Dã sử Tĩnh Hải Loạn Lạc

Bạn thích nước nào nhất?

  • 1. Ngô

    Bình chọn: 1 20.0%
  • 2. Soái

    Bình chọn: 0 0.0%
  • 3. Vệ

    Bình chọn: 4 80.0%

  • Số thành viên bình chọn
    5
Chương 70: Tử Trọng nói về bạo chúa, công tử Sóc được Tường San giúp đỡ

congtuSoc.png


Nói về nước Vệ, Hàn Toại sau khi được phong chức, được Vệ Vương giữ lại kinh thành để huấn luyện binh mã trong thời bình. Hàn Toại mong muốn chứng minh rằng mình xứng đáng với sự tin tưởng của Vệ Vương và Thừa tướng Tử Trọng nên y rất siêng năng huấn luyện binh mã, đưa hàng ngũ vào lề lối, kỷ cương rất chặt chẽ.

Trống canh ba vừa dứt, thao trường đã sáng rực đuốc lửa. Hàn Toại không cho binh sĩ luyện những thế trận hoa mỹ, mà bắt đầu bằng thứ căn bản nhất đó là chỉnh khí và hợp nhịp.

- Ba hàng trước, tiến ba bước-dừng—đổi thế đỡ!

Lệnh vừa dứt, hàng thương binh đồng loạt bước lên, mũi thương hạ thấp đúng một góc, tạo thành thế Bình phong cản kỵ, Hàn Toại lập tức cho kỵ binh giả xung trận. Ngựa chưa kịp chạm hàng, tuyến đầu đã xoay trục, hàng sau tràn lên, mũi thương đổi hướng như nước chảy, khóa kín khoảng trống. Cả đội hình, hàng ngũ dưới tay Hàn Toại chuyển động như một con mãnh hổ.

Hàn Toại giơ tay ra hiệu dừng, ánh mắt sắc như cắt, nói:

-Các ngươi vừa rồi nhanh, nhưng chưa chuẩn. Trận địa không cần nhanh hơn địch, mà cần đúng hơn địch!

Ngay sau đó, Hàn Toại chuyển sang luyện biến trận liên hoàn, y chia quân làm ba doanh, mỗi doanh nhận một cờ hiệu khác nhau. Khi cờ đỏ phất lên, doanh trung quân lập tức tản thành hình nhạn hành, kéo giãn chiến tuyến để dụ địch. Cờ xanh nổi, hai cánh khép lại thành gọng kìm, khóa đường lui. Nhưng điều đáng sợ nhất là khi cờ đen xuất hiện,tất cả lập tức bỏ thế công, thu về trụ trận, dựng khiên, hạ thấp trọng tâm, biến thành một khối phòng ngự bất động.

Hàn Toại hô to:

-Biến mà không loạn, tán mà không rời, đó mới là binh pháp!

Cuối buổi, Hàn Toại không cho quân nghỉ, mà bất ngờ thổi còi đổi lệnh giữa lúc binh sĩ đang di chuyển. Đội hình buộc phải vừa chạy vừa đổi trận, người trước chưa dừng, người sau đã phải nhập thế mới. Kẻ nào chậm nửa nhịp, lập tức bị thay ra ngoài.

Hàn Toại đứng trên đài cao, nhìn xuống không chớp mắt. Trong mắt y, một đội quân chân chính không phải là đội quân biết đánh khi có lệnh, mà là đội quân dù đổi lệnh giữa loạn thế, vẫn giữ được nhịp trận ban đầu!

Nhờ thế, lính của nước Vệ dù đã rất tinh nhuệ, dưới bàn tay chỉ huy của Hàn Toại, lại càng hoàn thiện hơn nữa.

Một hôm, Vệ Vương mời Tử Trọng và Hàn Toại tới ngự uyển uống rượu, sẵn tiện đàm đạo việc nước.

Ngồi vào bàn tiệc, Hàn Toại dâng chén rượu lên nói:

-Hàn Toại tài hèn sức mọn, thân phận tầm thường, nay được chúa công tin dùng, lại nhờ ơn dìu dắt của Thừa tướng mà bước lên ngôi vị Nguyên soái, ân này, dẫu thịt nát xương tan cũng khó báo đền!

Vệ Vương cười:

-Ấy là nhờ cái tài của ngươi đó, không phải ta và Thừa tướng thiên vị đâu!

Tử Trọng uống cạn chén rượu, khen Hàn Toại:

-Ta thấy ngươi huấn luyện binh mã rất cao siêu, cứ đà này quân ta càng ngày càng hùng mạnh!

Hàn Toại đáp:

-Hàn Toại nào có tài nghệ gì, tất cả là nhờ đội quân của chúa công vốn đã tinh nhuệ sẵn, việc huấn luyện rất dễ dàng!

Vệ Vương vỗ vai Hàn Toại, nói:

-Ta tin đội quân ấy trong tay ngươi sẽ như thiên binh vạn mã!

Ba người cười nói vui vẻ, bàn về đủ thứ chuyện đại sự.

Bất giác, Vệ Vương hỏi:

-Hôm trước ta có đọc một cuốn sách, nói về thế nào là bạo chúa, thế nào là hiền quân, cảm thấy rất tâm đắc, nay muốn bàn luận với hai người!

Hàn Toại tò mò:

-Chúa công, sách ấy nói thế nào?

