-Ta chỉ hỏi vậy thôi, không cần biết gì thêm!

Chính câu trả lời của tên đội trưởng đã thay Nguyên Hà nói lên tất cả.

Một người lính trẻ trong đội quân tiến đến khẽ cúi đầu, anh ta nhận ra một người trong đám đông, đó là mẹ mình. Bà đang đứng cuối hàng, tay run rẩy. Một người khác cũng nhận ra anh trai, rồi người thứ ba nhận ra hàng xóm của mình. Tất cả bọn họ đều là láng giềng gần xa, là người thân ruột thịt.

Đội quân bắt đầu dao động, Nguyên Hà nhìn thấy tất cả, ông biết mình đã thắng một nửa. Nhưng nước cờ còn lại mới là điều quan trọng nhất. Nguyên Hà quay sang Hứa Chung và nói đủ lớn để mọi người đều nghe thấy:

-Trình Sư, chúng ta có thể dùng võ lực đánh đuổi họ. Nhưng nếu làm vậy, ngày mai triều đình sẽ nói rằng chúng ta là phản loạn. Vậy nên hôm nay, ngươi hãy làm điều mà triều đình không thể làm.

Hứa Chung hỏi:

-Điều gì?

Nguyên Hà đáp:

-Tha cho họ.

Hứa Chung gật đầu hiểu ý, nhìn đội quân trước mặt, y bước lên một bước, rồi tháo chiếc rìu đang đeo bên người đặt xuống đất, nói:

-Ta không đánh các ngươi, nếu các ngươi được lệnh bắt ta, cứ tới mà bắt. Nhưng ta chỉ hỏi các ngươi một câu, các ngươi bắt ta vì ta giết người?

Những người lính đều lắc đầu. Hứa Chung hỏi tiếp:

-Vì ta cướp của?

Hứa Chung nhìn chung quanh những người lính ấy đều im lặng, y hỏi:

-Hay vì ta bảo vệ những người dân này?

Đám lính lắc đầu phủ nhận.

Hứa Chung nói:

-Các ngươi cũng là dân, cha mẹ các ngươi cũng là dân, vợ con các ngươi cũng là dân. Nếu hôm nay các ngươi phụng mệnh bắt một người vô tội, ngày mai khi chính gia đình các ngươi gặp oan khuất, ai sẽ đứng ra bảo vệ?

Tên đội trưởng nghiến răng, ra lệnh:

-Triều đình đã ban lệnh xuống, bắt hắn!

Không một người lính nào bước lên cả, tất cả đều đứng như trời trồng. Hắn quát lần thứ hai, vẫn không ai nhúc nhích. Một người lính cuối cùng bước ra, nhưng thay vì tiến về phía Hứa Chung, hắn quỳ xuống, thưa:

-Đội trưởng, ta không thể.

Tên đội trưởng rút kiếm, quát:

-Ngươi dám kháng lệnh?

Người lính cúi đầu, chỉ về phía dân chúng:

-Cha tôi cũng đứng trong số họ!

Một người lính khác bước ra, nói:

-Tôi cũng có người thân đứng ở đây!

Rồi người thứ ba, thứ tư, cuối cùng, cả đội quân đứng yên. Không phải vì Hứa Chung dùng võ lực đánh bại họ, mà bởi họ không còn muốn trở thành công cụ chống lại chính đồng bào mình.

Hứa Chung quay sang đám đông, nói:

-Nhường đường cho họ!

Tên đội trưởng tức lắm mà không làm gì được, thân cô thế cô, bèn quát:

-Các ngươi giỏi lắm, ta sẽ tâu lên trên chuyện này!

Dân chúng từ từ tránh sang hai bên, đội quân Tùy lặng lẽ rút lui. Không một người bị thương, không một ngôi nhà bị đốt, không một giọt máu đổ xuống đường. Tin tức về chuyện ấy lại lan đi với tốc độ chưa từng có.

-Trình đại ca không dùng vũ lực mà có thể đánh thắng quân phủ!

-Hắn để quân lính tự lựa chọn!

-Hắn không giết một ai!

-Còn triều đình chỉ muốn bắt tất cả những người đứng về phía hắn!

Nguyên Hà đứng phía sau, lặng lẽ nhìn đám đông, ông hiểu rằng đây mới chính là điều mình muốn. Trong mắt dân chúng, điều đó còn đáng sợ đối với triều đình hơn cả một trận thắng. Bởi nếu Hứa Chung chỉ là một võ phu, triều đình có thể dùng quân đội tiêu diệt y, nhưng nếu Hứa Chung trở thành người mà dân chúng tự nguyện bảo vệ, thì muốn bắt một Hứa Chung đồng nghĩa với việc phải đối đầu với tất cả những người tin tưởng hắn.

Và Nguyên Hà vẫn tiếp tục đóng vai tiên sinh viết chữ, ông kể lại câu chuyện hôm ấy cho tất cả mọi người:

-Các ngươi tự nhìn mà xem, triều đình quyền lực đã đem quân đến, người dân không quyền lực chỉ đứng đó. Cuối cùng, ai phải quay về?

Dân chúng tự có câu trả lời, từ ngày ấy, số người tìm đến Hứa Chung tăng lên nhanh chóng. Nhưng lần này, họ không chỉ tìm đến để xin giúp đỡ, họ tìm đến để nói một câu:

-Nếu ngày nào triều đình lại tới bắt Trình đại ca, chúng tôi sẽ sát cánh cùng huynh.

Và từ đó, cái tên Trình Sư không còn chỉ được truyền trong Thạch Xá, nó bắt đầu lan khắp nước Tùy.
 
Sửa lần cuối:
Chương 95: Trong ứng ngoài hợp, Soái tấn công Tùy

c95.png


Sau khi toán quân triều đình rút khỏi Thạch Xá, dân chúng trong vùng tưởng rằng cuối cùng họ đã có thể thở phào. Những ngày trước đó, quân lính Tùy kéo đến với khí thế hung hãn, ai nấy đều nghĩ Trình Sư phen này khó thoát. Vậy mà cuối cùng, quân triều đình chẳng những không bắt được y, mà còn phải lặng lẽ rút đi giữa sự chứng kiến của hàng trăm người dân.

Đêm hôm ấy, trong Thạch Xá có người đốt đuốc ăn mừng, những người từng khiếp sợ quan binh nay bắt đầu nói với nhau rằng:

-Hóa ra quân triều đình cũng không phải không thể chống lại!

-Trình đại ca đã khiến chúng phải lui đó!

-Chúng ta có người đứng ra rồi!

Nhưng giữa lúc mọi người đang phấn khởi, Nguyên Hà lại không hề vui mừng. Ông ngồi một mình bên ngọn đèn, nhìn bản đồ nước Tùy trải trên bàn rất lâu.

Hứa Chung cùng một vài người thân cận bước vào, thấy sắc mặt ông liền hỏi:

-Tiên sinh còn lo chuyện gì?

Nguyên Hà ngẩng đầu, đáp:

-Ta đang lo chính việc hôm nay!

Hứa Chung hỏi:

-Quân triều đình đã lui rồi, cớ sao tiên sinh còn lo nghĩ?

Nguyên Hà đáp:

-Chính vì chúng lui nên ta mới lo. Triều đình Tùy đã biết nơi này có một Trình Sư có hàng trăm, thậm chí hàng nghìn dân chúng đứng về phía mình, và chúng cũng biết hôm nay quân lính đã mất mặt thế nào. Một triều đình có thể chịu mất vài trăm quân, có thể chịu mất một nha môn, nhưng chúng tuyệt đối không thể chịu được việc một toán quân triều đình bị dân chúng ép phải rút lui.

Một người dân nói:

- Trần tiên sinh nói rất phải, thứ đáng sợ nhất không phải những gì vừa xảy ra ở Thạch Xá, mà là tin tức ấy sẽ lan đi. Nếu những nơi khác biết rằng dân chúng Thạch Xá có thể chống lại quân triều đình, những cuộc nổi dậy vốn đang rời rạc sẽ càng trở nên mạnh mẽ. Nếu triều đình để chuyện ấy tiếp tục, quyền thống trị của chúng sẽ thực sự lung lay.

Nguyên Hà gật đầu, nói:

-Ngày hôm nay chúng ta thắng một trận, nhưng cũng từ hôm nay, triều đình sẽ coi Thạch Xá là cái gai phải nhổ bằng mọi giá.

Quả nhiên, chỉ vài ngày sau, tin từ những người đưa thư bí mật lần lượt truyền về, quân triều đình đang tập hợp, không còn là một toán nha dịch địa phương, triều đình đang điều quân từ các huyện lân cận về. Thậm chí có tin rằng một viên tướng trong kinh thành đã được giao quyền thống lĩnh đại quân, chuẩn bị tiến vào Thạch Xá.

Nghe đến đó, những người đứng đầu các thôn xóm bắt đầu lo lắng, trong căn nhà lớn nhất Thạch Xá, dân chúng tụ tập đông nghịt.

Hứa Chung ngồi ở phía trước, Nguyên Hà ngồi bên cạnh.

Một lão nhân đứng lên nói:

-Lần trước chúng ta có thể khiến trăm quân phải lui, nhưng nếu lần tới là cả vài ngàn người thì sao?

Một người khác tiếp lời:

-Chúng ta có gậy gộc, dao rừng, cung săn, nhưng quân triều đình có giáp trụ, cung nỏ và chiến mã, chúng ta lấy gì chống?

Căn phòng dần im lặng, không ai muốn thừa nhận, nhưng tất cả đều hiểu một sự thật. Rằng, dân chúng có thể thắng một trận nhờ lòng người, địa thế và bất ngờ, nhưng không thể mãi lấy máu thịt chống lại một đạo quân chính quy của triều đình.

Nguyên Hà im lặng lắng nghe mọi người nêu ý kiến của mình. Sau đó ông nói:

-Chúng ta cần một thứ mà Thạch Xá không có!

Hứa Chung hỏi:

-Quân đội?

Nguyên Hà gật đầu:

-Đúng!

Một người lập tức lắc đầu:

-Nước Tùy nắm quân đội khắp mọi nơi, chúng ta đi đâu tìm quân?

Nguyên Hà đáp:

-Soái!

Cả căn phòng xôn xao, nước Soái nằm ngay bên ngoài biên giới. Đó là một nước có binh lực hùng mạnh, lương thảo dồi dào, lại từ lâu đã có tham vọng đối với đất Tùy.

Một người trung tuổi gằn giọng, hỏi:

-Như vậy chẳng phải là rước ngoại bang về đánh quê hương sao?

Nguyên Hà nói:

-Ngươi nói như vậy là chỉ hiểu một nhưng không hiểu mười. Ta hỏi tất cả mọi người ở đây, ở hiện tại, giữa triều đình Tùy và triều đình Soái các ngươi căm ghét ai hơn?

Người đó đáp:

-Đương nhiên là ghét triều đình Tùy rồi!

Nguyên Hà nói tiếp:

-Các ngươi nghe ngóng tin tức về nước Soái cả rồi, họ có luật pháp rất nghiêm minh, tuy nghiêm khắc nhưng ai ai cũng công bằng như nhau, không phân biệt quyền quý, sang hèn. Vậy giữa luật pháp hai nước thì các ngươi chọn cái nào?

Người đó ậm ừ, nói:

-Đương nhiên là sự công bằng, ai mà chẳng muốn. Thế nhưng dù sao Soái cũng là ngoại bang, cầu cứu quả là không hay!

Nguyên Hà nói:

-Ngươi phải nhìn rộng ra, triều đình Tùy và quê hương Tùy là hai thứ không liên quan đến nhau. Triều đình Tùy chỉ thay mặt người dân Tùy quản lý, nay triều đình ác bá, thối nát, thì nhờ cậy nước Soái đánh ở đây là đánh triều đình, không phải đánh nước Tùy, ngươi chớ nên nhầm lẫn.

Người đó nghe xong như được khai sáng, cúi đầu nói:

-Tiên sinh dạy rất phải!

Một người dân khác dè dặt hỏi:

-Nhưng nước Soái có chịu giúp chúng ta không?

Nguyên Hà đáp:

-Nước Soái không phải thiện nhân, không có chuyện họ đem quân cứu dân Tùy chỉ vì thương xót. Nếu muốn Soái Vương ra tay, phải cho ông ta thấy rằng giúp Tùy chính là cơ hội để nước Soái đạt được lợi ích lớn hơn.

Hứa Chung hỏi:

-Tiên sinh nói rõ hơn xem!

Nguyên Hà đáp:

-Chúng ta không phải nhờ họ cứu chúng ta, phải để họ hiểu rằng cứu chúng ta cũng chính là mở cửa cho chính họ. Triều đình Tùy đang tập trung quân về Thạch Xá, nếu nước Soái xuất binh đúng lúc này, quân Tùy sẽ buộc phải chia quân. Nếu triều đình quay quân về phía Soái, Thạch Xá có cơ hội sống. Nếu triều đình tiếp tục đánh chúng ta, Soái quân có thể tiến sâu vào biên giới Tùy. Đối với nước Soái, đây không phải là cứu một vùng dân chúng, đây là thời cơ mà có lẽ họ đã chờ đợi từ lâu.

Những người trong phòng bắt đầu hiểu ra, nhưng có người vẫn lo lắng:

-Nếu nước Soái tiến vào, liệu họ có thực sự giúp chúng ta hay chỉ nhân cơ hội chiếm đất?

Câu hỏi khiến căn phòng im lặng. Nguyên Hà không né tránh, ông đáp:

-Không ai cho chúng ta thứ gì miễn phí, ngay cả nước Soái cũng vậy. Hiện tại, chúng ta có hai con đường, một là ngồi đây chờ đại quân Tùy kéo tới. Hai là biến cuộc chiến của Thạch Xá thành cuộc chiến mà nước Soái không thể đứng ngoài.

Hứa Chung nhìn Nguyên Hà:

-Tiên sinh đã có đối sách gì chăng?

Nguyên Hà nói:

Ta muốn gửi thư cho Soái Vương... À không... Không thể gửi một bức thư cầu cứu bình thường, phải gửi cho ông ta một cơ hội.

Nguyên Hà lấy giấy bút ra, người dân xung quanh bắt đầu xúm lại chăm chú xem ông viết gì. Ông viết rất chậm, trong thư không có những lời than khóc, không có lời cầu xin thương hại, chỉ có tình thế của nước Tùy được trình bày rõ ràng.
Triều đình đang đàn áp dân chúng, các phủ huyện lần lượt bất ổn, quân Tùy đang bị phân tán, Thạch Xá đã trở thành điểm tập trung của lực lượng chống đối. Nếu Soái Vương đưa quân tới biên giới ngay lúc này, nước Tùy sẽ buộc phải điều quân đối phó, mà một khi quân Tùy bị kéo căng trên nhiều hướng, cục diện sẽ thay đổi hoàn toàn. Cuối thư, Nguyên Hà viết một câu:

"Cơ hội đánh Tùy không phải ngày nào cũng có, nhưng cơ hội này, Đại vương không cần tự mình tạo ra, nó đã tự xuất hiện ngay trước cửa nước Soái."

Hứa Chung hỏi:

-Nhưng ai sẽ mang thư?

Nguyên Hà nhìn ra ngoài cửa.

-Người không ai nghi ngờ.

Đêm hôm đó, một thương nhân buôn rượu rời khỏi Thạch Xá, không ai biết trong chiếc xe hàng của hắn có một bức thư được giấu dưới đáy thùng. Cũng không ai biết người thương nhân ấy vốn là một mật thám của nước Soái đã được Nguyên Hà liên lạc từ trước.

Ba ngày sau, bức thư đến tay Soái Vương.

Soái Vương cười:

-Nguyên Hà quả nhiên không làm ta thất vọng.

Soái Vương vốn đã muốn đánh Tùy, nhưng trước đây, đánh Tùy nghĩa là phải tự mình tìm một cái cớ. Bây giờ thì khác, chính người Tùy đang mở cửa cho y.

Hứa Chung đứng bên ngoài nhìn những người dân đang sửa lại hàng rào, đào hào và chuẩn bị lương thực. Y cùng Nguyên Hà cùng nhau tung hứng, làm tăng thêm lòng quyết tâm của dân chúng vùng Thạch Xá.

Hứa Chung hỏi:

-Nếu Soái Vương không giúp thì sao?

Nguyên Hà đứng cạnh y, nhìn về phía chân trời:

-Vậy chúng ta vẫn phải đánh.

Hứa Chung cười:

-Ta cũng nghĩ vậy!

Nguyên Hà nói tiếp:

-Nhưng ta tin rằng Soái Vương sẽ không bỏ qua cơ hội này!

Phía xa, tiếng búa của dân chúng vang lên từng hồi, những người từng chỉ biết làm ruộng, đốn củi, buôn bán nay bắt đầu học cách tổ chức phòng thủ. Lần đầu tiên, trong lòng họ xuất hiện một niềm hy vọng khác, không còn là hy vọng triều đình Tùy sẽ tha cho họ, mà là hy vọng rằng bên ngoài những bức tường nước Tùy, đã có một thế lực đủ mạnh để thay đổi toàn bộ cục diện.

Còn Nguyên Hà và Hứa Chung đều hiểu rõ hơn bất kỳ ai, một khi nước Soái đưa quân qua biên giới, ông và Hứa Chung sẽ không còn chỉ là những kẻ dẫn dân chúng chống lại một viên quan hay một đạo quân, họ sẽ là đầu tàu dẫn dắt nước Soái đánh chiếm lấy nước Tùy.