Vệ Vương đáp:

-Bạo chúa thì cai trị bằng nỗi sợ, đặt lợi ích cá nhân lên trên đất nước, thường tàn nhẫn và đa nghi. Hiền quân thì cai trị bằng trí và đức, lấy dân làm gốc, biết dùng người và giữ kỷ cương. Lý thuyết thì là vậy, nhưng ta nghĩ rằng, có những lúc, một vị vua phải hành động tàn nhẫn vì đại cuộc, giữ sự ổn định cho quốc gia. Ranh giới giữa bạo chúa và hiền quân rất mong manh, làm sao để cân bằng được hai điều ấy?

Hàn Toại nói:

-Đây là một vấn đề rất sâu xa, thần xưa nay nghiên cứu binh pháp, vốn không am tường về việc trị quốc. Câu này xin hỏi Thừa tướng ạ!

Tử Trọng từ tốn:

-Nói ví dụ thế này, hiền quân và bạo chúa đều nắm trong tay quyền sinh quyền sát, nhưng có điểm khác biệt. Hiền quân thì giết người mưu phản thật còn bạo chúa thì giết vì nghi ngờ. Hiền quân giết người vì đại nghiệp, bạo chúa giết người để thị uy. Hiền quân sau khi giết rồi thì ổn định lòng dân, bạo chúa giết xong lại càng nghi kỵ, lại giết tiếp. Cùng một hành vi nhưng một bên là trị loạn, một bên là gieo loạn. Năm xưa Tần Thủy Hoàng tìm thuốc trường sinh, đốt sách chôn Nho, bắt dân xây cung A Phòng, xây Vạn Lý Trường Thành, ban luật pháp hà khắc lên thiên hạ, đều là việc làm của một bạo chúa cả. Ông ta giành cả đời để thống nhất Trung Nguyên, xây dựng nên Đế nghiệp nhưng cũng chính vì cái tâm sợ mất giang sơn mà thành ra nhà Tần sụp đổ vào tay nhà Hán, quả là đáng tiếc!

Vệ Vương vừa uống rượu, vừa nghe Tử Trọng nói những lời sâu xa, lòng rất tâm đắc.

Vệ Vương hỏi:

-Nhưng cớ sao Tần Thủy Hoàng lại thay đổi như vậy khi đã có mọi thứ trong tay?

Tử Trọng đáp:

-Nhiều bạo chúa không khởi đầu là bạo chúa, họ bắt đầu như một minh quân, sau ấy từ từ chuyển hóa. Khi có quyền lực lớn, bắt đầu lo mất quyền, rồi sinh nghi kỵ, rồi dùng bạo lực để kiểm soát, càng bạo lực lại càng cô độc mà càng cô độc thì lại càng sợ hãi hơn. Đến lúc ấy, họ không còn cai trị thiên hạ nữa, mà đang chống lại chính cái bóng của mình!

Hàn Toại hỏi Tử Trọng:

-Vậy một hiền quân làm thế nào mới được vẹn toàn?

Tử Trọng trả lời:

-Hiền quân không phải lúc nào cũng mềm mỏng, hiền quân thực sự biết khi nào nên tàn nhẫn, nhưng tuyệt đối không tàn nhẫn vì chuyện riêng tư. Hiền quân có thể trảm phản tặc không chớp mắt, nhưng lại có thể cúi mình nhận lỗi trước dân. Điều nguy hiểm nhất của một vị vua là luôn tin mình đúng, khiến ranh giới giữa hiền quân và bạo chúa ngày càng mờ nhạt!

Hàn Toại nghe danh Tử Trọng từ lâu, nhưng đến hôm nay nghe được những lời này thì sởn gai ốc, y cảm thấy mình rất nhỏ bé so với kiến thức thâm sâu của Thừa tướng.

Công tử Sóc sau hai ngày hai đêm chạy thục mạng đã đến địa giới của nước Vệ, vì đói khát và kiệt sức nên Sóc gục xuống từ lưng ngựa, ngất lịm lúc nào không hay.

Sóc mê man bất tỉnh, đến chiều tối hôm sau chợt tỉnh giấc, thấy mình đang nằm trong một ngôi nhà nhỏ chốn thôn dã, có một người nam nhân đang đứng nấu ăn bên bếp.

Sóc gượng người dậy, nói với người đó:

-Đây là đâu, ngươi là ai?

Người đó tay vừa xào nấu, vừa quay ra nói:

-Ngươi tỉnh rồi sao? Hôm qua ngươi ngất ở ngoài đường, ta đem ngươi về đây chăm sóc đó, không thì thú dữ tới ăn thịt ngươi rồi!

Sóc nhớ ra sự việc xảy ra hôm qua, cúi đầu tạ:

-Sóc này mang ơn ngươi, sau này nhất định sẽ báo đáp!

Người đó xua tay:

-Ơn huệ gì, ta đây hành hiệp trượng nghĩa, gặp cảnh hoạn nạn lẽ nào không giúp! Cơm sắp nấu xong rồi, ngươi ngồi dậy chuẩn bị ăn đi, phụ thân ta sắp về rồi!

Công tử Sóc bước ra khỏi giường, lại bên bếp giúp người đó sắp xếp bát đũa vào bàn.

Sóc hỏi:

-Không biết quý danh của vị huynh đệ đây là?

Người đó cười:

-Huynh đệ gì chứ, ta là nữ nhân! Tên ta là Tường San.

Sóc bất ngờ, hỏi:

-Ta tên Sóc, cô là nữ nhân sao? Sao cô nương ăn mặc giống nam nhi vậy?

Tường San đáp:

-Mẹ ta mất sớm, ta từ nhỏ đã theo cha bổ củi, luyện võ, tính tình vốn không khác gì nam nhân. Ta chỉ thích mặc đồ của nam nhi, vừa thoải mái, vừa dễ cử động!

Sóc bật cười, nói:

-Thì ra là vậy, cô nương quả là hiếm gặp!

Đúng lúc ấy, phụ thân của Tường San, tên Tường Côn trở về, trông thấy Sóc, nói:

-Ngươi tỉnh rồi sao? Hôm qua San nhi cứ sốt sắng lo cho ngươi đó!

Tường San quay ra chào:

-Cha đã về, con chuẩn bị xong cơm nước rồi đây!

Ba người ngồi lại bàn ăn dùng bữa.

Sóc bụng đói cồn cào, và bát cơm ngấu nghiến, y nói:

-Lâu rồi ta mới được ăn ngon thế này, cô nương quả rất có tài nấu nướng!

Tường San cười, đáp:

-Chắc do ngươi đói quá mà thôi, đây toàn là những món tầm thường, không có gì đặc biệt!

Tường Côn cười khà khà, uống chén rượu nhỏ rồi nói:

-Một miếng khi đói bằng một gói khi no!

Tường Côn hỏi Sóc:

-Ta trông ngươi tướng mạo thanh tú, ắt không phải thường dân mà lưu lạc chốn này!

Sóc đáp:

-Không giấu gì tiền bối, ta lưu lạc từ nước Yên tới đây!

Tường Côn hỏi tiếp:

-Vì cớ sự gì?

Sóc thuật lại toàn bộ xuất thân của mình, rồi đến biến cố xảy ra sau khi Yên Vương qua đời.

Tường Côn trợn trừng mắt bất ngờ, nói:

-Thì ra ngươi là công tử của nước Yên, mới đầu ta đã nghi hoặc rồi! Vậy ngươi chạy trốn tới nước Vệ rồi làm gì tiếp?

Sóc nói:

-Ta sẽ tìm cách yết kiến Vệ Vương, cầu sự trợ giúp!

Tường San chen vào:

-Oa, ngươi là kẻ rất có quyền thế phải không? Nhưng trông ngươi thư sinh, sức trói gà không chặt liệu có một mình tới được kinh thành không?

Tường Côn thấy Tường San sau khi nghe về xuất thân của Sóc, mắt sáng lên. Ông đột nhiên đứng dậy, kéo Tường San ra một góc rồi thủ thỉ, xì xào một lúc.

Sóc không hiểu chuyện gì, ngồi ăn tiếp. Sóc thấy Tường San đầu cứ gật lia lịa, trông có vẻ hào hứng lắm.

Bàn bạc một lúc xong, hai cha con trở lại bàn ăn, Tường Côn nói với Sóc:

-San nhi theo ta luyện võ nhiều năm, võ nghệ rất cao cường. Nó xưa nay chỉ thích làm việc của trượng phu, muốn tòng quân đi lính nhưng vì luật lệ không cho nữ nhân nhập ngũ nên nó rất buồn rầu. Ta thấy khí chất của ngươi không tầm thường, sau này ắt sẽ được đại sự. Hôm nay ngươi cùng bọn ta coi như cũng có chút ân tình, có thể giúp lão phu một việc được không?

Sóc hỏi:

-Bất cứ việc gì, xin tiền bối cứ nói!

Tường Côn nói:

-Ta khi xưa hành tẩu giang hồ, đã đi khắp năm châu bốn bể, nay ẩn cư nơi thôn dã, không có điều gì bận lòng. Chỉ tiếc rằng đứa con gái của ta, một mực muốn sống cuộc đời của trượng phu mà chưa có cơ hội, nếu giữ nó chốn này, sống cuộc sống tẻ nhạt cùng ta thì tội nghiệp cho nó lắm. Ngươi có thể cho nó đi theo phò tá, sau này dùng nó vào việc binh, là ta đã mãn nguyện lắm!

Sóc cảm động, nói:

-Chỉ là một người xa lạ mà tiền bối tin tưởng ta như vậy sao? Được, ơn nghĩa này ta nhất định không quên, sau này nếu có cơ may phục quốc, nhất định ta sẽ phong cô làm tướng quân!

Tường San nghe vậy mừng rỡ, cảm ơn Sóc ríu rít.

Hôm sau, vì việc cấp bách nên Sóc từ biệt Tường Côn để hướng về kinh thành nước Vệ từ sáng sớm. Tường San cũng thu xếp hành lý để đi theo phò tá công tử Sóc. Tường Côn dặn dò Tường San hồi lâu rồi giục cô đi cùng Sóc lên đường. Tường San khi ấy từ biệt cha mình, lòng quyến luyến mãi chẳng rời.

Sóc và Tường San lên ngựa khởi hành, Tường Côn lặng lẽ nhìn theo, từ xa, ông rơi giọt lệ hạnh phúc, mừng cho con gái mình rốt cuộc đã đi theo con đường mà nó luôn hằng mong ước!
 
Chương 71: Tường San liều mình cứu chúa, công tử Sóc yết kiến Vệ Vương

Tuong San.png


Trên đường đến nước Vệ, Tường San hỏi công tử Sóc rằng:

-Vậy là từ nay ta phải gọi huynh là chúa công phải không?