Một tuần sau, quả đúng như Nguyên Hà dự tính, triều đình Tùy quyết phải nhổ được cái gai Thạch Xá. Biết rằng người dân nơi đây một lòng bảo vệ Trình Sư, triều đình Tùy huy động năm ngàn binh mã tới để đàn áp Thạch Xá. Mệnh lệnh của triều đình ban xuống rất rõ ràng:

"Dẹp loạn Thạch Xá, bắt Trình Sư và những kẻ đứng sau cuộc nổi loạn. Ai chống lệnh, xử theo phản nghịch, chém cả họ"

Tin ấy truyền đến Thạch Xá vào buổi chiều, người trong làng nghe xong đều im lặng. Năm nghìn quân không còn giống đội quân nhỏ lần trước, đó là một đạo quân đủ lớn để bao vây cả vùng, cắt đường lương thực, đốt làng mạc và lần lượt bắt từng người mà triều đình cho là có liên quan.

Một lão già nói:

-Lần này chúng ta không thể dùng lời nói mà khiến chúng bỏ đi được!

Rạng sáng hôm sau, khi màn sương còn phủ kín những cánh đồng ngoài Thạch Xá, tiếng tù và của quân Tùy đã vang lên từng hồi. Từ trên những gò đất nhìn xuống, người dân Thạch Xá thấy từng hàng quân đang chậm rãi tiến tới. Giáo dài dựng như rừng, khiên lớn nối thành từng bức tường, cung thủ theo sau, tiếng vó ngựa và tiếng binh khí va vào nhau khiến mặt đất dường như rung chuyển.

Không còn đường lui, những người dân vốn chỉ là nông phu, thợ săn, phu khuân vác, giờ đây đều cầm trong tay những thứ vũ khí thô sơ nhất, đó là cuốc, rìu, giáo gỗ, dao săn.

Hứa Chung đứng giữa đình, bàn tay đặt lên cán rìu, hô hào toàn bộ dân Thạch Xá chuẩn bị đối đầu với triều đình. Người dân tuy một lòng theo Hứa Chung nhưng họ vẫn rất e sợ đội quân của triều đình, nét mặt lo âu hiện rõ lên khuôn mặt họ. Nguyên Hà thấy vậy, bèn xoa dịu:

-Chư vị chớ nên lo lắng thái quá, chúng ta cố gắng trụ vững. Một khi Soái đem quân tới biên giới nước Tùy, quân lính triều đình sẽ lập tức hoảng loạn và tan rã nhanh chóng.

Người dân Thạch Xá nghe vậy cũng an tâm hơn nhiều phần, quyết sát cánh cùng Trình Sư.

Tiếng trống trận của quân Tùy vang lên "Ầm! Ầm! Ầm!". Đội quân phía trước đồng loạt tiến lên, Hứa Chung hét lớn:

-Tất cả theo ta!

Tiếng hô rung trời đáp lại:

-Giết! Giết!

Hàng nghìn người dân Thạch Xá đồng loạt xông xuống. Dân chúng và quân lính lập tức va vào nhau, tiếng binh khí vang lên chát chúa. Hàng đầu của quân Tùy tưởng rằng chỉ cần một đợt xung phong là có thể nghiền nát đám dân chúng hỗn loạn. Nhưng ngay khoảnh khắc hai bên chạm nhau, một bóng người đã lao thẳng vào giữa đội hình.

Hứa Chung, trong tay cầm song rìu lao thẳng vào trận địch, chém loạn xạ vào quân lính nước Tùy. Một tên lính vừa giơ giáo đã bị đánh bật sang bên. Hứa Chung xoay người, lưỡi rìu quét ngang, hai tên lính phía sau lập tức ngã xuống. Hứa Chung không dừng lại, y tả xung hữu đột giữa hàng quân, nơi nào xuất hiện khoảng trống, nơi ấy lập tức có bóng Hứa Chung lao tới. Một bổ, hai bổ, rồi liên tiếp những nhát chém như sấm đánh.

Quân Tùy từ kinh ngạc chuyển sang hoảng loạn, tên chỉ huy hét lên:

-Tên kia là ai?

Một tên lính thưa:

-Hắn, hắn chính là Trình Sư, kẻ triều đình đang ráo riết truy lùng!

Một tên lính vừa quay đầu đã thấy Hứa Chung đứng ngay trước mặt. Ánh mắt anh lạnh như thép, lưỡi rìu vung lên, máu bắn tung tóe. Một toán lính lập tức vây kín, Hứa Chung gầm lên, vung rìu phá vòng vây.

Chỉ trong chốc lát, hàng chục binh sĩ Tùy nằm xuống, rồi con số ấy tiếp tục tăng lên. Một trăm, hơn một trăm quân Tùy lần lượt chết dưới lưỡi rìu của Hứa Chung. Không ai trong Thạch Xá từng chứng kiến một con người có sức mạnh kinh thiên động địa như vậy.

Một lão nông đứng phía sau hét lớn:

-Trình Sư vẫn còn chiến đấu!

Một người khác gào lên:

-Trình đại ca một mình đánh cả đội quân!

Sĩ khí của dân Thạch Xá lập tức dâng cao, những người vốn đang sợ hãi bỗng đồng loạt tiến lên. Họ không còn chạy nữa, những cây giáo gỗ đâm ra, những chiếc cuốc bổ xuống. Những người phụ nữ cũng phụ giúp chuyển đá từ trên tường cao ném xuống. Những người già kéo cung, tiếng hô giết vang khắp Thạch Xá.

Nhưng chiến trường không phải nơi chỉ cần có dũng khí là đủ, quân Tùy quá đông. Một đội ngã xuống, lập tức có đội khác tiến lên. Một hàng bị phá vỡ, phía sau lại xuất hiện hàng thứ hai, cung thủ bắt đầu đồng loạt giương cung.

"Vút! Vút! Vút!"

Hàng trăm mũi tên xé gió lao xuống, người dân Thạch Xá không có áo giáp, không có khiên đủ chắc, nhiều người vừa xông lên đã ngã xuống giữa ruộng. Tiếng kêu đau đớn bắt đầu vang lên khắp chiến trường.

Một thanh niên vừa cứu được người bên cạnh khỏi mũi giáo thì chính mình bị một mũi tên cắm vào vai. Anh ta vẫn cố đứng dậy, nhưng chưa kịp bước thêm bước nào đã bị một tên lính Tùy đâm ngã.

Một người cha chạy đến kéo xác con mình, ngay lập tức, ba tên lính khác xông tới. Ông ta gào lên, dùng chiếc cuốc trong tay chống trả, nhưng chỉ vài nhịp sau cũng ngã xuống.

Sự cuồng nhiệt ban đầu dần biến thành tuyệt vọng, quân Tùy từng bước ép tới. Hứa Chung vẫn đang chiến đấu ở phía trước. Y đã chém đến mức hai cánh tay mỏi nhừ, áo ngoài nhuốm đầy máu. Nhưng nhìn quanh, Hứa Chung bắt đầu nhận ra điều đáng sợ, người chết bên phía Thạch Xá nhiều hơn từng khắc.

Hứa Chung quay đầu hét lớn:

-Không được tản ra!

Nhưng tiếng hô của Hứa Chung nhanh chóng bị tiếng trống trận và tiếng binh khí nuốt chửng. Một nhóm dân quân bị quân Tùy chia cắt, một nhóm khác bị dồn vào góc làng. Khắp nơi đều là tiếng khóc, tiếng kêu cứu và tiếng gọi tên người thân.

Hứa Chung lao tới cứu một toán dân quân đang bị vây, y chém ngã từng tên lính, mở được một đường máu. Hứa Chung quát:

-Rút vào trong làng!

Nếu tiếp tục chiến đấu ngoài đồng, toàn bộ người dân Thạch Xá sẽ bị quân Tùy nghiền nát.

Hứa Chung hét lớn lần nữa:

-Tất cả rút vào trong làng!

Những người còn sống bắt đầu tháo chạy, quân Tùy lập tức truy kích, Hứa Chung trở thành người cuối cùng lui lại. Y quay người, đứng giữa con đường đầy xác người.

Hàng trăm quân Tùy đang tiến tới, Hứa Chung giơ rìu lên, một mình chặn cả con đường. Hứa Chung nhìn thẳng vào đại quân, miệng cười lớn:

-Muốn vào Thạch Xá thì phải bước qua xác ta trước!

Quân Tùy đồng loạt gào lên và lao tới. Hứa Chung lại vung rìu. Y vừa đánh vừa lui, từng bước từng bước kéo quân Tùy ra xa những người đang rút chạy. Cho đến khi người cuối cùng của Thạch Xá đã kịp vào trong, lúc ấy Hứa Chung mới quay người chạy về.

Cánh cổng gỗ đóng sầm lại, những thanh gỗ lớn được kéo xuống. Người dân Thạch Xá lập tức dựng chướng ngại, chất bàn ghế, xe gỗ và bao đất chắn kín các lối vào. Bên ngoài, tiếng quân Tùy vang lên như sấm. Bên trong, những người sống sót nhìn nhau trong im lặng.

Có người mất cha, có người mất con, có người mất cả gia đình. Máu chảy thành từng vệt trên mặt đất. Hứa Chung đứng giữa họ, hơi thở nặng nề, chiếc rìu vẫn còn nhỏ máu. Y nhìn những người đang khóc, rồi nhìn về phía cánh cổng, y nói:

-Trận chiến đầu tiên, ta đã không bị đánh tan, nhưng Thạch Xá đã không còn khả năng giao chiến ngoài đồng. Từ giờ phút này, ta chỉ còn một con đường duy nhất, chính là cố thủ.

Có người thanh niên vô cùng hoảng loạn vì mất người thân, hỏi Hứa Chung:

-Cố thủ, cố thủ tới khi nào?

Hứa Chung đáp:

-Cố thủ cho đến khi quân Soái xuất hiện, hoặc cho đến khi toàn bộ Thạch Xá biến thành một biển máu!

Đâm lao phải theo lao, đã cưỡi lên lưng hổ, thì không còn đường nào thoái. Người dân Thạch Xá lúc này chỉ biết tập trung toàn bộ sức lực mà cố thủ, nghe theo sự chỉ đạo của Trình Sư.

Nhắc đến nước Soái, sau khi nhận được thư của Nguyên Hà gửi về, Soái Vương lập tức cử Hổ Uy, Hắc Phong làm tiên phong, thống lĩnh tám vạn binh mã hướng tới biên ải nước Tùy. Chiến thư của nước Soái nhanh chóng được gửi tới triều đình Tùy. Đồng thời, Soái Vương cho người công bố rộng rãi dọc biên giới và truyền đi khắp các vùng dân cư.

Soái Vương tuyên bố:

"Người dân Thạch Xá chịu cảnh quan quân bức hiếp, kêu trời không thấu, kêu đất không nghe. Nay triều đình Tùy lại điều đại quân đến đàn áp những người dân vô tội. Nước Soái vốn không muốn can thiệp vào nội chính nước khác, nhưng thấy dân chúng lầm than, thấy kẻ yếu không nơi nương tựa, ta không thể khoanh tay đứng nhìn. Nhân danh chính nghĩa, nước Soái xuất quân, đòi lại công lý cho bách tính nước Tùy."

Chiến thư được đóng ấn, chiến mã lập tức phi về phía biên giới. Cùng ngày hôm đó, đại quân Soái bắt đầu chuyển động.

Tin báo từ biên giới truyền về kinh thành Tùy chỉ trong vài ngày. Ban đầu, triều đình còn tưởng đó chỉ là một cuộc xung đột nhỏ. Cho đến khi viên tướng truyền tin quỳ xuống giữa đại điện:

-Bẩm chúa công, quân Soái đã tràn tới biên giới nước ta rồi!

Tùy Vương đứng bật dậy:

-Bao nhiêu quân?

Viên tướng đáp:

-Chưa rõ toàn bộ!

Một vị đại thần nói:

-Chúa công, nước Soái vốn đã nhòm ngó biên giới chúng ta từ lâu. E rằng lần này chúng lấy cớ Thạch Xá để phát động chiến tranh.

Tùy Vương đập bàn một tiếng lớn, quát:

-Quân khốn nạn, ta đã biết lũ giặc Soái chỉ lăm le nước Tùy từ lâu, nay lại nhân danh chính nghĩa mà xuất binh đánh Tùy. Ta không ngờ rằng sự việc trong nước lại bị chúng lấy làm cớ thô thiển như vậy!

Vị đại thần nói:

-Nếu Tùy tiếp tục để năm nghìn quân đánh Thạch Xá, toàn bộ biên giới phía Tây sẽ trở nên trống trải! Nếu Soái đánh vào đúng lúc ấy, Tùy sẽ không kịp trở tay.

Tùy Vương lập tức hỏi:

-Quân đánh Thạch Xá tới đâu rồi!

Một viên quan đáp:

-Đang dồn ép dân Thạch Xá cố thủ trong làng!

Tùy Vương suy nghĩ một lúc, nói:

-Truyền lệnh, rút quân từ Thạch Xá về biên giới, chuẩn bị hợp quân chống Soái. Không được để quân Soái tiến sâu vào lãnh thổ. Còn lũ dân Thạch Xá để sau xử lý vẫn chưa muộn!

Mệnh lệnh khẩn cấp lập tức được truyền xuống. Đạo quân năm nghìn người đang bao vây Thạch Xá buộc lòng phải quay đầu về biên ải.

Tùy Vương hạ lệnh huy động toàn bộ lực lượng có thể điều động ở phía Tây, gồm ba vạn binh mã. Các kho quân nhu được mở, các doanh trại được lệnh xuất quân, các huyện phải lập tức đưa binh đến biên giới.

Chỉ trong thời gian ngắn, từ nhiều nơi, từng đoàn quân ùn ùn kéo về. Tùy Vương quyết định tập trung toàn bộ lực lượng chủ lực tại biên giới, với mục tiêu duy nhất, chặn bước quân Soái.
 
Chương 96: Hứa Chung thống lĩnh đại quân Soái càn quét nước Tùy

Hua Chung.png


Nói về nước Vệ, sau khi biết tin Soái tiến đánh nước Tùy, Vệ Vương bèn truyền Tử Trọng vào bàn việc. Vệ Vương hỏi:

-Nước Soái đã phát động chiến tranh với nước Tùy, chúng ta có nên nhân cơ hội này mà đánh Soái để cứu Tùy không?

Tử Trọng lắc đầu:

-Không nên!

Vệ Vương hỏi:

-Vì sao không nên? Không lẽ chúng ta cứ khoanh tay đứng nhìn Soái thôn tính được Tùy sao?

Tử Trọng đáp:

-Nước Vệ xưa nay hành động đều đặt chính nghĩa lên hàng đầu, nhờ thế mà chư hầu mới nể phục. Nay triều đình nước Tùy đã mục ruỗng, bách tính khắp nơi lầm than, khí vận đã tàn. Thuận theo ý trời, Tùy tất sẽ bị Soái tiêu diệt, không thể khác được. Nếu nước Vệ cưỡng cầu, đưa quân can thiệp vào chiến sự nước Tùy, làm đảo lộn càn khôn, ắt sẽ rước họa vào thân, làm hao tổn vượng khí quốc gia. Chúa công nên suy tính cẩn trọng, chớ để sự nôn nóng làm hỏng việc!

Vệ Vương gật đầu:

-Lời Thừa tướng như sấm đánh ngang tai, ta đã ngộ ra được chân lý!

Nước Vệ án binh bất động, không can thiệp vào chiến sự nước Tùy. Nước Ngô cùng đồng minh phía bắc nghe tin Tùy bị đánh cũng ngoảnh mặt làm ngơ, chỉ gửi bố cáo phản đối nước Soái mà không có ý định đem quân tương trợ. Có lẽ nước Ngô cũng có chung suy nghĩ với Vệ, và Ngô hoàn toàn không muốn vì nước Tùy mà chọc giận đến nước Soái, vốn là một thế lực hùng mạnh ở miền Trung.

Sau khi tập trung lực lượng tại biên giới, nước Soái không chần chừ thêm nữa, tám vạn đại quân nước Soái lập tức vượt qua biên giới, tiến thẳng vào lãnh thổ Tùy. Đội quân kéo dài hàng chục dặm, cờ xí che kín những con đường lớn. Tiếng trống trận vang vọng khắp núi rừng, chiến mã hí vang, từng hàng bộ binh chỉnh tề tiến bước. Những cỗ chiến xa, máy bắn đá và xe vận chuyển lương thảo nối tiếp nhau không dứt.

Tám vạn quân chia thành nhiều cánh, đồng loạt tiến công các vị trí trọng yếu ở biên giới. Những cửa ải và thành trì nằm trên đường tiến quân lần lượt bị bao vây. Quân Tùy tuy cố gắng chống trả, nhưng trước sức ép từ nhiều hướng, phòng tuyến nhanh chóng rơi vào tình trạng nguy cấp.

Trong khi đó, nước Tùy chỉ có ba vạn quân có thể huy động cho cuộc chiến, ba vạn người ấy phải chia ra giữ các thành trì, bảo vệ những tuyến đường trọng yếu và chống đỡ quân Soái. Dù các tướng lĩnh Tùy cố gắng điều động, họ vẫn không thể tạo ra một lực lượng đủ lớn để đối đầu trực diện với tám vạn quân địch. Chỉ sau những ngày giao chiến đầu tiên, Tùy đã liên tiếp mất một số cứ điểm ở biên giới.

Tin chiến sự liên tục truyền về kinh thành, một viên tướng hớt hải chạy vào đại điện, quỳ xuống tâu với Tùy Vương:

-Bẩm chúa công! Quân Soái đã vượt biên giới, hiện có tám vạn đại quân tiến vào nước ta!