Công tử Sóc cười:

-Tiên vương đã qua đời, ngôi báu thì bị cướp mất, giờ đây ta như người tay trắng, khác gì phàm nhân. Hơn nữa, cô nương còn là ân công của ta, chớ nên câu nệ cách xưng hô.

Tường San hỏi tiếp:

-Vậy huynh nhiều tuổi hơn, ta xưng muội, gọi là huynh có được chăng?

Sóc gật đầu:

-Được, San muội!

Sóc nhìn Tường San, mặt như đang suy tư điều gì.

Tường San hỏi:

-Sao huynh cứ nhìn ta chằm chằm vậy?

Sóc nói:

-Ta nhìn muội gương mặt thanh tú, cớ sao không tìm gả vào một nhà có địa vị giàu có, sống cuộc sống nhàn hạ, đẻ vài đứa con rồi chăm lo cho phụ thân được hưởng tuổi già.

Tường San bật cười:

-Muội ấy hả? Muội đã nói với huynh rồi, tính tình muội không khác gì nam nhân, chưa bao giờ nghĩ đến chuyện lập gia thất!

Sóc hỏi:

-Dù cho là vậy, nhưng sao lại chọn con đường nhập ngũ, sống nay chết mai, muội không nghĩ đến sao?

Tường San đáp:

-Hừ, huynh hỏi vậy vì muội là nữ nhân phải không? Nữ nhân thì sao chứ? Thiên hạ xưa nay đều chê bai nữ nhân, nói họ chỉ nên an phận lo chuyện khuê phòng, bếp núc, thêu thùa may vá, không được bàn chuyện đại sự. Đối với muội, đó là sự bất công, trọng nam khinh nữ, muội quyết không vì giới tính của mình mà chùn bước!

Sóc lắc thở dài:

-Muội đúng là cứng đầu! Ta kể cho muội một chuyện, năm xưa còn nhỏ, ta lén xem phụ vương trên chầu bàn việc với các đại thần, bỗng có một giọng nói của nữ nhân bên ngoài trướng rằng, "Quân địch đóng binh nơi hiểm yếu, nếu ta tiến thẳng e rơi vào mai phục. Chi bằng giả lui một bước, dụ địch rời thành, khi ấy đánh úp mới là thượng sách"

Tường San tò mò:

-Người đó ắt có học thức, sau đó thế nào?

Sóc đáp:

"Thì ra đó là tiểu thư của Lễ bộ Thượng thư, rất đam mê đọc binh pháp.

Có một vị đại thần cau mày, nói:

-Ai dám xen vào quốc sự?

Thế rồi phụ vương ta cho truyền vào, trông thấy người đó, quát:

-Chuyện đại sự của quốc gia, há lại để một nữ nhân bàn luận?

Tiểu thư ấy bình tĩnh, nói:

-Nhưng nếu lời thần có thể cứu binh sĩ khỏi chết uổng, há chẳng đáng nghe qua hay sao?

Phụ thân của vị tiểu thư ấy giận lắm, quát con rằng:

-Câm miệng! Nữ nhi mà luận binh pháp, chẳng khác nào đảo lộn cương thường. Nếu ai cũng như ngươi thì thiên hạ còn đâu tôn ti trật tự!

Sau đó quay sang tâu với phụ vương:

-Đứa con của thần ngu muội, là lỗi của thần không dạy bảo được, xin chúa công tha tội!

Tiểu thư ấy giọng chậm lại, nhưng vẫn kiên định:

-Thì ra đúng sai không quan trọng, chỉ vì thần là nữ nhi, nên lời nói cũng vô giá trị...

Phụ vương nói:

-Không phải vô giá trị, mà không nên tồn tại! Người đâu, lôi ả ta ra ngoài, nếu lần sau còn xen vào bàn việc chớ trách ta vô tình!


Vị tiểu thư đó tức tưởi bỏ ra ngoài, vừa đi vừa khóc, lòng đầy bất lực"

Tường San hỏi tiếp:

-Vậy sau ấy vị quan Thượng thư kia có trách phạt tiểu thư không?

Sóc lắc đầu ngao ngán:

-Ông ta cấm túc tiểu thư cả tháng trời, về sau thì ép gả vào một nhà quan lớn trong triều. Dù được sống sung túc, không thiếu thứ gì nhưng tiểu thư ấy chẳng vui vẻ lấy một ngày. Gia đình phu quân của tiểu thư đó rất ghét những nữ nhân bày tỏ quan điểm riêng, cho rằng đó là hỗn láo. Cuối cùng, tiểu thư ấy vì quá buồn bã, thắt cổ tự vẫn, để lại lá thư tuyệt mệnh rằng:

"
Đèn tàn gió lạnh, bóng khuê phòng,
Mực chưa khô lệ, đã hai dòng.
Một thân hiểu hết, điều thiên hạ,
Nửa chữ “nữ nhi”, đoạn chí lòng.

Sách thánh từng đêm, nghiền nát mộng,
Binh thư lặng lẽ, giấu trong rương.
Có tài mà chẳng, nơi thi thố,
Chỉ để xuân xanh, úa giữa tường.

Người đời trọng nghĩa, nam nhi chí,
Cười kẻ hồng nhan, luận thế cờ.
Đúng sai đâu bởi, lời hay dở,
Chỉ bởi thân này, chẳng phải “họ”.

Nay viết vài hàng, thay biệt ngữ,
Gửi theo gió cuốn, đến hư không.
Nếu có kiếp sau, xin đổi mệnh,
Không làm nữ tử, giữa nhân gian."