Tùy Vương giật mình đứng dậy:

-Tám vạn? Chẳng phải trước đó chúng chỉ điều động một số quân ở biên giới hay sao?

Viên tướng cúi đầu:

-Bẩm chúa công, toàn bộ chủ lực nước Soái đã tiến công, quân ta hiện chỉ có ba vạn, lại phải phân tán phòng thủ nhiều nơi. Các cửa ải phía Tây đang liên tiếp thất thủ!

Cả đại điện xôn xao. Một vị đại thần nói:

-Chúa công, tình thế đã vô cùng nguy cấp! Xin lập tức triệu tập toàn bộ ba vạn quân, tập trung tại những vị trí trọng yếu, tuyệt đối không được để quân Soái tiến sâu!

Một người khác phản đối:

-Nếu rút quân khỏi các thành trì, những nơi ấy sẽ lập tức thất thủ. Một khi mất các thành phía Tây, quân Soái sẽ tiến thẳng vào nội địa!

Tùy Vương tức giận đập bàn:

-Vậy các ngươi muốn ta phải làm thế nào? Chẳng lẽ ngồi nhìn tám vạn quân Soái đánh đến tận kinh thành?

Không ai dám trả lời. Bấy giờ, một viên quan mới run rẩy lên tiếng:

-Chúa công, trước mắt chỉ có thể tập trung ba vạn quân, cố thủ tại những thành trì trọng yếu, kéo dài thời gian chờ đợi thời cơ phản công.

Tùy Vương nghiến răng, cuối cùng hạ lệnh:

-Truyền lệnh! Điều động toàn bộ quân về các phòng tuyến trọng yếu. Các tướng lĩnh phải tử thủ, tuyệt đối không được để quân Soái tiến sâu!

Mệnh lệnh lập tức được truyền xuống, nhưng Tùy Vương không hề biết rằng, đối thủ lần này không chỉ đông hơn mà còn có một vị thống soái đang chuẩn bị trở lại chiến trường.

Trong lúc chiến sự đang diễn ra ác liệt, tại một khu rừng cách tiền tuyến không xa, Nguyên Hà và Hứa Chung đang tìm đường tiếp cận đại quân Soái. Sau trận chiến ở Thạch Xá, hai người đã dẫn những người sống sót rút khỏi khu vực nguy hiểm. Khi biết Soái Vương đã phát động chiến tranh, họ lập tức lên đường.

Nguyên Hà nhìn về phía xa, nơi khói lửa đang bốc lên nghi ngút, nói:

-Tám vạn đại quân Soái đã tiến đánh nước Tùy, lực lượng đã áp đảo, nhưng muốn kết thúc cuộc chiến này nhanh chóng, vẫn cần một người có thể thống lĩnh toàn quân.

Hứa Chung nói:

-Thừa tướng, đã đến lúc ta trở về rồi!

Nguyên Hà gật đầu. Hai người tiếp tục men theo con đường nhỏ, tìm cách vượt qua những toán quân Tùy đang tuần tra. Khi đến gần một khu vực đóng quân, họ bất ngờ bị hai tên lính phát hiện.

-Đứng lại! Các ngươi là ai?

Hứa Chung không đáp, y lập tức lao tới, đánh mạnh vào cổ tên lính thứ nhất, rồi xoay người quật ngã tên còn lại. Cả hai chưa kịp kêu cứu đã nằm bất tỉnh dưới đất.

Nguyên Hà nói:

-Ngươi hãy lấy giáp phục của chúng thay vào đi. Chỉ có cách này mới có thể tiếp cận tiền tuyến mà không bị phát hiện.

Hứa Chung nhanh chóng cởi lấy binh phục, áo giáp và mũ trụ của một tên lính, mặc lên người. Hứa Chung cầm lấy trường thương, một mình tiến về phía tiền tuyến. Tiền tuyến lúc này vô cùng hỗn loạn, quân Tùy đang cố gắng giữ một cửa ải trọng yếu, nhưng trước sức công kích liên tục của quân Soái, đội hình đã bắt đầu rối loạn. Hứa Chung trà trộn vào một toán lính Tùy, quan sát tình hình rồi tìm cách tiếp cận cánh quân Soái đang tiến công phía Đông.

Hứa Chung chờ đến khi giao tranh nổ ra, lập tức thoát khỏi hàng ngũ quân Tùy, chạy thẳng về phía quân Soái. Một viên tướng Soái nhìn thấy có người mặc binh phục Tùy đang chạy tới, lập tức quát:

-Quân địch, mau bắt lấy!

Hứa Chung tháo mũ trụ, lớn tiếng:

-Ta, Hứa Chung đây!

Viên tướng sững sờ, hắn ta nhìn kỹ gương mặt trước mắt, rồi lập tức nhận ra:

-Nguyên Soái!

Hắn ta vội vàng quỳ xuống, nói:

-Mạt tướng tham kiến Nguyên soái!

Những binh sĩ xung quanh nghe thấy đều kinh ngạc, tin tức nhanh chóng truyền đến đại doanh. Khi Hổ Uy biết Hứa Chung trở về, y lập tức cho người đưa đến. Gặp nhau giữa bản doanh, Hổ Uy cười lớn:

-Cuối cùng ngài đã trở về!

Hứa Chung đáp:

-Mau đưa ta binh khí và giáp trụ, lập tức tấn công về cánh đông rồi đưa một toán lính bí mật giải cứu Thừa tướng, ngài vẫn còn trong đó!

Các tướng lĩnh đồng thanh:

-Tuân mệnh!

Hứa Chung chính thức trở lại, từ một người tiều phu vô danh trong mắt dân chúng Tùy, y đã trở lại thân phận vị thống soái nắm trong tay tám vạn đại quân.

Không lâu sau, Nguyên Hà cũng bí mật đến được đại doanh Soái. Hứa Chung lập tức ra nghênh đón.

-Thừa tướng đã an toàn trở về!

Nguyên Hà gật đầu, sau đó trải bản đồ Tùy lên bàn, ông chỉ vào những vị trí trọng yếu:

-Tùy hiện chỉ có ba vạn quân, trong khi chúng ta có tám vạn. Nếu đánh trực diện, chúng ta đã chiếm ưu thế, nhưng muốn tiêu diệt hoàn toàn khả năng chống cự của Tùy, không thể chỉ dựa vào quân số.

Hứa Chung hỏi:

-Thừa tướng có kế gì?

Nguyên Hà chỉ vào ba tuyến đường trên bản đồ:

-Tám vạn quân của chúng ta nên chia làm ba cánh. Một cánh tiếp tục tạo áp lực tại cửa ải phía Tây, một cánh tiến về thành trì trung tâm, chủ lực còn lại đánh vào tuyến vận chuyển lương thảo. Tùy chỉ có ba vạn quân, đã phải chia ra giữ nhiều nơi, nếu chúng tập trung quân bảo vệ thành trì, tuyến lương thảo sẽ bị bỏ trống. Nếu rút quân bảo vệ lương thảo, các thành trì sẽ mất đi chỗ dựa. Chúng ta không cần đánh vào mọi nơi cùng lúc, chỉ cần buộc chúng phải liên tục điều quân trong thế bị động.

Hứa Chung gật đầu:

-Một khi quân Tùy rối loạn, chúng ta sẽ tập trung đại quân đánh vào điểm yếu nhất, phá tan phòng tuyến.

Nguyên Hà đáp:

-Chính là như vậy!

Hứa Chung lập tức triệu tập các tướng lĩnh, phân chia nhiệm vụ. Tám vạn đại quân được chia thành ba phía, các cánh quân nhanh chóng xuất phát theo kế hoạch, đồng thời sử dụng những đội quân nhỏ liên tục quấy nhiễu các tuyến phòng thủ Tùy, khiến đối phương không thể xác định chính xác hướng tiến công chủ lực.

Khi tin Hứa Chung tái xuất truyền đến kinh thành, các tướng lĩnh Tùy đều không khỏi kinh hãi. Một viên tướng già từng giao chiến với Hứa Chung biến sắc:

-Hứa Chung? Không phải hắn đã mất thích nhiều tháng nay sao?

Thám báo đáp:

-Bẩm tướng quân, đúng là hắn, các tướng Soái đều đã xác nhận, hiện hắn đang thống lĩnh đại quân rồi!

Viên tướng già im lặng hồi lâu, ông ta hiểu rõ người này đáng sợ đến mức nào. Hứa Chung không chỉ dũng mãnh trên chiến trường mà còn có khả năng tập hợp quân tâm, khiến các tướng lĩnh sẵn sàng tuân lệnh và binh sĩ tin tưởng vào sự chỉ huy của mình.

Tin cấp báo liên tiếp truyền đến doanh trại quân Tùy.

-Quân Soái đang tiến công tuyến vận chuyển lương thảo phía Tây!

- Một cánh quân khác đã áp sát thành trì trung tâm!

-Cửa ải phía Tây đang bị quân Soái bao vây!

Tướng Tùy kinh hãi, ba vạn quân Tùy vốn đã không đủ để chống đỡ tám vạn quân Soái trên một mặt trận rộng lớn. Nay đối phương lại chia quân đánh vào nhiều vị trí, khiến quân Tùy không biết nên tập trung lực lượng ở đâu.

Một vị mưu sĩ nói:

-Tướng quân, xin lập tức điều động quân đội bảo vệ kho lương. Nếu để quân Soái cắt đứt nguồn tiếp tế, ba vạn quân của chúng ta sẽ không thể duy trì lâu dài!

Một người khác phản đối:

-Nếu điều quân khỏi thành trì, quân Soái sẽ thừa cơ công phá. Một khi các thành trọng yếu thất thủ, kinh thành sẽ gặp nguy!

Tướng Tùy sắc mặt tái nhợt, y chưa từng nghĩ có ngày nước Tùy lại rơi vào cảnh này, bèn ra lệnh chia quân chống trả mỗi nơi một phần binh lực.

Cánh quân thứ nhất của Soái thống lĩnh bởi Hổ Uy tiến về cửa ải phía Tây, nơi quân Tùy bố trí một lực lượng phòng thủ tương đối đông đảo. Đây là vị trí hiểm yếu, địa thế núi non trùng điệp, đường đi nhỏ hẹp, vốn được xem là lá chắn bảo vệ vùng đất phía tây của Tùy.

Tướng lĩnh Tùy dựa vào địa hình hiểm trở, dựng nhiều lớp phòng tuyến, cho rằng chỉ cần cố thủ thì dù quân Soái đông gấp đôi cũng khó lòng công phá. Nhưng Hổ Uy không nóng vội, y ra lệnh cho quân Soái dựng doanh trại cách cửa ải vài dặm, liên tục dùng cung nỏ và máy bắn đá gây sức ép. Ban ngày, quân Soái đánh trống phô trương thanh thế, giả vờ chuẩn bị tổng công kích. Ban đêm, các toán quân tinh nhuệ bí mật men theo những con đường núi nhỏ, chiếm giữ các điểm cao xung quanh.

Sau vài ngày, quân Tùy phát hiện những vị trí quan trọng trên sườn núi đã bị quân Soái kiểm soát. Tướng giữ ải lập tức nhận ra tình hình không ổn, vội vàng điều quân lên núi phản kích, nhưng vừa rời khỏi phòng tuyến chính, họ đã bị quân Soái phục kích.

Một trận giao chiến ác liệt nổ ra giữa sườn núi, quân Tùy tuy chống trả quyết liệt nhưng bị đánh từ nhiều phía, đội hình nhanh chóng tan vỡ. Hàng nghìn binh sĩ phải bỏ chạy xuống núi, để lại nhiều khí giới và lương thảo.

Thấy các vị trí cao đã mất, tướng giữ ải không còn cách nào khác, đành hạ lệnh rút quân về thành, cửa ải phía Tây chính thức thất thủ, cánh quân thứ nhất của Soái đã hoàn thành nhiệm vụ.

Trong khi đó, cánh quân thứ hai do Hắc Phong chỉ huy, bí mật tiến về tuyến vận chuyển lương thảo của Tùy. Nguyên Hà đã sớm nhận ra đây là huyết mạch của đại quân Tùy. Nếu mất tuyến đường này, quân Tùy dù còn thành trì và binh lực cũng khó lòng duy trì chiến đấu lâu dài.

Quân Soái chia thành nhiều toán nhỏ, lần lượt chiếm các cây cầu, bến đò và kho chứa lương thực dọc tuyến đường vận chuyển. Những đoàn xe lương Tùy đi đến đâu cũng bị chặn đánh, các trạm tiếp tế lần lượt thất thủ.

Một viên tướng Tùy nhận được tin liền dẫn quân ra ứng cứu, nhưng đó chính là điều Nguyên Hà dự liệu. Quân Soái giả vờ rút lui, dẫn đối phương tiến sâu vào một vùng đồi núi. Khi quân Tùy lọt vào giữa hai cánh quân mai phục, tiếng trống trận đột nhiên vang lên từ bốn phía.

Tên bắn xuống như mưa, quân Soái từ trên cao tràn xuống, chia cắt đội hình đối phương thành nhiều đoạn. Trận chiến kết thúc khi trời gần tối. Quân Tùy bị đánh tan, viên tướng chỉ huy phải bỏ lại phần lớn khí giới, dẫn tàn quân tháo chạy. Từ đó, tuyến lương thảo của Tùy gần như bị cắt đứt hoàn toàn. Những kho lương ở các địa phương lần lượt rơi vào tay quân Soái, còn những đoàn vận chuyển từ kinh thành không thể tiếp cận các phòng tuyến phía Tây.

Quân Tùy bắt đầu thiếu lương trầm trọng. Ban đầu, mỗi doanh trại chỉ bị giảm khẩu phần đôi chút, nhưng vài ngày sau, tình trạng ngày càng nghiêm trọng. Binh sĩ phải ăn cháo loãng, ngựa chiến thiếu cỏ, thương binh không được chăm sóc đầy đủ. Sĩ khí Tùy vốn đã thấp nay càng thêm suy giảm.

Cánh quân thứ ba là chủ lực của Soái, thống lĩnh bởi Hứa Chung, trực tiếp tiến về thành trì trung tâm của Tùy. Đây là nơi tập trung một phần lớn lực lượng còn lại của đối phương, đồng thời là cửa ngõ dẫn đến vùng đất nội địa.

Tướng Tùy giữ thành biết rõ vị trí này không thể để mất, nên đã huy động toàn bộ quân đội, gia cố tường thành, tích trữ lương thực và chuẩn bị khí giới phòng thủ. Khi quân Soái kéo đến, cổng thành lập tức đóng chặt.

Trên tường thành, hàng nghìn cung thủ giương cung, giáo dài dựng san sát. Quân Tùy liên tục hò hét thị uy, hy vọng dùng thành cao hào sâu để ngăn bước tiến của đối phương.

Hứa Chung cưỡi ngựa đi một vòng quanh thành, quan sát địa hình rồi trở về đại doanh.

Một viên tướng hỏi:

-Nguyên soái, thành này phòng thủ kiên cố, nếu cưỡng ép công thành, quân ta nhất định sẽ chịu tổn thất không nhỏ. Có nên tạm thời rút lui, chờ hai cánh quân còn lại hội hợp?

Hứa Chung lắc đầu:

-Không cần! Quân Tùy hiện đã mất cửa ải phía Tây, tuyến lương thảo cũng bị uy hiếp. Chúng cố thủ trong thành, tưởng rằng có thể dựa vào tường cao để chống đỡ. Nhưng một tòa thành không có đường tiếp tế thì dù kiên cố đến đâu cũng chỉ là chiếc lồng giam chính mình.

Hứa Chung lập tức ra lệnh bao vây thành trì. Quân Soái không vội công thành mà dựng doanh trại ở những vị trí trọng yếu, đào hào, đắp lũy, bố trí cung nỏ và máy bắn đá. Những con đường dẫn ra ngoài thành đều bị kiểm soát.

Ban ngày, quân Soái liên tục tiến hành những đợt công kích thăm dò, buộc quân Tùy phải căng sức phòng thủ. Ban đêm, họ thay phiên nghỉ ngơi, củng cố nhân lực, bảo đảm quân đội luôn duy trì được sức chiến đấu.

Chỉ trong vài ngày, thành trì trung tâm đã hoàn toàn bị bao vây. Quân Tùy muốn xuất thành giao chiến cũng không dám, bởi bên ngoài quân Soái quá đông đang chờ sẵn.

Khi tin tức từ ba hướng liên tiếp truyền về, Tùy Vương đi đi lại lại, không thể ngồi yên. Cửa ải phía Tây thất thủ, tuyến vận chuyển lương thảo bị cắt đứt, thành trì trung tâm bị bao vây. Ba vạn quân Tùy vốn đã phải phân tán phòng thủ, nay lại liên tiếp mất đi những vị trí trọng yếu. Các tướng lĩnh trong triều không ngừng xin viện binh, nhưng triều đình đã không còn lực lượng dự bị đủ lớn để ứng cứu.

Tùy Vương nổi giận:

-Các ngươi không phải đều nói thành cao hào sâu, quân ta có thể chống đỡ hay sao? Vì sao chỉ trong mấy ngày đã liên tiếp thất thủ?

Một viên tướng quỳ xuống, cúi đầu đáp:

-Bẩm chúa công, quân Soái có tám vạn, quân ta chỉ có ba vạn, chúng lại chia thành ba cánh, phối hợp rất chặt chẽ. Mỗi khi quân ta điều động một nơi, nơi khác lập tức bị công kích. Hiện tại, các tướng lĩnh không dám tự ý xuất quân vì sợ rơi vào mai phục.