-Năm ấy ta rất thương cảm cho người nữ nhân ấy, nghĩ đến mẫu thân ta cũng thấy buồn lòng...

Tường San nghe câu chuyện của công tử Sóc, nghĩ đến bản thân mình, lòng đầy bức xúc:

-Quá đáng lắm! Có biết bao nữ nhân phải sống một cuộc đời họ không muốn?

Sóc nói:

-Triều đình vốn không phải nơi công bằng!

Tường San nói:

-Không, là thế gian này không công bằng! Nam nhi có thể sai, vẫn được sửa, nữ nhi dù đúng cũng không được nói!

Sóc khẽ thở dài:

-Huynh từng nghĩ... đó là lễ giáo để giữ yên thiên hạ.

Tường San nói:

-Giữ yên... hay giữ cho một nửa thiên hạ phải im lặng?

Sóc hỏi:

-Muội oán lắm sao? Nếu có kiếp sau, muội có muốn làm nam nhi không?


Tường San quả quyết:

-Muội không cần làm nam nhi, chỉ cần được coi là một con người, khi bàn về đại sự!

Sóc nghe những lời nói đanh thép của Tường San, trong lòng tỏ ý nể phục, gật đầu tâm đắc.

Sóc vỗ về:

-Nói hay lắm, nếu có ngày ta được phục quốc, nhất định sẽ trọng dụng cái tài của muội!

Tường San trong lòng cảm động, thề rằng sẽ phò tá công tử Sóc đến hơi thở cuối cùng.

Giữa trưa, nắng đổ xuống đường như thiêu như đốt, hai bên cỏ dại rạp mình trong gió nóng, không một bóng người qua lại.

Bỗng công tử Sóc ghìm cương, ánh mắt chợt trầm xuống:

-Có người mai phục!

Lời vừa dứt, hai mươi tên cướp từ bụi rậm hai bên ập ra, vây kín đường. Áo vải thô, mặt mũi dữ tợn, đao kiếm lấp loáng dưới ánh mặt trời chói gắt.

Tên đầu lĩnh khạc một bãi nước bọt, cười gằn:

-Giữa trưa nắng thế này mà có hai con mồi béo bở, đúng là trời cho!

Sóc hoảng hốt, nói với Tường San:

-Không xong rồi, chúng ta phải làm thế nào?

Tường San mặt không hề biến sắc, nói:

-Huynh chạy trước đi, bỏ hết đồ đạc, ta sẽ đuổi theo sau!

Sóc chần chừ:

-Không được, muội là nữ nhi, sao ta có thể bỏ muội lại đây?

Tường San cả giận, nói:

-Huynh lại nói hai chữ nữ nhi, câu chuyện chúng ta nói ban nãy là vô ích hay sao?

Sóc nghe thế bừng tỉnh, nói:

-Muội nói phải lắm, ta tin muội sẽ như Triệu Tử Long sống lại, chém sạch quân thù!

Tường San cười mãn nguyện, nói:

-Chúa công chớ lo, thần nguyện lấy thân mình cứu chúa!

Sóc vội vàng chạy ngựa lên phía trước, bỏ lại Tường San ở lại với hai mươi tên cướp.

Đám cướp thấy đồ đạc rơi ra, không truy bắt công tử Sóc nữa, quay về chỗ Tường San.

Tường San lẩm bẩm:

-Các ngươi luôn miệng một tiếng "nữ nhi", hai tiếng "nữ nhi", tưởng rằng "nữ nhi" không thể trảm hai mươi tên súc sinh này sao?

Tường San xõa tóc mình ra, không giả làm nam nhân nữa, nàng quyết tâm chứng minh rằng nữ nhân có thể làm những chuyện phi thường.

Tên đầu lĩnh quay ra, tiến gần về phía Tường San, mặt rất biến thái, nói:

-Thì ra là một nữ nhân! Gương mặt cũng thanh tú đó! Tên hèn hạ kia đã bỏ của chạy lấy người rồi, một nữ nhi như cô nương đây nếu ngoan ngoãn theo hầu bọn ta, bọn ta sẽ tha mạng!

Đám cướp còn lại mặt tên nào cũng nham hiểm, lòng nổi dục vọng, cười khoái chí.

Tường San nghe tên cướp chửi chúa công là hèn hạ, lòng sục sôi, nghiến răng quát:

-Hôm nay ta không chém hai mươi tên súc sinh này thì kiếp này không đáng sống!

Tường San bất động như núi, ánh mắt lạnh lẽo như băng, mặt đầy sát khí. Bỗng chốc, thanh kiếm trong tay nàng như rồng bay phượng múa, nhanh như chớp giật, vút qua. Tên cướp đầu tiên đầu lìa khỏi cổ, đám còn lại bàng hoàng, không hiểu chuyện gì xảy ra.

Tường San mỉm cười, nghĩ trong đầu:

"Phụ thân, bao nhiêu võ nghệ người dạy cho con, đến nay đã được dùng vào việc lớn!"

Đám cướp trấn tĩnh lại, mặt hằm hằm, lao về phía Tường San chém không ngớt. Tường San lách mình tránh né, thanh kiếm trong tay nhẹ như tơ hồng, chém rạp tên đó trong nháy mắt. Tên đầu lĩnh thấy huynh đệ mình chết mất mới người, căm phẫn:

-Con tiện nhân dám giết huynh đệ của ta! Xông lên bắt sống ả cho ta, ta không để con tiện nhân này chết dễ được!

Tường San dường như không đổ một giọt mồ hôi, người vẫn thanh thoát như lúc đầu. Thân pháp nàng nhanh nhẹn, lực kiếm tuy không mạnh như búa bổ, nhưng lại chính xác vô cùng. Tường San được cha dạy cho "Hàn Nguyệt Kiếm Pháp", tập nhuần nhuyễn từ năm lên bảy. Trong bộ tuyệt kỹ này, có một chiêu thức để lấy một địch trăm, ấy chính là "Loạn Ảnh Trảm".

Từng tên cướp cứ lao vào, Tường San lại dùng thân pháp tránh né, chém một nhát vào những điểm chí mạng, chết ngay tức khắc.

Sau nửa canh giờ, Tường San chém chết sạch lũ cướp, máu chảy thành sông, thây chất như núi. Tường San lúc bấy giờ mới thở hồng hộc, nàng ngồi lên đống xác, nghỉ một lúc rồi lên ngựa đuổi theo công tử Sóc.

Công tử Sóc cố tình đi chậm để chờ Tường San, tuy y nói quả quyết vậy nhưng lòng vẫn lo cho an nguy của nàng. Sóc lo lắng:

-Sao gần một canh giờ rồi mà muội ấy vẫn chưa đuổi tới?

Đang lo lắng cho Tường San, chợt có tiếng gọi lớn:

-Chúa công! Chúa công!

Sóc quay ra thấy Tường San, mừng rỡ thúc ngựa lại.

Tường San cưỡi ngựa đi lên rồi cùng công tử Sóc tiếp tục lên đường.

Sóc nhìn khắp người Tường San là máu, hỏi:

-Muội trọng thương phải không, sao chảy be bét máu thế kia?

Tường San cười, nói:

-Đó là máu của lũ cướp, không phải muội! Bây giờ huynh còn nghi ngờ muội nữa không?

Sóc gật đầu:

-Muội anh dũng không kém gì các võ tướng nước Yên, ta thề không bao giờ khinh thường nữ nhân!

Hai người cười nói vui vẻ, trò chuyện đủ thứ, thoáng chốc đã đến kinh thành nước Vệ.

Đi đến cửa quan, đám lính chặn hai người lại, tra hỏi:

-Hai ngươi là ai, tới nước Vệ có chuyện gì?

Trên lưng ngựa, Sóc nói:

-Ta là Sóc, công tử của nước Yên, ngươi mau vào bẩm báo, cho ta vào thành tâu Vệ Vương gấp!

Tên lính hỏi:

-Ngươi lấy gì làm bằng chứng ngươi là công tử nước Yên?

Sóc lấy ra một miếng ngọc bội có viết chữ "công tử Sóc, nước Yên" trong người đưa cho tên lính, nói:

-Cứ đem vật này tâu, tất có người hiểu!

Tên lính đáp:

-Được, ngươi chờ ở đây!

Tường San hỏi Sóc:

-Chiếc ngọc bội đó giúp huynh chứng minh được thân phận sao?

Công tử Sóc, nói:

-Phải, đó là vật chỉ những người trong vương thất mới có, làm bằng đá rất quý hiếm!

Khoảng nửa canh giờ sau, tên lính chạy ra, vội cúi đầu trước Sóc, nói:

-Tiểu nhân có mắt như mù, xin công tử tha tội!

Sóc đáp:

-Không biết không có tội, mau đưa ta vào cung gặp Vệ Vương!

Tên lính bẩm:

-Dương Minh đại nhân đang chuẩn bị tới đây ạ!

Dương Minh một lúc sau cưỡi ngựa tới, nói:

-Hạ quan Dương Minh, bái kiến công tử!

Sóc vốn nể trọng nước Vệ từ lâu, nghe ngóng nhiều tin tức từ nước Vệ, nên nhắc đến Dương Minh là Sóc biết ngay.

Sóc nói:

-Thì ra là Dương Minh, ta ngưỡng mộ ngài đã lâu!

Dương Minh cười:

-Không dám, không dám! Hạ quan sẽ dẫn đường cho công tử tới cung Thiên Huy ngay!

Đúng lúc ấy, Tử Trọng gặp Vệ Vương để bàn về chính biến của nước Yên, Tử Trọng nói:

-Nước Yên bị công tử Bạch tiếm ngôi, giao hảo với nước Đinh, cự nước Vệ. Nay Yên Vương đã mất, đáng ra ngôi vị đó thuộc về công tử Sóc mới phải.

Vệ Vương hỏi:

-Công tử Sóc ấy thế nào?

Tử Trọng đáp:

-Công tử Sóc hiền đức, tính tình cương trực, ngay thẳng, rất tôn trọng nước Vệ!

Vệ Vương nói:

-Có chuyện như vậy sao? Y có vẻ là người hiểu lý lẽ! Có điều y còn sống không?

Tử Trọng đáp:

-Thần nghe báo về, công tử Sóc đi săn bị mai phục, giết chết rồi!

Vệ Vương lắc đầu:

-Nếu được giao hảo với một quân vương hiền đức như vậy thì lo gì không đánh được nước Đinh! Xưa nay Yên Vương bảo thủ, một lòng trợ giúp Đinh Vương nên ta chưa đem quân sang đánh được. Nay nước Yên lại về tay công tử Bạch mà không phải công tử Sóc, thật đáng tiếc!

Bỗng có tên lính chạy vào bẩm báo:

-Bẩm chúa công, Dương Minh đại nhân và công tử Sóc muốn vào yết kiến ạ!