Tùy Vương quát:

-Vậy thì tập trung toàn bộ đại quân phá vòng vây!

Viên tướng im lặng một lúc rồi đáp:

-Quân ta hiện đang bị bao vây ở nhiều nơi, nếu muốn tập trung lực lượng, trước hết phải phá được vòng vây của quân Soái. Nhưng một khi xuất thành, e rằng…

Viên tướng không dám nói tiếp. Tùy Vương hiểu ý, sắc mặt ngày càng khó coi.

Trong khi quân Tùy ngày càng bị động, quân Soái lại liên tục mở rộng phạm vi kiểm soát. Những vùng đất xung quanh lần lượt đầu hàng, một số quan lại địa phương chủ động mở cổng thành để tránh cảnh binh đao.

Nguyên Hà nhận được tin, liền nói với Hứa Chung:

-Đại thế đã nghiêng về phía chúng ta, Tùy hiện không chỉ mất đất mà còn mất cả lòng người. Một khi các địa phương biết triều đình không còn đủ sức bảo vệ biên giới, sẽ chẳng còn mấy ai muốn liều mạng vì Tùy Vương.

Hứa Chung nói:

-Vậy chúng ta phải nhân cơ hội này, kết thúc cuộc chiến trước khi Tùy kịp tập hợp lại.

Nguyên Hà gật đầu:

-Đúng vậy. Nhưng đừng để lòng tham chiến thắng khiến quân ta nóng vội. Hãy siết chặt vòng vây, tiếp tục cắt nguồn tiếp tế. Khi quân Tùy trong thành kiệt sức, chúng ta chỉ cần tung ra đòn quyết định.

Những ngày tiếp theo, tình hình trong các thành trì Tùy ngày càng tồi tệ. Lương thực cạn dần, thương binh nằm la liệt, binh sĩ mệt mỏi vì phải liên tục thay phiên canh giữ tường thành. Những tướng lĩnh từng hùng hồn tuyên bố tử thủ giờ đây cũng bắt đầu lo sợ.

Bên ngoài, quân Soái ngày đêm đánh trống, phô trương thanh thế. Những đợt công kích liên tiếp khiến quân Tùy không có lấy một ngày nghỉ ngơi.

Có những đêm, tiếng máy bắn đá vang lên không ngừng, khiến cả thành trì rung chuyển. Có những buổi sáng, quân Tùy vừa bước lên tường thành đã nhìn thấy cờ Soái phủ kín những ngọn đồi xa.

Còn Hứa Chung vẫn bình thản điều binh, không để đại quân rơi vào tình trạng kiệt sức. Y biết rằng trận chiến này đã gần đi đến hồi kết. Đại quân Tùy bị chia cắt, thiếu lương, mất tinh thần và không còn khả năng tổ chức một cuộc phản công quy mô lớn.
 
Chương 97: Soái tiến quân vào kinh đô nước Tùy, Thế tử Kha tháo chạy sang nước Lỗ

c97.png


Sau hơn hai tuần giao tranh, tình thế ngày một bi đát cho nước Tùy. Chiến báo bại trận liên tiếp gửi về, Tùy Vương càng lúc càng nhận ra thế cục vốn chẳng thế cứu vãn. Một hôm, Tùy Vương cho truyền Thế tử Kha vào bàn việc hệ trọng, Thế tử Kha hỏi:

-Phụ vương cho truyền con tới có điều gì sai bảo ạ?

Tùy Vương đáp:

-Chắc con cũng biết hoàn cảnh nước Tùy sẽ chẳng cầm cự nổi bao lâu, ta gọi con vào đây là để bàn việc đại sự sau này. Con giờ đã trưởng thành, là tương lai của hoàng thất, ta muốn biết ý con như thế nào?

Thế tử Kha ngạc nhiên:

-Phụ vương muốn hỏi ý con sao? Chẳng phải các đại thần trong triều đều có tài trí hơn con sao, sao phụ vương không hỏi những người ấy?

Tùy Vương thở dài:

-Đám người đó chỉ toàn lũ vô dụng, nuôi tốn biết bao nhiêu bổng lộc mà chẳng thể đánh đuổi được lũ giặc Soái. Giờ ta muốn thay đổi góc nhìn, ta muốn nghe ý kiến từ người ruột thịt, có lẽ sẽ tốt hơn!

Thế tử Kha suy nghĩ hồi lâu, rồi nói:

-Phụ vương, nếu nước đã không giữ được, sao chúng ta không chạy trốn sang nước khác? Chẳng phải Lỗ Vương là bằng hữu của phụ vương từ thời mặc khố sao? Qua Lỗ tất được cứu mạng!

Tùy Vương nghe xong trầm tư, đi lại mấy hồi. Ông nói:

-Quả thực ta không đành lòng đánh mất giang sơn của tổ tiên, nhưng tình thế hiện nay chẳng còn cách nào khác. Nếu ở lại Tùy, toàn bộ hoàng thất chúng ta sẽ bị Soái Vương chém đầu hết. Hãy làm theo cách của con đi!

Thế tử Kha mừng rỡ:

-Lời của con quả thực có giá trị ru? Vậy nếu phụ vương không tin tưởng đám đại thần đó, hãy để con đứng ra lo cho đại cục, con hứa sẽ không làm phụ vương thất vọng!

Tùy Vương khen:

-Con trai ta cuối cùng cũng ra dáng bậc trượng phu, dám gánh vác việc lớn. Được, ta sẽ giao cho con toàn quyền quyết định, ta cũng đã quá mệt mỏi rồi. Lát nữa theo ta vào buổi chầu, ta sẽ phó thác quyền hành cho con.

Thế tử Kha đáp:

-Tạ ơn phụ vương!

Buổi chầu hôm ấy, Tùy Vương bố cáo với các quan triều thần rằng kể từ nay, Thế tử Kha sẽ thay ông nắm quyền hành nước Tùy, mọi mệnh lệnh đều sẽ do Thế tử chỉ đạo.

Các quan xì xào bàn tán, không rõ vì sao vào lúc đất nước nguy khó như vậy, Tùy Vương lại bàn giao quyền hành cho Thế tử Kha. Trong mắt các quan, Thế tử Kha chỉ là một đứa trẻ ăn chơi lêu lổng, không làm được đại sự. Sau buổi chầu hôm ấy, bầu trời nước Tùy đen kịt, sấm nổi đùng đoàng không dứt.

Một vị đại thần nói:

-Đang mùa này mà có sấm chớp lớn như vậy là điều rất kỳ lạ, ắt là điềm không lành!

Các quan đều cho là phải, nhưng ý Tùy Vương đã quyết, họ đành phải nghe theo sắp xếp của Thế tử Kha.

Thế tử Kha sau khi được cầm quyền thì trọng dụng đám hoạn quan hay nịnh nọt mình, những kẻ ấy đều là phường gian ác cả. Chúng khuyên Thế tử Kha tìm cách loại bỏ những công thần chính trực, dám cãi lời Thế tử, tỏ ra chống đối là chúng sẽ tìm cách hãm hại, người thì bị dọa cho khiếp vía, người thì bị chuốc thuốc độc mà chết.

Thế tử Kha tuy thường ngày chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, nhưng một khi đã nắm được quyền lực trong tay, y lại tỏ ra là kẻ vô cùng tinh ranh. Y hiểu rõ cách thao túng lòng người, từng bước thu gom quyền hành về phía mình, đồng thời tìm mọi cách cô lập những đại thần có tư tưởng chống đối. Chỉ trong một thời gian ngắn, triều đình nước Tùy đã chẳng còn mấy ai dám công khai làm trái ý y.

Trước sức ép dữ dội từ quân Soái, Thế tử Kha lập tức ban lệnh xuống các doanh trại ngoài biên ải, yêu cầu binh sĩ phải liều chết chống địch. Kẻ nào dám bỏ chạy hoặc đầu hàng, gia quyến ở quê nhà sẽ bị trị tội thay. Mệnh lệnh ấy khiến quân sĩ vừa căm phẫn vừa khiếp sợ, nhưng trong tình thế tiến thoái lưỡng nan, phần lớn chỉ còn cách cắn răng tuân theo.

Thế nhưng, đằng sau những lời lẽ đanh thép về việc bảo vệ giang sơn lại chẳng có lấy một chút lòng trung thành với nước Tùy. Thế tử Kha chưa từng thực sự quan tâm đến sự tồn vong của quốc gia. Điều y muốn chỉ là kéo dài cuộc chiến càng lâu càng tốt, tranh thủ thời gian để củng cố quyền lực và chuẩn bị đường lui cho bản thân.

Trong lúc hàng vạn binh sĩ đang phải liều mạng nơi tiền tuyến, y lại bí mật điều động năm nghìn quân trở về kinh thành. Đám quân này không được giao nhiệm vụ bảo vệ dân chúng hay tăng cường phòng thủ, mà được lệnh lùng sục khắp nơi, cướp đoạt toàn bộ tài sản của bách tính. Vàng bạc châu báu phải sung vào quốc khố, còn lương thực, rượu thịt và những thứ có thể dùng được thì chia cho binh lính.

Khi ban lệnh, Thế tử Kha ngồi trên điện, vẻ mặt lạnh lùng, giọng nói chẳng chút dao động:

— Phàm là thứ gì có thể lấy được, đều phải mang về cho ta! Vàng bạc châu báu, đồ quý giá, tất cả phải sung vào triều đình. Còn lương thực, rượu, gạo, muối, cứ để các ngươi tự chia nhau mà dùng!

Y ngừng lại giây lát, ánh mắt quét qua đám tướng lĩnh bên dưới, rồi lạnh lẽo nói tiếp:

- Kẻ nào dám phản kháng, chém! Kẻ nào dám giấu giếm tài vật, chém! Kẻ nào dám cấu kết với dân chúng làm loạn, không chỉ giết một mình hắn, mà phải tru di cả nhà! Các ngươi nghe rõ chưa?

- Tuân lệnh!

Tiếng hô của đám tướng lĩnh vang lên trong điện, nhưng chẳng một ai dám hỏi rằng những người dân vô tội kia đã phạm phải tội gì mà phải chịu cảnh này.

Thế tử Kha hiểu rõ lòng người, trong thời buổi chiến tranh, quân lương thiếu thốn, binh sĩ ngoài tiền tuyến phải chịu cảnh đói rét, gia quyến của họ ở quê nhà cũng chẳng khá hơn là bao. Bằng cách cho phép quân lính tùy ý cướp bóc, y vừa có thể dùng lợi ích để mua chuộc lòng quân, vừa biến năm nghìn binh mã thành công cụ đàn áp bất cứ ai dám chống lại mình.

Và thế là, tai họa giáng xuống bách tính nước Tùy.

Thanh niên trai tráng phần lớn đã bị bắt đi đánh trận với quân Soái, trong các thành trì chỉ còn lại người già, phụ nữ và trẻ nhỏ. Họ vốn đã phải vật lộn trong cảnh thiếu ăn, nay lại phải đối mặt với chính những binh sĩ khoác trên mình quân phục triều đình. Trước đao kiếm và vó ngựa, những người dân tay không tấc sắt chẳng có lấy một cơ hội chống trả.

Quân lính xông vào từng nhà, đập phá cửa nẻo, lục soát rương hòm, vét sạch lương thực và cướp đi mọi thứ có giá trị. Những ai dám van xin đều bị xô ngã, những ai cố giữ lại chút tài sản cuối cùng cũng bị đánh đập tàn nhẫn. Tiếng khóc của trẻ thơ, tiếng kêu cứu của phụ nữ và tiếng la hét tuyệt vọng của người già vang lên khắp các ngõ phố.

Có những gia đình bị cướp sạch đến mức chẳng còn nổi một nắm gạo để qua ngày. Có những người chỉ vì cố giấu đi vài đồng tiền dành dụm lúc tuổi già mà phải bỏ mạng dưới lưỡi đao của quân lính. Cũng có những người phụ nữ phải chịu cảnh nhục nhã, đau đớn mà không một ai có thể đứng ra bảo vệ họ.

Điều đáng sợ nhất là đám binh lính ấy dần đánh mất mọi giới hạn cuối cùng của con người, chúng giết người già, trẻ nhỏ giữa đường phố, đàn bà thì bị hãm hiếp giữa thanh thiên bạch nhật, của cải thì bị vét sạch, không còn sót một thứ gì. Khi biết rằng phía sau có mệnh lệnh của Thế tử Kha chống lưng, chúng chẳng còn e ngại luật pháp hay sự trừng phạt. Chúng khoác trên mình quân phục của nước Tùy, nhưng những việc chúng làm chẳng khác nào quân giặc đang giày xéo chính quê hương mình.

Khắp nơi trong nước, cảnh tượng tang thương diễn ra liên miên. Hàng vạn bách tính bị cướp bóc, đánh đập, thậm chí mất mạng. Những thôn xóm vốn đã tiêu điều vì chiến tranh nay càng trở nên hoang tàn, những mái nhà trống rỗng chỉ còn lại tiếng khóc than của những người sống sót.

Tội ác của Thế tử Kha cùng đám binh lính đã thấu tận trời xanh, khiến đất trời cũng như nổi giận trước cảnh nhân gian chìm trong biển máu. Từ ngày quân triều đình bắt đầu cướp bóc, nước Tùy liên tiếp xuất hiện những hiện tượng kỳ dị chưa từng có, khiến lòng người kinh hãi, còn những lời đồn về điềm trời giáng họa ngày càng lan rộng.

Đầu tiên là bầu trời đột nhiên biến sắc, giữa ban ngày, mây đen từ bốn phương kéo đến, cuồn cuộn phủ kín kinh thành dù trước đó trời vẫn quang đãng. Ánh mặt trời bị che khuất, cả vùng đất chìm trong thứ ánh sáng u ám như hoàng hôn. Đến đêm, những đám mây trên cao lại ánh lên sắc đỏ thẫm, như có máu đang chảy giữa không trung. Dân chúng ngẩng đầu nhìn trời, ai nấy đều khiếp đảm, không ít người quỳ xuống đất, vừa khóc vừa khấn vái, cho rằng ông trời đã không thể dung thứ những tội ác đang diễn ra.

Rồi một đêm, chuyện kinh dị nhất đã xảy ra tại khu chợ phía đông kinh thành, nơi hàng trăm người dân từng bị quân triều đình giết hại. Khi canh ba vừa điểm, những ngọn đèn dầu trong các căn nhà hoang đồng loạt tự bùng sáng, dù chẳng có ai thắp lửa. Gió lạnh từ đâu tràn qua các con phố, cuốn theo tiếng khóc than ai oán lúc ẩn lúc hiện. Những tên lính đi tuần thề rằng chúng đã nhìn thấy vô số bóng người đứng chen chúc ở cuối đường, quần áo rách nát, thân hình đẫm máu, lặng lẽ nhìn về phía chúng.

Một tên lính đánh bạo tiến lên, giơ đuốc soi đường. Nhưng ngay khi ánh lửa chiếu tới, những bóng người kia đồng loạt biến mất, chỉ còn lại con phố trống không cùng mùi tanh nồng thoang thoảng trong gió. Tên lính ấy sợ đến mức đánh rơi đao kiếm, co chân bỏ chạy. Đêm hôm đó, hắn phát sốt mê man, miệng liên tục kêu gào rằng có người đang đứng bên giường đòi mạng.

Tiếng chuông trong các ngôi chùa tự nhiên vang lên từng hồi, dù không có người kéo. Giữa tiếng chuông ngân dài, nhiều người nghe thấy một giọng nói mơ hồ vọng xuống từ trên cao, lúc như tiếng than khóc, lúc lại tựa tiếng người đang phẫn nộ chất vấn:

-Dân chúng có tội tình gì? Dân chúng có tội tình gì?

Không ai biết giọng nói ấy từ đâu mà đến, có người khẳng định đó là tiếng oan hồn của những người chết thảm, có kẻ tin rằng thần linh đã hiển hiện để cảnh cáo triều đình . Đến sáng hôm sau, sương trắng vẫn chưa tan hết, trên những bức tường quanh hoàng cung xuất hiện vô số vệt đỏ ngoằn ngoèo, trông chẳng khác nào những dòng máu đang chảy xuống từ mái điện.

Khi những lời đồn ấy truyền đến tai Thế tử Kha, y ngoài mặt vẫn cố tỏ ra bình thản, cho rằng tất cả chỉ là trò bịa đặt nhằm làm loạn lòng quân. Y lập tức hạ lệnh cấm bàn tán chuyện điềm trời, kẻ nào tung tin yêu ma quỷ quái sẽ bị nghiêm trị.

Sau nhiều ngày cướp bóc khắp các thành trì và thôn làng, từng đoàn xe chở chiến lợi phẩm lần lượt tiến về kinh thành. Của cải thu được chất thành núi trong những chiếc rương gỗ lớn, từ vàng thỏi, bạc nén, châu ngọc, trâm cài, vòng ngọc cho đến những món đồ cổ quý giá được truyền lại qua nhiều đời. Ngoài ra còn có vô số tấm lụa gấm, tơ tằm, đồ sứ tinh xảo, đồng khí, da thú và những vật dụng quý giá vốn thuộc về các gia đình phú hộ.

Đêm hôm ấy, Kha bí mật triệu tập những kẻ thân tín vào cung, hạ lệnh lựa chọn một đội quân tinh nhuệ để hộ tống hoàng thất rời khỏi kinh thành. Toàn bộ vàng bạc, châu báu cùng những vật phẩm quý giá nhất đều phải được đóng vào rương, chuyển lên những cỗ xe ngựa đã chuẩn bị sẵn. Những người thuộc hoàng tộc, từ phi tần, hoàng tử, công chúa cho đến các thân quyến gần gũi, đều được yêu cầu thu xếp hành trang ngay trong đêm.