Vệ Vương và Tử Trọng sững sờ ngạc nhiên, Vệ Vương nói:

-Mau truyền công tử vào!
 
Sửa lần cuối:
Chương 72: Vệ Vương tới nước Tấn, bàn đại sự cùng Tấn Vương

Hao Thien, Chu Duc.png


*12 năm trước

Công tử Sóc vừa tròn mười tám, độ tuổi mà bao kẻ quyền quý còn mải mê tửu sắc, say đắm ca kỹ và những thú vui phù phiếm, Sóc lại lặng lẽ thu mình nơi thư phòng sâu kín. Ánh đèn dầu của Sóc thường cháy đến tận canh ba, khi ngoài kia yến tiệc vừa tan, tiếng cười nói vẫn còn vương nơi hành lang phủ đệ.

Trên án thư của công tử Sóc không phải là những bức họa mỹ nhân hay thi từ phong nguyệt, mà chất đầy binh thư, quốc sách, và chiến báo từ các phương. Mỗi khi có tin tức đưa về từ biên cương, Sóc đều tự tay mở đọc, không bỏ sót một dòng. Sóc nghiền ngẫm từng trận đánh, phân tích thế trận, suy xét lòng người, so đo lợi hại, như thể bản thân đã đứng giữa sa trường mà điều binh khiển tướng. Không chỉ học cách thắng trận, Sóc còn chăm chú đọc sách trị quốc, hiểu phép dùng người, biết thế nào là an dân, thế nào là giữ nước.

Ở tuổi mà kẻ khác còn sống trong mộng tưởng hưởng lạc, Sóc đã sớm nhìn thấu sự phù phiếm của vinh hoa nhất thời. Sóc hiểu rằng tửu sắc có thể mê hoặc lòng người, nhưng không thể dựng nên cơ nghiệp, thú vui có thể làm quên đi lo toan, nhưng không thể cứu một quốc gia trước cơn binh lửa. Ánh mắt của công tử, vì thế mà sớm mang theo vẻ trầm tĩnh khác thường, không còn là thiếu niên bồng bột, mà đã phảng phất phong thái của một người gánh vác đại sự.

Kẻ hầu trong phủ thường truyền tai nhau rằng: “Công tử không giống người mười tám tuổi, mà giống như đã sống qua mấy phen loạn thế.”

Một hôm, công tử Sóc đang ngồi nghỉ uống trà, chợt có tên lính chạy lại báo:

-Bẩm công tử, chiến báo từ Bình Nguyên đã tới, mời công tử xem ạ!

Công tử Sóc giọng đầy hào hứng:

-Tới rồi sao? Mau đưa cho ta!

Sóc vội mở chiến báo ra chăm chú đọc, miệng lẩm bẩm:

-Hạo Thiên thống lĩnh binh mã Ái Châu đánh lui Trần Tiềm, Chu Đức... Thật kinh ngạc!

-Chu Đức bị bắt sống nhưng lại được thả về Diễn Châu? Hạo Thiên không giết hắn ta sao?

-Phải tìm Thái Phó mới được!

Công tử Sóc vội cầm xấp chiến báo đi tới phủ Nhất Phong để cùng đàm đạo.

Thấy công tử Sóc tới, Nhất Phong ra đón:

-Công tử tới tìm lão phu để cùng đàm đạo việc gì chăng?

Sóc đáp:

-Phải, học trò muốn đàm đạo về chiến sự Bình Nguyên với Thái Phó!

Nhất Phong hỏi:

-Chiến sự giữa Ái Châu và Diễn Châu kết thúc rồi sao?

Công tử Sóc đưa chiến báo cho Nhất Phong đọc.

Nhất Phong nói:

-Cái tên Hạo Thiên ấy là kẻ không hề tầm thường, đánh lui hơn vạn quân Chu Đức, Trần Tiềm, quả là kinh thiên động địa!

Công tử Sóc nói:

-Xưa nay học trò chưa từng nghe Chu Đức bại trận! Nay Hạo Thiên đại thắng Bình Nguyên, lại còn tha chết cho Chu Đức, quả là một vị đại hào kiệt!

Nhất Phong vuốt râu, nói:

-Một vị tướng mới như Hạo Thiên mà đã thu nạp dưới trướng đều là hiền tài, vị quân sư Tử Trọng ấy tất là kẻ thần cơ diệu toán. Công tử nhìn xem, ông ta dùng kế phản gián rất hay, đánh lừa được cả Chu Đức!

Sóc gật đầu:

-Tiềm lực của người này sẽ rất lớn!

Nhất Phong nói:

-Hạo Thiên nghe rất quen, họ Hạo đó dường như là ... Phải rồi, kẻ đó chính là con trai của Hạo Vũ tướng quân!

Sóc ngạc nhiên:

-Phải rồi, một kẻ như vậy là con của Hạo Vũ thì cũng không có gì ngạc nhiên, hổ phụ sinh hổ tử!

Nhất Phong kể:

-Cả gia tộc ba đời nhà họ Hạo từng bị Bá Hầu giết sạch vì tội mưu phản, duy chỉ có Hạo Thiên và Tử Trọng chạy thoát được. Tới nay Lê Hầu lại giang tay trợ giúp, phong y làm tướng quân, đúng là cá gặp nước!

Sóc suy luận:

-Nếu sau này Hạo Thiên gây dựng được thế lực lớn mạnh, Bá Hầu tất sẽ đứng ngồi không yên!