Mọi việc phải tiến hành tuyệt đối bí mật. Cửa cung phía bắc được mở vào lúc canh ba, hàng trăm cỗ xe nối nhau lặng lẽ rời khỏi hoàng thành. Đội hộ vệ mặc giáp kín người, chia thành nhiều toán bao quanh đoàn xe, bên ngoài còn có kỵ binh đi trước dò đường.

Trước khi rời đi, Thế tử Kha còn ra lệnh phong tỏa những con đường dẫn vào cung, nghiêm cấm bất kỳ ai tiết lộ hành tung của hoàng thất. Những quan viên không được chọn đi theo vẫn bị bỏ lại trong kinh thành, chẳng hề hay biết rằng vị chủ nhân mà họ ngày ngày phụng sự đã âm thầm chuẩn bị đường lui cho bản thân.

Khi đoàn xe vượt qua cửa thành, Thế tử Kha ngoảnh đầu nhìn lại kinh đô. Trong màn đêm mờ mịt, những bức tường thành cao lớn vẫn đứng sừng sững, nhưng phía sau chúng là một đất nước đang dần sụp đổ. Ngoài xa, ánh lửa chiến tranh hắt đỏ chân trời, tiếng trống trận từ phương xa vọng đến từng hồi nặng nề.

Sau nhiều ngày tháng vây hãm, thành trì trọng yếu của nước Tùy đã rơi vào tình trạng kiệt quệ. Lương thực trong thành gần như cạn sạch. Binh sĩ ngày đêm phải thay phiên nhau canh giữ tường thành, tinh thần suy sụp, thương binh không được chữa trị đầy đủ. Những vị tướng từng thề sống chết bảo vệ thành trì nay cũng bắt đầu dao động.

Trái lại, quân Soái vẫn duy trì được sức chiến đấu mạnh mẽ. Tám vạn đại quân được tổ chức chặt chẽ, lương thảo đầy đủ, các doanh trại liên kết thành một vòng vây kín mít. Không chỉ thế, những vị trí trọng yếu xung quanh thành đều đã nằm trong tay Soái.

Hứa Chung biết rằng thời cơ đã đến. Đêm ấy, tại đại doanh, Hứa Chung triệu tập toàn bộ tướng lĩnh.

Trên bản đồ, thành trì Tùy được đánh dấu bằng một vòng mực đỏ. Hứa Chung đặt tay lên bàn, giọng đanh thép:

-Quân Tùy đã mất hết đường tiếp tế, sĩ khí suy giảm, bên trong thành lòng người cũng không còn đồng thuận. Nếu tiếp tục kéo dài, chúng ta chỉ lãng phí thời gian và lương thảo. Ngày mai, toàn quân tổng công kích! Ba cánh quân đồng loạt áp sát, phá cửa thành, đánh thẳng vào trung tâm phòng thủ, không cho quân Tùy cơ hội tập hợp lại!

Các tướng lĩnh đồng thanh:

-Tuân lệnh!

Hứa Chung dừng lại, ánh mắt thoáng hiện lên hình ảnh những người dân Thạch Xá từng cùng mình chống lại quan quân.

Hứa Chung tiếp tục:

-Có một điều phải ghi nhớ. Sau khi phá thành, tuyệt đối không được tùy tiện giết hại dân chúng. Ai dám cướp bóc, sát hại dân thường, lập tức xử theo quân pháp! Kẻ nào nhân lúc hỗn loạn làm điều bất nghĩa, dù là tướng lĩnh cũng không được dung thứ!

Các tướng lĩnh mệnh.

Sáng hôm sau, tiếng trống trận vang lên dồn dập. Đại quân Soái đồng loạt tổng tiến công, ra đòn quyết định. Máy bắn đá liên tục ném những khối đá lớn vào tường thành. Cung nỏ đồng loạt khai hỏa, che kín bầu trời. Những cỗ xe công thành hùng hổ tiến lên, từng toán binh sĩ mang khiên lớn áp sát chân thành.

Quân Tùy cố gắng chống trả trong tuyệt vọng, nhưng lần này, quân Soái không còn tiến công thăm dò như trước. Họ tập trung toàn bộ sức mạnh vào những vị trí phòng thủ đã bị suy yếu sau nhiều ngày vây hãm.

Một tiếng nổ lớn vang lên, cánh cổng thành rung chuyển dữ dội, những thanh gỗ dày bắt đầu nứt toác. Quân Soái tiếp tục thúc xe công thành tiến lên, liên tiếp phá vỡ lớp phòng thủ bên ngoài.

Cuối cùng, cánh cổng khổng lồ đổ sập.

-Cổng thành đã phá! Tiến công!

Tiếng hô vang lên khắp chiến trường, quân Soái như thủy triều tràn vào thành.

Quân Tùy mất đi tuyến phòng thủ cuối cùng, đội hình nhanh chóng tan rã. Một số binh sĩ bỏ vũ khí đầu hàng, số khác tháo chạy vào những con phố nhỏ. Các tướng lĩnh cố gắng tập hợp tàn quân phản kích nhưng đều bị quân Soái đánh bật.

Hứa Chung đích thân dẫn quân tiến vào, đại đao trong tay y vung lên, khí thế áp đảo khiến quân Tùy không dám cản đường. Chỉ trong vài canh giờ, những vị trí trọng yếu trong thành lần lượt bị kiểm soát. Đến giữa trưa, cờ Soái đã tung bay trên tường thành, Tùy chính thức thất thủ, quân Tùy đại bại.

Sau khi chiếm được thành, điều đầu tiên Hứa Chung làm không phải là ăn mừng chiến thắng. Y lập tức triệu tập các tướng lĩnh, hạ lệnh kiểm soát quân đội, thu giữ vũ khí của những binh sĩ Tùy đầu hàng, đồng thời nghiêm cấm quân Soái tự ý xông vào nhà dân.

Những đội tuần tra được bố trí trên các con phố. Các kho lương, chợ và giếng nước đều được bảo vệ. Những người dân vì sợ hãi mà đóng chặt cửa nhà được thông báo rằng họ không cần phải rời khỏi nơi cư trú.

Một viên tướng hỏi:

-Nguyên soái, thành vừa mới hạ, bên trong vẫn còn nhiều tàn quân Tùy ẩn náu. Có nên lục soát toàn thành không?

Hứa Chung đáp:

-Có thể truy bắt binh sĩ bỏ trốn, nhưng không được tùy tiện quấy nhiễu dân chúng. Phải phân biệt rõ người cầm vũ khí chống lại chúng ta và người dân chỉ muốn sống yên ổn. Ta từng sống ở Thạch Xá, từng chứng kiến cảnh dân chúng bị triều đình Tùy chèn ép đến mức nào. Họ không phải quân địch, nếu chúng ta vừa đánh đổ một triều đình bạo ngược, lại để binh sĩ của mình làm những việc tương tự, vậy thì cuộc chiến này còn có ý nghĩa gì?

Viên tướng cúi đầu:

-Mạt tướng hiểu!

Dân chúng trong thành vốn đang lo sợ cảnh quân đội tràn vào giết hại dân thường, nay dần nhận ra quân Soái có kỷ luật nghiêm minh. Một số người bắt đầu mở cửa, dè dặt đi ra đường.

Nguyên Hà nhìn cảnh ấy, trong lòng nhớ lại những ngày tháng ở Thạch Xá. Ông biết rằng chiến thắng trên chiến trường chỉ là bước đầu. Muốn thực sự khiến người Tùy chấp nhận nước Soái, trước hết phải để họ thấy rằng cuộc sống dưới quyền cai trị mới sẽ không còn giống như những ngày tháng trước đây.

Sau khi ổn định tình hình trong thành, Hứa Chung lập tức cùng Nguyên Hà dẫn một đội quân tiến về Thạch Xá, đó là nơi Hứa Chung đã từng sống suốt một thời gian dài dưới thân phận tiều phu, còn Nguyên Hà là ông lão viết chữ.

Nơi ấy có những người từng che chở cho hai người họ, từng cùng nhau chống lại quan quân, từng đem chút lương thực ít ỏi chia sẻ khi hai người gặp khó khăn. Cũng chính tại nơi ấy, Nguyên Hà và Hứa Chung đã tận mắt chứng kiến sự tàn bạo của triều đình Tùy và hiểu được vì sao dân chúng lại căm hận quan lại đến vậy.

Khi đoàn quân Soái tiến đến đầu làng, dân chúng trở nên hoảng hốt. Những người từng sống sót sau trận chiến với quân Tùy vội vàng tập trung lại. Ai nấy đều cầm theo cuốc, rìu và giáo gỗ, tưởng rằng quân Soái đến để bắt họ hoặc cưỡng ép họ quy thuận.

Một lão giả đứng phía trước, run giọng hỏi:

-Các vị tướng quân, chúng tôi chỉ là dân thường. Nếu có điều gì đắc tội, xin hãy tha cho dân làng!

Nguyên Hà bước lên trước, định lên tiếng thì Hứa Chung đã tiến ra. Y xuống ngựa, tháo mũ trụ. Gương mặt quen thuộc ấy lập tức hiện ra trước mắt mọi người.

Cả Thạch Xá bỗng im phăng phắc. Một thanh niên kinh ngạc kêu lên:

-Trình... Trình Sư đại ca!

Một người khác dụi mắt, không dám tin:

-Không thể nào! Người này chẳng phải là Trình Sư sao?

Cái tên Trình Sư chính là tên gọi mà người dân Thạch Xá từng dùng để gọi vị anh hùng đã nhiều lần đứng ra bảo vệ họ. Họ biết y là người có võ nghệ cao cường, dũng cảm, trọng nghĩa khí. Họ từng thấy y một mình chống lại quan quân, từng thấy y bất chấp nguy hiểm cứu người dân vô tội. Nhưng không ai ngờ rằng người ấy lại chính là Đại Nguyên soái Hứa Chung của nước Soái!

Hứa Chung nhìn những gương mặt quen thuộc, khẽ mỉm cười:

-Các vị, đã lâu không gặp!

Một lão già bước lên vài bước, đôi mắt đỏ hoe:

-Trình Sư… ngươi thật sự là Nguyên soái nước Soái sao?

Hứa Chung gật đầu:

-Đúng vậy, ta tên là Hứa Chung! Trước đây ta có điều bất tiện nên không thể nói rõ thân phận, mong các vị lượng thứ!

Hứa Chung nhìn mọi người xung quanh rồi nói tiếp:

-Ta chưa bao giờ quên những ngày tháng ở Thạch Xá. Khi ấy, các vị không biết ta là ai nhưng vẫn sẵn lòng giúp đỡ. Chính các vị đã cho ta biết rằng, giữa thời loạn lạc này, vẫn còn rất nhiều người tốt.

Nguyên Hà bước lên phía trước. Có người nhìn ông rồi hỏi:

-Vị này trông cũng rất quen!

Nguyên Hà cười, nói:

-Ta vốn cải trang là ông già Trần Nhĩ viết chữ đó!

Mọi người trong làng ồ lên, nhận ra vị tiên sinh thông thái đã hiến kế giúp dân làng.

-Các vị, ta là Nguyên Hà, Thừa tướng nước Soái. Ta và Hứa Chung đến Tùy không phải để làm hại dân chúng, cuộc chiến này nhằm vào triều đình Tùy đã nhiều năm thối nát, chứ không phải nhằm vào những người dân vô tội.

Một người đàn ông đứng trong đám đông hỏi:

-Vậy sau khi đánh đổ triều đình Tùy, nước Soái sẽ đối xử với chúng ta thế nào?

Nguyên Hà không vội trả lời, ông hiểu rằng người dân đã chịu quá nhiều đau khổ, những lời hứa suông không thể lập tức khiến họ tin tưởng. Ông nhìn Hứa Chung rồi nói:

-Ta biết các vị đã phải chịu cảnh sưu cao thuế nặng, quan lại hà hiếp, người thân bị bắt bớ, nhà cửa bị tịch thu. Nước Soái không thể chỉ dùng vài lời nói mà xóa bỏ những đau khổ ấy. Nhưng ta có thể cam đoan một điều, quân Soái sẽ không được phép tùy tiện sát hại, cướp bóc hay làm nhục dân chúng.

Hứa Chung tiếp lời:

-Những người dân không tham gia chiến đấu, không phạm tội, sẽ được bảo vệ. Những ai bị triều đình Tùy oan khuất, chúng ta sẽ cho điều tra lại. Nhà cửa và tài sản của các vị không bị quân đội tùy tiện chiếm đoạt! Ta từng sống ở đây, từng ăn cơm của các vị, từng được các vị giúp đỡ, ta không thể quên những ân tình ấy. Nếu hôm nay ta dẫn quân trở về mà để các vị tiếp tục chịu khổ, vậy thì Hứa Chung này còn mặt mũi nào nhìn lại Thạch Xá?

Một ông lão nghe đến đây không kìm được nước mắt, ông bước lên, nắm lấy tay Hứa Chung:

-Chúng ta đã không nhìn lầm người, dù ngươi có là tướng lĩnh của nước Soái. Có lẽ, trông thấy quân Soái ở đây lại là điều nhẹ nhõm với chúng tôi!

Nguyên Hà hỏi:

-Vì sao dân làng bây giờ thưa thớt hơn xưa vậy?

Ông lão thuật lại những tội ác tày trời của lính Tùy trong thời gian Soái vây thành, vừa kể nước mắt cứ tuôn ra không ngớt.

Nguyên Hà lắc đầu thở dài:

-Vậy là Thạch Xá phải chịu cảnh ấy hai lần...!

Nguyên Hà ngẫm nghĩ trong đầu:

"Chúa công, thiên mệnh đã đứng về phía nước Soái rồi!"

Nguyên Hà lập tức cho người ghi lại danh sách những gia quyến chịu thiệt hại, tổ chức tìm kiếm người mất tích và phân phát lương thực cho những hộ thiếu đói.

Hứa Chung còn đặc biệt yêu cầu quân đội hỗ trợ sửa chữa những ngôi nhà bị phá hủy trong trận chiến trước đó, đồng thời tìm kiếm và chôn cất những người đã chết, Thạch Xá dần trở nên yên ổn, những người dân từng phải cầm cuốc rìu chống lại quan quân nay đã có thể buông vũ khí.

Đêm ấy, Hứa Chung và Nguyên Hà nghỉ lại tại Thạch Xá, hai người đứng trên một gò đất nhìn xuống những mái nhà đã lên đèn.

Hứa Chung nói:

-Thừa tướng, cuối cùng nhiệm vụ của chúng ta đã hoàn thành tốt đẹp!

Nguyên Hà đáp:

-Việc quan trọng nhất hiện nay là giữ vững lòng dân Tùy. Một khi dân chúng các nơi biết quân Soái không cướp bóc, không giết hại người vô tội, họ sẽ không còn xem chúng ta là quân xâm lược đáng sợ. Khi ấy, những cánh cổng thành vốn phải dùng binh lực để phá có thể sẽ tự mở ra.

Quả thực vậy, đoàn quân Soái tiến thẳng tới kinh đô nước Tùy một cách dễ dàng, không gặp một chút trở ngại nào. Dân chúng nước Tùy dường như cảm thấy nhẹ nhõm khi quân Soái tràn vào các thành trì, đối với họ, Soái là giặc nhưng cũng là cứu tinh của chính mình.

Tùy Vương, Thế tử Kha và hoàng thất đã bỏ trốn sang nước Lỗ, để lại triều đình Tùy như rắn mất đầu. Khi quân Soái tiến vào cung, các quan triều thần còn lại của nước Tùy đều giơ tay chịu trói, làm tù binh của nước Soái.

Năm 885, Soái chiếm được Tùy, Soái Vương sáp nhập nước Tùy vào lãnh thổ của Soái, phong Hứa Chung làm Trấn thủ vùng này, lấy lại tên cũ là Hải Dương.
 
Sửa lần cuối:
Chương 98: Ngô Vương sai Hoài Liêm đi sứ nước Lỗ

c98.png


Sau khi thành trì nước Tùy thất thủ, triều đình sụp đổ, quân Soái tiến vào kinh thành, Tùy Vương cùng Thế tử Kha và một bộ phận hoàng thất mang theo vàng bạc, châu báu, vội vã tháo chạy về phía đông bắc. Trải qua nhiều ngày lênh đênh trên đường thủy, đoàn thuyền cuối cùng cũng cập bến nước Lỗ, nơi mà Tùy Vương hy vọng có thể tìm được một chốn dung thân.

Tin tức truyền đến, Lỗ Vương lập tức đích thân ra bến nghênh đón.

Năm xưa, khi còn chưa ở ngôi, Lỗ Vương và Tùy Vương đã là bằng hữu nối khố. Hai người từng cùng nhau học tập, săn bắn, luận bàn thiên hạ, trải qua những năm tháng vô ưu vô lo trước khi mỗi người bước lên nắm quyền của một nước. Bởi vậy, khi nhìn thấy người bạn cũ nay tóc tai rối bời, sắc mặt tiều tụy, phải lưu lạc đến đất khách quê người, Lỗ Vương không khỏi chạnh lòng.

Lỗ Vương bước nhanh đến, nắm chặt tay Tùy Vương, xúc động nói:

- Hiền đệ! Không ngờ huynh đệ ta gặp lại nhau trong cảnh ngộ này. Năm xưa chúng ta từng thề có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu. Nay đệ gặp nạn, nếu ta còn khoanh tay đứng nhìn, chẳng phải uổng phí tình nghĩa bao năm hay sao?

Tùy Vương nghe vậy, hai mắt đỏ hoe. Những ngày vừa qua, ông từ một quân vương một nước, chỉ một lời có thể quyết định sinh tử của người khác, nay biến thành kẻ bại trận phải dẫn gia quyến lưu vong. Trong lúc cùng đường, được người bạn cũ nhiệt tình tiếp đón, ông chẳng khác nào tìm thấy một chiếc phao giữa dòng nước xiết.

Tùy Vương nói:

- Huynh còn nhớ tình nghĩa năm xưa, đệ dù chết cũng không dám quên! Nước Tùy nay đã mất, thần tử tan tác, cơ nghiệp tổ tiên tiêu vong. Đệ chỉ mong có thể giữ được mạng sống cho gia quyến, không để huyết mạch hoàng tộc đoạn tuyệt. Những ngày tháng còn lại, xin huynh trưởng thương tình thu nhận!

Lỗ Vương vỗ mạnh lên vai Tùy Vương, quả quyết đáp:

- Hiền đệ cứ an tâm! Chỉ cần ta còn sống, vẫn làm vương nước Lỗ, quyết sẽ không để đệ và gia quyến phải chịu cảnh đói rét, nhục nhã. Từ nay, cứ xem nơi đây như nhà mình!

Nói đoạn, Lỗ Vương lập tức hạ lệnh cho quan lại chuẩn bị nơi ăn chốn ở dành riêng cho hoàng thất Tùy. Cung điện phụ được dọn dẹp sạch sẽ, phòng ốc được trang hoàng bằng gấm vóc, lụa là, quần áo, chăn đệm, đồ dùng sinh hoạt đều được cung cấp đầy đủ. Ngoài ra, Lỗ Vương còn ban phát lương thực, tiền bạc, sai người hầu kẻ hạ phục dịch, đối đãi với Tùy Vương và gia quyến chẳng khác nào thành viên trong hoàng thất nước Lỗ.

Ngay cả các nghi thức tiếp đón cũng được tổ chức long trọng. Trong mắt Lỗ Vương, Tùy Vương tuy đã mất nước nhưng vẫn là quân vương một thời, lại là bằng hữu thân thiết của mình. Cảnh ngộ của người bạn khiến ông càng muốn dùng hết khả năng để bảo vệ đối phương.

Thế nhưng, lòng tốt của Lỗ Vương chẳng những không khiến tất cả mọi người cảm kích, mà còn vô tình dung dưỡng một kẻ không biết trời cao đất dày, kẻ ấy chính là Thế tử Kha.

Mặc dù đã trở thành kẻ lưu vong, phải sống nhờ vào sự che chở của nước khác, Thế tử Kha vẫn không hề có ý thức thân phận của mình đã thay đổi. Hắn vẫn giữ nguyên thói ngang ngược, kiêu căng của một kẻ từng quen sống trên đầu người khác. Được ban cho nơi ở rộng rãi, hắn chê phòng ốc không đủ xa hoa, được cung cấp gấm vóc lụa là, hắn lại đòi những thứ quý giá hơn, ngay cả thức ăn được đưa đến mỗi ngày, chỉ cần không hợp khẩu vị, hắn liền nổi giận, quát mắng người hầu.

Có lần, một viên quan nước Lỗ phụ trách việc cung ứng đến báo rằng một số vật phẩm quý hiếm cần thêm thời gian chuẩn bị. Thế tử Kha lập tức sa sầm mặt mày, đập mạnh chén trà xuống bàn, quát:

- Các ngươi biết ta là ai không? Dù nước Tùy đã mất, bổn thế tử vẫn là huyết mạch hoàng tộc! Chút đồ đạc cỏn con ấy mà cũng phải để ta chờ đợi, các ngươi coi thường người Tùy chúng ta hay sao?

Viên quan kia cố nén bất mãn, cúi đầu giải thích:

- Bẩm điện hạ, những thứ ngài yêu cầu đều là vật phẩm quý hiếm, cần thời gian điều chuyển từ các kho trong nước. Xin điện hạ rộng lòng chờ đợi.

Kha đáp:

- Ta không cần biết! Nếu ngày mai vẫn chưa có, ta sẽ đích thân đến gặp Lỗ Vương, hỏi xem nước Lỗ đối đãi với khách quý như vậy hay sao!

Lời nói ấy khiến viên quan nước Lỗ tức đến đỏ mặt, hắn đường đường là đại thần phụng mệnh triều đình, vậy mà phải cúi đầu chịu sự quở trách của một kẻ đã mất nước, chẳng còn chút quyền thế nào ngoài cái danh Thế tử.

Điều đáng giận hơn là Thế tử Kha không chỉ ngạo mạn với quan lại, mà còn chẳng coi các công tử nước Lỗ ra gì. Trong một buổi yến tiệc do Lỗ Vương tổ chức để an ủi hoàng thất Tùy, một vị công tử nước Lỗ thấy Tùy Vương thần sắc u sầu, bèn chủ động nâng chén an ủi:

- Tùy Vương chớ nên quá đau buồn! Thiên hạ biến đổi khôn lường, một thời thắng bại chưa thể định đoạt cả đời. Nếu có ngày khôi phục được cơ nghiệp, mong rằng Tùy Vương sẽ nhớ đến tình nghĩa nước Lỗ hôm nay.

Tùy Vương còn chưa kịp đáp lời, Thế tử Kha đã bật cười khẩy:

- Khôi phục cơ nghiệp? Chuyện của nước Tùy chúng ta, đến lượt một công tử nước Lỗ như ngươi lên tiếng dạy bảo từ khi nào?

Sắc mặt vị công tử biến đổi, quay sang nhìn Thế tử Kha để tiếp chuyện.

Thế tử Kha vẫn chưa chịu dừng lại, tiếp tục buông lời mỉa mai:

— Nước Lỗ các ngươi quả nhiên chỉ biết nói những lời dễ nghe. Nếu có bản lĩnh, sao không đem quân giúp Tùy Vương đoạt lại giang sơn? Đứng đây nói vài câu vô thưởng vô phạt, chẳng lẽ đã tưởng mình là bậc đại nhân đại nghĩa rồi sao?

Cả điện nhất thời im phăng phắc, những công tử nước Lỗ có mặt đều lộ vẻ giận dữ. Một người không nhịn được, đứng dậy nói:

- Thế tử Kha, ngươi nên nhớ mình đang ở đâu! Nếu không có phụ vương ta rộng lòng thu nhận, giờ này ngươi còn chẳng biết phải lưu lạc nơi nào. Được đối đãi tử tế không có nghĩa là ngươi có thể tùy tiện sỉ nhục người khác!

Thế tử Kha chẳng những không hổ thẹn, trái lại còn ngẩng cao đầu:

- Ta chỉ nói sự thật, nếu các ngươi không thích nghe, cứ việc đi nói với Lỗ Vương. Ta tin rằng vì tình nghĩa với phụ vương ta, ông ấy sẽ không vì mấy lời của các ngươi mà trách phạt ta đâu!

Câu nói ấy chẳng khác nào tát thẳng vào mặt các công tử nước Lỗ. Hắn đã nhận ra rằng lòng nhân hậu của Lỗ Vương chính là tấm lá chắn lớn nhất của mình, cho nên càng ngày càng không kiêng nể ai. Từ đó, sự bất mãn trong triều đình nước Lỗ ngày một tích tụ.

Các đại thần vốn đã không hài lòng với việc triều đình phải tiêu tốn một lượng lớn lương thực, tiền bạc để nuôi dưỡng hoàng thất lưu vong, nay lại càng căm ghét thái độ của Thế tử Kha. Trong mắt họ, nước Tùy đã mất, Tùy Vương không còn binh mã, Thế tử Kha cũng chẳng còn chút giá trị chính trị nào đáng kể. Vậy mà Lỗ Vương vẫn dùng lễ nghi long trọng tiếp đãi, thậm chí còn để mặc cho kẻ ấy ngang nhiên làm tổn hại thể diện của triều đình.

Một hôm, các đại thần cùng vào cung yết kiến Lỗ Vương. Vị đứng đầu bá quan bước ra khỏi hàng, chắp tay thưa:

- Chúa công, thần có lời không biết có nên nói hay không.

Lỗ Vương đặt quyển tấu chương xuống:

- Khanh cứ nói.

Vị đại thần đáp:

- Tùy Vương là bằng hữu cũ của chúa công, việc nước Lỗ cưu mang ông ấy, trong mắt thiên hạ là nghĩa cử đáng quý, thần không dám phản đối. Nhưng Thế tử Kha nhiều lần xúc phạm quan viên, khinh miệt công tử trong triều, hành vi ngày càng quá quắt. Nếu cứ tiếp tục dung túng, e rằng không chỉ làm tổn hại uy nghiêm của hoàng thất nước Lỗ, mà còn khiến lòng người bất mãn.

Một vị đại thần khác tiếp lời:

- Xin chúa công suy xét, Tùy Vương nay đã mất nước, thế lực không còn. Thế tử Kha lại là người gây ra nhiều oán hận trong dân chúng nước Tùy. Nếu nước Soái truy cứu những việc hắn từng làm, chúng ta vì che chở hắn mà bị cuốn vào tranh chấp, chẳng phải tự chuốc lấy tai họa hay sao?

Lỗ Vương nghe xong, sắc mặt dần trở nên nghiêm nghị, ông nói:

- Các khanh cho rằng quả nhân không hiểu những điều ấy sao?

Bá quan cúi đầu, không ai dám đáp. Lỗ Vương đứng dậy, chậm rãi đi xuống trước điện, nói:

- Nước Tùy đã mất, Tùy Vương đã trở thành người không nhà. Khi còn tại vị, ông ấy từng cùng quả nhân uống rượu luận giao, từng giúp đỡ quả nhân trong những lúc khó khăn. Nay người gặp nạn, chẳng lẽ quả nhân lại vì sợ hãi nước Soái mà quay lưng? Nếu làm như vậy, quả nhân còn mặt mũi nào nhìn thiên hạ, còn xứng đáng với hai chữ bằng hữu hay không?

Ông dừng lại, ánh mắt quét qua quần thần.

- Về phần Thế tử Kha, quả nhân sẽ khuyên bảo hắn. Nhưng việc hắn có thái độ ngạo mạn không thể trở thành lý do để chúng ta ruồng bỏ cả hoàng thất Tùy. Các khanh không cần bàn thêm chuyện này nữa!

Thấy Lỗ Vương đã quyết, các đại thần chỉ đành cúi đầu lĩnh mệnh. Tuy vậy, khi rời khỏi đại điện, không ít người lộ vẻ lo âu. Họ kính trọng lòng nhân hậu của Lỗ Vương, nhưng cũng hiểu rằng trị quốc không thể chỉ dựa vào tình nghĩa riêng tư. Một vị quân vương có thể vì bằng hữu mà mở cửa đón người lưu vong, song nếu vì thế mà để mặc kẻ khác chà đạp phép tắc, cái giá phải trả cuối cùng có thể là rất lớn.

Còn trong cung điện dành cho hoàng thất Tùy, Thế tử Kha nghe tin các đại thần nước Lỗ đã nhiều lần khuyên can Lỗ Vương, chẳng những không hề lo lắng, mà còn tỏ vẻ đắc ý.

Hắn ngồi tựa trên chiếc ghế phủ gấm, nhàn nhã nhấp một ngụm rượu, cười nói với người hầu:

- Đám lão già kia tưởng có thể làm gì được ta sao? Chỉ cần phụ vương ta còn tình nghĩa với Lỗ Vương, bọn chúng chẳng thể động đến một sợi tóc của ta.

Tùy Vương ngồi bên cạnh, nghe vậy liền nhíu mày, nói:

- Kha nhi, chúng ta đã mất nước, chẳng còn ở Tùy cung nữa. Đây là đất Lỗ, mọi việc đều phải biết chừng mực. Lỗ Vương có lòng che chở chúng ta, con càng phải khiêm nhường, chớ khiến người khác sinh lòng oán ghét.

Thế tử Kha đặt chén rượu xuống, vẻ mặt bất mãn.

- Phụ vương, chúng ta dù sao cũng là hoàng tộc. Chẳng lẽ vừa mất nước đã phải cúi đầu trước đám người nước Lỗ hay sao? Nếu không nhờ tình nghĩa năm xưa, liệu họ có dám đối đãi với chúng ta như thế không?

- Con!

Tùy Vương giận đến run người, nhưng nhìn đứa con trai vẫn chưa hiểu thế nào là họa phúc, ông chỉ có thể thở dài bất lực. Ông đã tận mắt chứng kiến giang sơn sụp đổ, biết rõ một trong những nguyên nhân sâu xa khiến nước Tùy mất lòng dân chính là sự ngang ngược của Thế tử Kha. Thế nhưng, ngay cả sau khi mất nước, đứa con trai ấy vẫn không chịu tỉnh ngộ.

Tùy Vương chỉ có thể hy vọng rằng dưới sự che chở của Lỗ Vương, gia tộc mình sẽ còn một ngày sống sót qua cơn biến loạn. Ông không biết rằng, chính sự dung túng của mình trong quá khứ, cùng lòng kiêu ngạo không chịu sửa đổi của Thế tử Kha ở hiện tại, đang từng bước đẩy cả hoàng thất Tùy vào một hoàn cảnh nguy hiểm hơn.

Còn tại nước Soái, việc Tùy Vương và Thế tử Kha trốn sang nước Lỗ sớm muộn cũng sẽ truyền đến tai Soái Vương. Khi ấy, chuyện này sẽ không còn đơn thuần là việc một nước tiếp nhận hoàng thất lưu vong. Nó có thể trở thành một ván cờ ngoại giao mới, nơi lòng nhân hậu của Lỗ Vương va chạm với tham vọng của nước Soái, còn Thế tử Kha, kẻ vẫn tưởng mình được che chở tuyệt đối, rất có thể sẽ trở thành mồi lửa châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng lớn hơn.

Ở xa xôi phía bắc, có những con người cũng sớm nhận ra tình hình ấy của nước Lỗ. Ngô Vương cho truyền Quách Tuấn, Mộc Kỳ và Hoài Liêm tới để bàn việc nước Lỗ.

Ngô Vương nói:

- Soái Vương mới thâu tóm nước Tùy, nay ta nghe ngóng được rằng Tùy Vương cùng hoàng thất đã lưu lạc sang nước Lỗ. Triều đình Tùy trước đây vốn làm những việc không thuận đạo lý, ta e rằng Soái Vương sẽ lấy đó làm cớ để thôn tính nước Lỗ. Các khanh có chung suy nghĩ với ta chăng?

Mộc Kỳ nói:

- Chúa công luận rất phải! Tiềm lực hiện giờ của Soái đã trở nên ngoài tầm kiểm soát. Việc Soái có thể dễ dàng chiếm lấy Tùy là vì họ đã làm ra những việc mất nhân tính, tạo một cái thế chính đạo cho Soái Vương hành động. Ngay cả Vệ, vốn có đồng minh hùng hậu ở phía nam và rất lo ngại Soái cũng không can dự, chứng tỏ rằng chính Vệ cũng không có cớ gì để can dự vào chiến sự nước Tùy. Nay Lỗ Vương lại thâu nạp hoàng thất nước Tùy, thần đoán chỉ rất sớm nữa thôi, Soái Vương sẽ hưng binh hỏi tội nước Lỗ!

Ngô Vương nói:

- Như vậy không được, Soái ngày càng xâm lấn về phía bắc, nếu để Soái chiếm được Lỗ thì chẳng mấy chốc sẽ đe dọa đến toàn vùng. Các khanh hãy nghĩ cách để chúng ta có thể ngăn chặn việc ấy từ trong trứng nước thì hơn!

Quách Tuấn đồng tình:

- Về tình thế hiện giờ, Ngô không khác gì Vệ, đều là nước lấy chính đạo làm đầu, là cái gương cho các chư hầu nhìn vào. Chúng ta tuyệt đối không nên can dự quân lính để bảo vệ cho Lỗ, vì bảo vệ Lỗ là bảo vệ cho Tùy, là bảo vệ cho cái ác. Cuốn vào chiến sự lúc này vừa gây hại cho Ngô mà còn không hợp chính đạo, chi bằng cử người đi sứ, thuyết phục Lỗ Vương nghe lời phải, trục xuất hoàng thất Tùy đi chỗ khác thì hơn! Như vậy thì Soái sẽ không có cớ gì mà đánh Lỗ, nếu Soái Vương mà vẫn rắp tâm gây hấn thì khi ấy ta có thể nhờ cậy Cừ và Trịnh dễ dàng bảo vệ Lỗ!

Ngô Vương nói:

- Ý ấy rất hay! Hoài Liêm nghe lệnh!

Hoài Liêm đáp:

- Có thần!

Ngô Vương nói tiếp:

- Khanh hãy đi chuẩn bị lễ vật, đem theo tùy tùng lập tức đi sứ nước Lỗ. Khanh phải khuyên can bằng được Lỗ Vương trục xuất hoàng thất nước Tùy để tránh xảy ra giao tranh không đáng có với nước Soái!

Quách Tuấn nói với Hoài Liêm:

- Ngươi đến nước Lỗ, chớ lấy lợi hại mà ép người, cũng đừng dùng lời đe dọa khiến Lỗ Vương sinh lòng phản cảm. Ông ta coi trọng tình nghĩa, nếu chúng ta chỉ nói đến lợi ích của nước Lỗ, e rằng khó lay chuyển. Ngươi phải khiến ông ta hiểu rằng, đôi khi giữ trọn nghĩa với một người lại có thể đẩy hàng vạn sinh linh vào cảnh lầm than.

Hoài Liêm lĩnh mệnh rồi chuẩn bị lên đường đi sứ nước Lỗ.

Mấy ngày sau, đoàn sứ giả nước Ngô đến kinh thành nước Lỗ. Sau nghi thức tiếp đón, Hoài Liêm được đưa vào đại điện yết kiến Lỗ Vương.

Lỗ Vương vốn nghe danh Hoài Liêm từ lâu, bèn lấy lễ tiếp đãi, ban chỗ ngồi và cho phép y trình bày mục đích chuyến đi.

Hoài Liêm không vội đề cập đến việc trục xuất hoàng thất Tùy. Y trước tiên chắp tay, nói:

- Lỗ Vương lấy nhân nghĩa đối đãi thiên hạ, biết trọng tình bằng hữu, không vì người gặp nạn mà quay lưng. Việc tiếp nhận Tùy Vương giữa lúc ông ấy cùng đường, đủ để thấy tấm lòng của Lỗ Vương. Tại hạ rất kính phục, nhưng chính vì kính trọng đức độ ấy, tại hạ mới xin được nói vài lời thật lòng.

Lỗ Vương gật đầu:

- Hoài đại phu cứ nói, quả nhân muốn nghe lời ngay thẳng.

Hoài Liêm nói tiếp:

- Lỗ Vương cứu giúp Tùy Vương là nghĩa cử của một bằng hữu, nhưng nếu vì che chở ông ấy mà khiến nước Lỗ phải đối đầu với nước Soái, thì việc ấy đã vượt khỏi phạm vi tình nghĩa riêng tư, trở thành đại sự liên quan đến vận mệnh của cả một nước. Tùy Vương mất nước, quả thật đáng thương, nhưng hàng vạn dân chúng nước Lỗ có lỗi gì mà phải chịu cảnh binh đao vì cuộc tranh chấp của hai vị quân vương?

Lỗ Vương hơi cau mày, song vẫn im lặng lắng nghe.

Hoài Liêm tiếp tục:

- Xin Lỗ Vương nhìn vào tình thế hiện nay, nước Soái đã đánh bại Tùy, quân uy đang thịnh. Nếu Soái Vương chỉ muốn thu phục phần đất cũ của Tùy, ông ta có thể không dừng lại ở đó. Nhưng nếu biết Tùy Vương và Thế tử Kha đang được nước Lỗ bảo vệ, ông ta sẽ có thêm một lý do để gây sức ép, thậm chí phát binh sang đông. Khi ấy, dù Lỗ Vương có thể bảo vệ hoàng thất Tùy trong một thời gian, liệu có thể bảo vệ toàn bộ nước Lỗ trước một cuộc chiến hay không?

Lỗ Vương đáp ngay:

- Nước Soái muốn gây chiến, lẽ nào quả nhân chỉ cần giao nộp bằng hữu thì họ sẽ thôi? Hôm nay họ đòi Tùy Vương, ngày mai họ có thể đòi thêm đất đai, thành trì. Nếu cứ vì sợ hãi mà nhượng bộ, đến khi nào mới có thể giữ được quốc thể?

Hoài Liêm không phản bác ngay, y hiểu đây mới là điều Lỗ Vương lo ngại nhất, ông không chỉ muốn bảo vệ người bạn cũ, mà còn sợ việc khuất phục trước nước Soái sẽ biến nước Lỗ thành mục tiêu tiếp theo.

Hoài Liêm đáp:

- Lỗ Vương lo nước Soái được đằng chân lân đằng đầu, điều ấy không phải không có lý. Nhưng xin ngài phân biệt rõ hai việc, một là giữ gìn quốc thể, hai là giữ lại hoàng thất Tùy, hai việc ấy chưa chắc đã đồng nhất. Nếu ngài trục xuất Tùy Vương, không có nghĩa là cúi đầu trước Soái Vương. Ngài có thể tuyên bố rằng nước Lỗ không tham dự vào cuộc tranh chấp giữa Soái và Tùy, cũng không cho phép bất kỳ thế lực nào mượn lãnh thổ nước Lỗ để phục quốc hay tập hợp quân đội. Đó là cách giữ trung lập, tránh để nước mình trở thành chiến trường.

Hoài Liêm ngừng lại một lát rồi nói tiếp:

- Trái lại, nếu Lỗ Vương kiên quyết che chở họ, nước Soái có thể vin vào đó để cho rằng nước Lỗ đang dung túng tàn dư của Tùy, cản trở việc ổn định vùng đất mới chiếm. Khi ấy, một cuộc chiến vốn có thể tránh được sẽ trở thành điều khó tránh. Ngài có thể giữ được danh nghĩa với một người bạn, nhưng nếu thành trì bị phá, ruộng đồng bị thiêu, dân chúng phải bỏ nhà chạy nạn, liệu còn bao nhiêu người có thể hiểu được nỗi lòng của ngài?

Những lời ấy khiến không ít đại thần nước Lỗ âm thầm gật đầu. Họ vốn cũng lo ngại nước Soái lấy cớ can thiệp, nay nghe Hoài Liêm phân tích rõ ràng, càng cảm thấy việc giữ hoàng thất Tùy lại càng nguy hiểm.

Thế nhưng Lỗ Vương vẫn chưa lay chuyển, nói:

- Hoài đại phu nói rất có lý. Quả nhân không phủ nhận nước Lỗ phải cân nhắc họa phúc, càng không muốn dân chúng chịu cảnh chiến tranh. Nhưng có một điều, đại phu có lẽ chưa hiểu hết. Năm xưa, khi quả nhân còn chưa ở ngôi, Tùy Vương đã từng giúp đỡ quả nhân lúc nguy nan. Chúng ta cùng lớn lên, cùng trải qua những ngày tháng gian khó, đã hứa với nhau rằng nếu một người gặp nạn, người kia tuyệt không bỏ mặc. Nay ông ấy mất nước, không còn quân đội, không còn triều đình, phải đưa gia quyến chạy trốn đến đất Lỗ. Nếu ngay cả lúc này quả nhân cũng quay lưng, vậy lời thề năm xưa còn có ý nghĩa gì?

Hoài Liêm đáp:

- Tại hạ kính trọng tình nghĩa của Lỗ Vương, nhưng tình nghĩa giữa hai người không thể thay thế trách nhiệm của một quân vương đối với muôn dân. Nếu một quyết định khiến hàng vạn người phải trả giá, ngài không thể chỉ hỏi bản thân có phụ bằng hữu hay không, mà còn phải hỏi liệu mình có phụ người dân nước Lỗ hay không.

Lỗ Vương im lặng hồi lâu.

Hoài Liêm biết đối phương đã nghe rõ mọi lý lẽ, bèn tiếp tục khuyên nhủ bằng giọng chân thành hơn:

- Tại hạ không mong Lỗ Vương vứt bỏ Tùy Vương như một kẻ xa lạ. Ngài có thể cấp cho ông ấy tiền bạc, lương thực, nơi cư trú ở một vùng xa, để ông ấy sống những ngày cuối đời trong yên ổn. Nhưng Thế tử Kha lại là chuyện khác, người này từng gây ra nhiều oán hận, nay vẫn không biết thu liễm. Nếu một ngày hắn dựa vào sự che chở của ngài để chiêu tập người cũ, mưu đồ phục quốc, nước Lỗ sẽ phải gánh lấy hậu quả từ những việc mà mình không hề gây ra.

Đến đây, ánh mắt Lỗ Vương trở nên nghiêm nghị.

- Nếu Thế tử Kha có ý định gây dựng quân đội riêng trên đất Lỗ, quả nhân tất sẽ ra tay xử lý ngay. Nhưng chỉ vì hắn có thể gây họa trong tương lai mà buộc quả nhân đuổi cả gia quyến Tùy Vương ra khỏi lãnh thổ, chẳng phải quá bạc bẽo hay sao?

Hoài Liêm thở dài:

- Lỗ Vương đã quyết tâm như vậy, tại hạ e rằng khó lòng thuyết phục thêm. Nhưng xin ngài hãy nhớ, chiến tranh không chờ đến khi chúng ta sẵn sàng mới xảy ra. Một khi nước Soái quyết định xuất binh, mọi lời hối tiếc đều đã muộn!

Lỗ Vương đứng dậy, chắp tay đáp lễ, thể hiện sự tôn trọng đối với vị sứ giả.

- Quả nhân hiểu thiện ý của Ngô Vương, cũng hiểu những lời đại phu vừa nói đều xuất phát từ sự lo lắng cho nước Lỗ. Xin thay quả nhân gửi lời cảm tạ đến Ngô Vương, nhưng chuyện của Tùy Vương, quả nhân đã quyết định. Chừng nào quả nhân còn tại vị, chừng ấy hoàng thất Tùy vẫn được nước Lỗ che chở. Dù nước Soái có đem quân đến, quả nhân cũng không vì sợ chiến tranh mà đuổi bằng hữu vào đường cùng.

Hoài Liêm nhìn Lỗ Vương, biết rằng chuyến đi này đã không thể đạt được mục đích. Y không tranh luận thêm, chỉ cúi đầu nói:

- Lỗ Vương trọng tình nghĩa, tại hạ không dám không kính phục. Chỉ mong đến ngày binh đao thật sự kéo đến, Lỗ Vương vẫn có thể bảo vệ được điều mà mình muốn bảo vệ hôm nay.

Nói xong, Hoài Liêm cáo từ.

Sau khi đoàn sứ giả nước Ngô rời khỏi đại điện, các đại thần nước Lỗ lại một lần nữa khuyên can Lỗ Vương, nhưng Lỗ Vương vẫn giữ nguyên quyết định. Ông cho rằng nếu vì lời đe dọa của nước Soái mà ruồng bỏ bằng hữu, thì dù nước Lỗ có tránh được chiến tranh trước mắt, danh dự của ông cũng chẳng còn.

Hoài Liêm trở về nước Ngô, đem toàn bộ sự việc tâu lại Ngô Vương. Y đặc biệt nhấn mạnh rằng Lỗ Vương không phải người không hiểu lợi hại, mà là người đã đặt tình nghĩa lên trên những tính toán thông thường. Muốn khiến ông thay đổi quyết định, e rằng chỉ có thể chờ đến khi tình thế thực sự biến chuyển.

Ngô Vương nghe xong, trầm ngâm không nói. Y vốn hy vọng có thể dùng lời lẽ để ngăn nước Lỗ bước vào vòng xoáy chiến tranh. Nhưng nay, khi Lỗ Vương đã quyết tâm bảo vệ hoàng thất Tùy, nguy cơ xung đột giữa Lỗ và Soái ngày càng hiện rõ.
 
Sửa lần cuối:
Chương 99: Soái Vương hội quân ở Hải Dương đe dọa nước Lỗ

c99.png


Sau khi thôn tính nước Tùy, Soái Vương không vội đem quân tiến sâu vào những vùng đất mới chiếm, mà trước tiên hạ lệnh cho các quan viên ổn định trật tự, cứu tế dân chúng, khôi phục chợ búa, sửa sang đường sá và điều tra những vụ án oan dưới thời Tùy Vương. Vùng đất cũ của Tùy được đổi tên thành Hải Dương, chính thức đặt dưới quyền cai quản của nước Soái.

Soái Vương hiểu rằng chiếm được thành trì chỉ là bước đầu, muốn thực sự biến Hải Dương thành lãnh thổ của mình, điều quan trọng hơn cả là khiến dân chúng chấp nhận triều đại mới. Nếu người dân vẫn ôm lòng oán hận, coi quân Soái là kẻ xâm lược, thì dù có để lại bao nhiêu binh mã trấn giữ, vùng đất này sớm muộn cũng sẽ phát sinh biến loạn.

Bởi vậy, bên cạnh việc ổn định dân sinh, Soái Vương còn đặc biệt quan tâm đến những tội ác mà triều đình Tùy từng gây ra. Những vụ án liên quan đến Thế tử Kha, cái chết của Bảo Ngọc, sự sụp đổ của gia đình Bảo Đức cùng vô số oan khuất khác được lệnh rà soát lại. Các quan địa phương phải thu thập lời khai, tìm nhân chứng, lập hồ sơ để phân định rõ những kẻ trực tiếp gây tội và những người bị triều đình cũ vu oan.

Sau một thời gian chuẩn bị, Soái Vương ban xuống một đạo lệnh, sai quan viên đi khắp Hải Dương, từ thành thị đến thôn quê, công khai hỏi ý kiến dân chúng về việc xử trí Tùy Vương và Thế tử Kha.

Nội dung đạo lệnh không trực tiếp kết tội hai người, mà đặt ra một câu hỏi rất công bằng:

"Tùy Vương từng cai trị vùng đất này, để mặc Thế tử Kha và quyền quý lộng hành, dung túng kẻ ác, khiến dân chúng chịu nhiều oan khuất. Nay nước Tùy đã mất, những tội trạng ấy có nên được điều tra đến cùng, những kẻ có tội có nên bị trừng trị theo phép nước hay không?"

Đạo lệnh nhanh chóng được truyền đến khắp Hải Dương. Tại các huyện thành, quan viên dựng bàn tiếp nhận lời khai, mời người dân trình bày những điều mắt thấy tai nghe. Ở các thôn làng, những người từng chịu áp bức được phép đứng ra tố cáo, không còn phải lo sợ quan lại cũ trả thù. Những vụ án từng bị chôn vùi dưới quyền lực hoàng thất lần lượt được nhắc lại.

Một lão nông ở vùng ngoại thành kể rằng, nhiều năm trước, quan phủ cưỡng ép thu thêm lương thực, vét sạch cả phần thóc giống của gia đình ông. Khi ông đến kêu oan, nha dịch không những đánh đập mà còn đòi tiền mới chịu tiếp nhận đơn từ.

Một người thợ thủ công kể về người anh trai bị bắt đi lao dịch, sau đó chết nơi công trường mà gia đình không được nhận bất cứ khoản bồi thường nào.

Đến khi nhắc tới Bảo Đức, nhiều người không khỏi nghiến răng căm phẫn. Một thương nhân từng quen biết ông đứng giữa đám đông, nghẹn giọng kể lại việc Bảo Ngọc chết oan, Bảo Đức nhiều lần kêu cứu nhưng bị triều đình khước từ, cuối cùng còn bị tịch thu gia sản, vu tội mưu phản và xử tử trước công chúng.

- Bảo Đức chỉ muốn đòi lại công đạo cho con gái mình. Ông ấy có tội gì? Nếu ngay cả người như vậy cũng bị triều đình ép đến chết, thử hỏi dân chúng chúng ta còn biết tìm ai để phân xử?

Lời nói ấy khiến đám đông im lặng. Không ít người cúi đầu lau nước mắt, cũng có người siết chặt nắm tay, nhớ lại những bất công mà bản thân và gia đình từng phải chịu.

Càng đi sâu vào các địa phương, quan viên càng thu thập được nhiều lời tố cáo tương tự. Tuy hoàn cảnh mỗi người khác nhau, tất cả đều có chung một nỗi oán hận, khi còn nắm quyền, triều đình Tùy đã dùng luật pháp để bảo vệ kẻ có thế lực, còn người dân thấp cổ bé họng thì chẳng có nơi nào kêu oan. Bởi vậy, khi được hỏi có nên trừng trị Tùy Vương và Thế tử Kha hay không, đại đa số dân chúng đều tán thành.

Có người yêu cầu phải đưa Thế tử Kha ra xét xử công khai. Có người cho rằng Tùy Vương dù không trực tiếp gây ra mọi tội ác, nhưng với tư cách quân chủ, ông không thể hoàn toàn thoái thác trách nhiệm về những gì đã xảy ra dưới quyền mình, thậm chí còn sai người đàn áp để lấp liếm những việc làm của Thế tử Kha. Cũng có người chỉ mong những vụ án oan được xét lại, người bị hại được trả lại danh dự, những kẻ từng dựa vào quyền thế làm điều ác phải chịu hình phạt thích đáng.

Những ý kiến ấy được tổng hợp thành từng bản tấu trình, chuyển về trung tâm Hải Dương rồi đưa đến trước mặt Soái Vương.

Đọc những bản tấu trình chất đầy án thư, Soái Vương không giấu được vẻ hài lòng, y nói:

- Dân tâm đã định, xem ra những năm tháng cai trị của triều đình Tùy quả thực đã khiến lòng người oán hận đến tận cùng.

Nguyên Hà đứng bên cạnh, chắp tay đáp:

- Chúa công đã cho dân chúng cơ hội nói lên nỗi oan khuất của mình, lại không vội định tội trước khi điều tra. Việc ấy khiến người dân cảm thấy triều đình mới thực sự muốn phân xử công bằng. So với những lời tuyên bố hoa mỹ, để dân chúng tự nói ra điều họ mong muốn có sức thuyết phục hơn nhiều. Một vùng đất mới chiếm, nếu chỉ dựa vào đao kiếm để cai trị thì không thể lâu bền, nhưng nếu người dân cho rằng chúng ta đã thay họ đòi lại công đạo, họ sẽ không dễ dàng đứng lên chống lại chúng ta.

Soái Vương đáp:

- Đây là một mũi tên trúng hai con nhạn, vừa thua được dân tâm Hải Dương, vừa là cái cớ để chúng ta đem quân hỏi tội nước Lỗ!

Nguyên Hà khen:

- Chúa công anh minh!

Tùy Vương và Thế tử Kha đã chạy sang nước Lỗ, Lỗ Vương vì tình nghĩa cũ, không những thu nhận mà còn cung cấp nơi ăn chốn ở, lương thực và vật phẩm cho họ. Nếu chỉ nhìn từ góc độ bang giao, đây là việc riêng của nước Lỗ, nhưng khi Soái Vương đã công khai đặt vấn đề xét xử Tùy thất trước toàn thể dân chúng Hải Dương, sự che chở ấy có thể bị diễn giải thành hành động bao che cho những kẻ bị người dân căm phẫn. Một khi đã có sự đồng thuận rộng rãi từ dân chúng, Soái Vương sẽ có thêm một lý do chính đáng để chất vấn Lỗ Vương.

Quả nhiên, không lâu sau, Soái Vương triệu Thương Cường và Nguyên Hà vào điện, chính thức bàn về việc xử trí hoàng thất Tùy đang lưu trú tại nước Lỗ.

Thương Cường nhìn bản tấu trình, chậm rãi nói:

- Việc dân chúng Hải Dương đồng lòng yêu cầu điều tra và trừng trị Tùy thất là cơ sở rất tốt. Nhưng nếu chúng ta lập tức xuất binh sang Lỗ, thiên hạ có thể cho rằng nước Soái vừa chiếm Tùy đã muốn tiếp tục mở rộng chiến tranh. Muốn hành động mà không bị mang tiếng tham đất, trước hết phải buộc nước Lỗ đứng trước một câu hỏi, họ đang bảo vệ người bạn cũ, hay đang che chở cho những kẻ phải chịu trách nhiệm về tội ác của triều đình Tùy?

Nguyên Hà tiếp lời:

- Có thể sai sứ giả mang hồ sơ các vụ án đến nước Lỗ, yêu cầu giao nộp Tùy Vương và Thế tử Kha để điều tra. Nếu Lỗ Vương đồng ý, chúng ta đạt được mục đích mà không cần động binh. Nếu ông ta từ chối, chúng ta sẽ có cơ sở công khai chất vấn quyết định ấy trước thiên hạ, đồng thời yêu cầu nước Lỗ giải thích vì sao lại che chở cho những người bị dân chúng Hải Dương yêu cầu xét tội.

Soái Vương khẽ gật đầu, nói:

- Đúng ý ta lắm, ta không cần vội vàng kéo quân qua biên giới. Trước hết phải để nước Lỗ hiểu rằng việc che chở Tùy thất không còn là chuyện riêng giữa Lỗ Vương và Tùy Vương nữa. Một khi họ đã nhận những người ấy làm khách, họ cũng phải đối diện với hậu quả chính sự từ lựa chọn của mình. Ta muốn thiên hạ thấy rõ, nước Soái không vô cớ gây chiến. Chúng ta đã hỏi ý dân, đã điều tra tội trạng, đã cho nước Lỗ cơ hội giải quyết bằng con đường ngoại giao. Nếu họ vẫn nhất quyết chống lại, đến lúc ấy ta dấy binh hỏi tội không ai trách được!

Sau nhiều ngày điều tra tại Hải Dương, các quan viên nước Soái đã thu thập được một lượng lớn lời khai, đơn từ và chứng cứ liên quan đến những tội ác dưới thời Tùy Vương. Hồ sơ ghi rõ những vụ án bị che giấu, những người dân bị hàm oan, những gia đình bị tịch thu tài sản và các quan lại từng lợi dụng quyền thế để bức hại bách tính. Đặc biệt, vụ án Bảo Ngọc cùng cái chết của Bảo Đức được nhiều nhân chứng xác nhận, trở thành một trong những bằng chứng tiêu biểu cho sự mục nát của triều đình Tùy.

Soái Vương xem xét cáo trạng rồi quyết định sai Tư Văn làm sứ giả, mang toàn bộ chứng cứ đến nước Lỗ, yêu cầu Lỗ Vương giải thích việc che chở cho Tùy Vương và Thế tử Kha.

Trước khi lên đường, Soái Vương căn dặn:

- Khanh hãy trình bày rõ ràng từng vụ án, để Lỗ Vương hiểu rằng đây không phải chuyện bịa đặt nhằm vu cáo người khác. Ta muốn biết ông ta sẽ lựa chọn công đạo hay tình riêng. Nếu ông ta chịu giao người, mọi việc vẫn có thể giải quyết bằng lời nói. Nếu ông ta nhất quyết cự tuyệt, hãy để ông ta tự nói rõ lý do trước mặt sứ thần và bá quan nước Lỗ.

Tư Văn hiểu ý, cúi đầu nhận mệnh.

Vài ngày sau, đoàn sứ giả nước Soái tiến vào kinh thành nước Lỗ. Sau nghi thức tiếp đón, Tư Văn được đưa đến đại điện yết kiến Lỗ Vương. Nhà vua vốn đã nghe tin nước Soái điều tra tội trạng Tùy thất, nên khi nhìn thấy những rương cáo trạng được đưa vào điện, sắc mặt không khỏi trầm xuống.

Tư Văn hành lễ rồi nói:

- Khởi bẩm Lỗ Vương, phụng mệnh Soái Vương, tại hạ đến đây để trình bày những chứng cứ liên quan đến tội trạng của Tùy Vương và Thế tử Kha. Nước Soái mong Lỗ Vương xem xét thấu đáo, giao hai người cho chúng tôi điều tra, trả lại công đạo cho dân chúng Hải Dương.

Lỗ Vương ra hiệu cho quan viên tiếp nhận hồ sơ.

Tư Văn lần lượt trình bày những vụ việc đã được điều tra, y nêu rõ lời khai của nhân chứng, những đơn từ từng bị quan phủ bác bỏ, những trường hợp dân chúng bị cưỡng đoạt tài sản và những vụ án bị triều đình cũ cố tình che giấu. Khi nhắc đến Bảo Ngọc, Tư Văn trình bày lời khai của những người có mặt tại tửu lâu, làm rõ những tình tiết bất thường quanh cái chết của nàng. Tiếp đó là quá trình Bảo Đức liên tục kêu oan, bị tịch thu gia sản, vu tội mưu phản rồi xử tử.

Tư Văn không dùng những lời lẽ khoa trương, cũng không cố ý bôi nhọ Tùy Vương, y phân biệt rõ trách nhiệm của người trực tiếp gây án với trách nhiệm của người đứng đầu triều đình, đồng thời nhấn mạnh rằng nước Soái yêu cầu điều tra và xử lý theo chứng cứ, chứ không phải tùy tiện định tội.

Cuối cùng, Tư Văn đặt bản tấu trình xuống trước điện, nói:

- Những chứng cứ này đều được thu thập tại Hải Dương, có nhân chứng và lời khai cụ thể. Dân chúng đã chịu đựng quá lâu, nay chỉ mong những kẻ gây ra tội ác phải chịu trách nhiệm. Tùy Vương từng là quân chủ, Thế tử Kha từng là người đứng đầu hoàng thất, càng không thể chỉ vì thân phận cao quý mà đứng ngoài phép nước. Xin Lỗ Vương hiểu rằng nước Soái không thể làm ngơ trước nguyện vọng của người dân vùng đất vừa quy phục.

Trong điện, các đại thần nước Lỗ bắt đầu xì xào. Có người chăm chú xem cáo trạng, có người lộ vẻ khó xử. Dù không phải tất cả lời khai đều đủ để kết luận mọi trách nhiệm của Tùy Vương, những vụ việc được nêu ra rõ ràng không thể xem là chuyện nhỏ.

Lỗ Vương xem qua một số bản tấu, sắc mặt càng lúc càng nặng nề. Nhưng sau một hồi im lặng, ông khép cáo trạng lại, đáp:

- Những việc xảy ra dưới triều đình Tùy, nước Lỗ không có mặt để chứng kiến. Các người chỉ dựa vào lời khai của người dân Hải Dương rồi tự mình kết luận tội trạng, nay lại mang cáo trạng đến đây yêu cầu quả nhân giao người, chẳng phải quá đường đột hay sao?

Tư Văn chắp tay:

- Chúa công nói rằng nước Lỗ không tận mắt chứng kiến, nhưng nhân chứng và chứng cứ đều có thể kiểm tra. Nếu có điểm nào chưa rõ, nước Soái sẵn sàng cung cấp thêm thông tin. Chúng tôi đến đây trước hết là để giải quyết bằng con đường ngoại giao, tránh việc tranh chấp giữa hai nước trở nên nghiêm trọng!

Lỗ Vương đập nhẹ tay xuống án, giọng nói trở nên cứng rắn:

- Nói cho cùng, các người muốn quả nhân giao Tùy Vương và Thế tử Kha cho nước Soái. Nếu quả nhân không đồng ý, các ngươi sẽ lấy việc ấy làm cớ để xuất binh, đúng không?

Tư Văn vẫn giữ thái độ bình tĩnh:

- Nước Soái không muốn chiến tranh vô cớ. Nhưng nếu Lỗ Vương biết rõ những người ấy bị dân chúng yêu cầu xét tội mà vẫn nhất quyết che chở, chẳng lẽ không nên giải thích cho thiên hạ biết lý do hay sao?

Câu nói ấy khiến Lỗ Vương nổi giận, ông quát:

- Giải thích? Quả nhân cần giải thích với ai? Tùy Vương là bằng hữu nối khố của quả nhân, khi ông ấy cùng đường, quả nhân thu nhận là vì tình nghĩa, không phải vì muốn can dự vào chuyện nước Soái. Nay các ngươi đã chiếm nước Tùy, đổi tên đất ấy thành Hải Dương, lại muốn đem quân quyền của mình áp đặt lên mọi việc. Chẳng lẽ một nước vừa chiến thắng có thể tùy tiện phán xét người khác, rồi bắt các nước láng giềng phải làm theo?

Tư Văn đáp:

- Nước Soái không yêu cầu nước Lỗ phục tùng nước Soái, chúng tôi chỉ yêu cầu Lỗ Vương đừng biến lãnh thổ nước Lỗ thành nơi dung thân vĩnh viễn cho những người đang bị truy cứu trách nhiệm. Nếu Tùy Vương và Thế tử Kha thực sự vô tội, họ có thể đối diện với việc điều tra. Vì sao ngài phải từ chối ngay cả cơ hội làm sáng tỏ sự việc?

Lỗ Vương nhìn thẳng vào Tư Văn, giọng đầy bất mãn:

- Đủ rồi! Quả nhân đã nói, nước Lỗ không giao người. Tùy Vương mất nước đã đủ thê thảm, nay các ngươi còn muốn dồn ông ấy vào đường cùng. Đó là công đạo mà nước Soái các ngươi vẫn rêu rao hay sao? Từ khi chiếm Tùy đến nay, các ngươi liên tục nói mình vì dân chúng, vì công đạo. Nhưng nhìn khắp thiên hạ, nước Soái chẳng phải đang ngày càng mở rộng lãnh thổ hay sao? Hôm nay các ngươi lấy tội trạng Tùy Vương làm cớ, ngày mai có thể lấy một vụ án khác để chất vấn nước Lỗ. Quả nhân thấy các ngươi chỉ muốn tìm lý do gây hấn, sau đó thừa cơ xâm lấn nước khác mà thôi!

Lời trách mắng vang vọng khắp đại điện, các đại thần nước Lỗ đều im lặng. Có người cho rằng lời Lỗ Vương quá gay gắt, nhưng cũng có người âm thầm tán thành. Sau khi nước Tùy thất thủ, các nước đều hiểu rằng sức mạnh của Soái đang tăng lên nhanh chóng. Việc nước Soái liên tục nhắc đến công đạo khiến nhiều người vừa kính nể, vừa nghi ngờ mục đích thực sự phía sau.

Tư Văn nghe hết lời chỉ trích, không hề nổi giận. Y chắp tay đáp:

- Nếu nước Soái chỉ muốn xâm lấn, chúng tôi đã không cần sai sứ đến đây, càng không cần trình bày chứng cứ trước mặt Lỗ Vương. Chính vì muốn giải quyết bằng lý lẽ, chúng tôi mới cho nước Lỗ cơ hội lựa chọn, nhưng ngài chưa xem xét đầy đủ mọi vụ việc đã khẳng định nước Soái gây hấn, lại dùng tình nghĩa riêng để từ chối mọi đề nghị. Như vậy, e rằng người dân Hải Dương sẽ khó lòng hiểu được quyết định của Lỗ Vương đây.

Lỗ Vương đáp:

- Dân chúng Hải Dương là người của nước Soái, quả nhân không có trách nhiệm phải làm theo mọi lời họ yêu cầu. Tùy Vương và Thế tử Kha đang ở đất Lỗ, chịu sự bảo hộ của nước Lỗ. Chỉ cần họ không phạm pháp trên lãnh thổ của ta, không ai có quyền ép quả nhân giao người. Nếu Soái Vương cho rằng mình có đủ lý lẽ, cứ việc tự đến đây nói chuyện, nước Lỗ tuyệt đối không vì sức ép của nước khác mà phản bội bằng hữu!

Tư Văn nhìn Lỗ Vương, biết rằng chuyến đi này đã đi đến hồi kết, y không tranh cãi thêm, chỉ cúi đầu nói:

- Tại hạ đã chuyển đầy đủ lời của Soái Vương, cũng đã trình bày rõ nguyện vọng của dân chúng Hải Dương. Nay Lỗ Vương đã quyết định, tại hạ xin trở về phục mệnh. Chỉ mong ngài suy nghĩ kỹ, bởi một khi lời nói hôm nay truyền đến tai Soái Vương, quan hệ giữa hai nước e rằng sẽ khó giữ được như trước.

Lỗ Vương phất tay:

- Quả nhân không đổi ý. Tiễn khách!

Tư Văn rời khỏi đại điện, trở về nước Soái. Khi đoàn sứ giả vừa đi khỏi, các đại thần nước Lỗ lập tức chia thành hai luồng ý kiến. Một bên cho rằng Lỗ Vương đã giữ được thể diện đất nước, không để nước Soái tùy tiện can thiệp vào công việc nội bộ. Bên còn lại lo ngại rằng lời lẽ cứng rắn của Lỗ Vương chẳng khác nào tự tay đóng sập cánh cửa ngoại giao, khiến nước Lỗ mất đi cơ hội tránh chiến tranh.

Khi Tư Văn trở về, nghe báo cáo toàn bộ cuộc đối đáp tại nước Lỗ. Đến đoạn Lỗ Vương công khai chỉ trích nước Soái lấy cớ gây hấn để xâm lấn nước khác, Soái Vương bật cười:

- Tốt! Chính là điều ta muốn!

Thương Cường chắp tay:

- Chúa công, lời nói của Lỗ Vương chưa đủ để chứng minh nước Lỗ có ý chống đối. Nhưng việc ông ta kiên quyết bảo vệ Tùy thất, bất chấp yêu cầu điều tra, đã tạo ra một tình thế ngoại giao có lợi cho chúng ta. Nếu tiếp tục gây sức ép bằng các biện pháp chính sự, chúng ta có thể khiến các nước khác phải cân nhắc lại thái độ của mình đối với nước Lỗ.

Nguyên Hà tiếp lời:

- Đúng vậy! Chúng ta không cần lập tức tuyên chiến. Trước hết, hãy công bố kết quả chuyến đi sứ, để thiên hạ biết nước Soái đã đưa ra đề nghị, còn nước Lỗ đã trả lời thế nào. Khi các nước đều biết sự việc, Lỗ Vương sẽ khó lòng phủ nhận rằng mình đã từ chối con đường hòa giải. Sau đó, nếu cần hành động, chúng ta sẽ có thêm cơ sở để biện giải trước chư hầu.

Soái Vương quay lại, ra lệnh cho Tư Văn chuẩn bị bản tường trình chính thức về chuyến đi sứ, đồng thời yêu cầu các quan viên rà soát những con đường tiến quân và tình hình phòng thủ ở khu vực giáp ranh nước Lỗ. Mệnh lệnh chưa phải tuyên chiến, nhưng đủ để các tướng lĩnh hiểu rằng triều đình đang chuẩn bị cho khả năng xung đột.

Trong khi các sứ giả đi khắp nơi truyền tin cho các nước, bên trong Hải Dương, một mệnh lệnh quân sự khác cũng được ban xuống. Soái Vương triệu các tướng lĩnh vào điện, ra lệnh điều động quân đội từ những vùng trọng yếu trở về tập kết tại Hải Dương. Các đơn vị đóng rải rác ở những địa bàn đã ổn định lần lượt nhận quân lệnh, kiểm tra binh khí, bổ sung lương thảo, chỉnh đốn chiến mã và chuẩn bị khí giới công thành. Những doanh trại lớn gần biên giới nước Lỗ được mở rộng, kho lương được kiểm kê, các tuyến đường vận chuyển quân nhu được sửa sang để bảo đảm đại quân có thể nhanh chóng xuất phát khi cần thiết.

Mệnh lệnh được truyền đi khẩn trương nhưng không phô trương quá mức. Bề ngoài, triều đình giải thích rằng việc tập kết quân đội nhằm củng cố phòng thủ Hải Dương, đề phòng những biến động sau chiến tranh. Nhưng các tướng lĩnh hiểu rõ hơn ai hết, đây không đơn thuần là một cuộc điều chỉnh quân số.

Tại đại doanh Hải Dương, cờ hiệu nước Soái liên tiếp được dựng lên. Các doanh trại trải dài ngoài thành, quân sĩ luyện tập ngày đêm, tiếng trống điểm binh vang vọng khắp vùng. Những đoàn xe chở lương thực nối nhau tiến vào kho quân nhu, trong khi các tướng lĩnh thường xuyên nhận lệnh kiểm tra đường sá, bến vượt và những vị trí có thể dùng làm điểm xuất phát cho chiến sự.
 
Back
Top