Nhất Phong gật đầu, nói:

-Phải, mối thâm thù huyết hải như vậy, Hạo Thiên không thể không báo!

Đàm đạo với Nhất Phong hồi lâu, công tử Sóc về phủ tiếp tục ngâm cứu cuốn Luận Ngữ mà y tất tâm đắc.

Công từ Sóc tay vừa cầm cuốn sách, đi đi lại lại đọc thành tiếng:

-Lấy đức mà trị nước, như sao Bắc Đẩu đứng yên, muôn sao tự hướng về.

-Quân tử hòa hợp nhưng có chính kiến, tiểu nhân hùa theo nhưng lòng không thật.

-Bản thân ngay thẳng, không cần ra lệnh dân cũng theo, bản thân sai, ra lệnh cũng vô dụng.

-Học mà không nghĩ thì mù mờ, nghĩ mà không học thì nguy hiểm.

Đang đọc sách say sưa, chợt công tử Bạch chạy tới, hỏi:

-Sóc huynh, cùng đệ đi uống rượu không, trong cung mới tuyển thêm nhiều mỹ nhân lắm!

Công tử Sóc đáp:

-Đệ đi đi, ta đang đọc sách, không có nhã hứng!

Công tử Bạch vỗ vào vai Sóc, nói:

-Huynh suốt ngày chỉ biết đọc sách, đọc lúc nào mà chẳng được. Mau đi cùng đệ giải khuây chẳng phải vui hơn sao?

Sóc lắc đầu:

-Đệ đừng lôi kéo ta nữa, ta không muốn đi đâu!

Bạch bĩu môi:

-Huynh đúng là kẻ mọt sách, chẳng rủ huynh nữa!

Công tử Sóc là vậy, đối với y, niềm đam mê với tri thức cao hơn bất kể những thứ gì khác. Chính vì sự ham mê đọc sách này, công tử Sóc rất am tường về việc quốc gia đại sự và thấu hiểu nhân sinh, y luôn ao ước được trở thành một vị hiền quân.

Công tử Sóc nhiều lần muốn bàn chuyện chính sự với cha nhưng đều bị gạt đi vì bị cho rằng chưa đủ chín chắn để bàn việc lớn. Sóc buồn lắm, chỉ biết nhờ Thái Phó giúp mình nêu những ý tưởng mới cho cha, và dặn rằng những ý tưởng đó không phải của Sóc.

Nhất Phong hiểu tâm tư của công tử Sóc, bèn nghĩ ra cách khiến Quảng Hầu phải trọng dụng công tử. Mỗi khi Quảng Hầu giao Nhất Phong việc gì, Nhất Phong lại bảo công tử Sóc nêu ý kiến để tâu cho chúa công. Công tử Sóc nhiệt tình giúp Nhất Phong chuẩn bị trước cho mọi câu hỏi.

Cứ sau mỗi lần tâu việc với Quảng Hầu, Nhất Phong lại hỏi:

-Chúa công thấy ý này thế nào, có hữu dụng không?

Quảng Hầu đều khen là ý hay.

Một hôm, Nhất Phong thưa với Quảng Hầu:

-Bẩm chúa công, đại công tử là người thông minh sáng dạ, am hiểu chính sự sâu sắc, cớ sao chúa công không trọng dụng công tử mà cho vào bàn việc?

Quảng Hầu cười:

-Nó hẵng còn trẻ tuổi, biết gì mà bàn đại sự?

Nhất Phong nói:

-Nhưng nếu công tử có thể nói lời hay, giúp ích nhiều cho chúa công thì người có nghe không?

Quảng Hầu nói:

-Đương nhiên ta nghe!

Nhất Phong lúc này nói thật:

-Không giấu gì chúa công, mấy lần thần tâu sách lược cho người, đều là ý của công tử Sóc cả!

Quảng Hầu ngạc nhiên:

-Ngươi nói thật chứ? Nó giỏi như vậy sao?

Nhất Phong đáp:

-Phải, công tử có những suy nghĩ rất sáng tạo, tuy chưa suy tính được tường tận nhưng nếu được rèn giũa , thực hành sớm, ngày sau ắt vang danh thiên hạ, tiền đồ không thể đong đếm được!

Quảng Hầu gật đầu, nói:

-Ngươi nói có lý, từ nay ta sẽ cho nó vào cùng bàn việc với các đại thần!

Kể từ đó, công tử Sóc được theo cùng vào chầu, lần nào y cũng háo hức được bàn luận việc quốc gia đại sự với những người giỏi nhất nước. Càng ngày, tư duy chính sự và trị quốc của Sóc ngày càng sắc bén, trở thành cánh tay đắc lực cho cha.

* 3 năm trước

Công tử Sóc năm ấy hai mươi bảy tuổi, đã có một chỗ đứng trong hàng ngũ đại thần của Hoan Châu. Sau sự kiện Hạo Thiên lên ngôi vị Quân Hầu, công tử Sóc nhiều lần khuyên Quảng Hầu nên giao hảo với Ái Châu nhưng Quảng Hầu chần chừ, chưa quyết. Quảng Hầu xưa nay luôn ủng hộ Bá Hầu chống Ái Châu, nay Hạo Thiên kế vị, lại chính là kẻ địch, là cái gai trong mắt Bá Hầu nên Quảng Hầu càng khó nghe theo lời công tử Sóc.

Việc công tử Sóc luôn tỏ ra ủng hộ Ái Châu đến tai Bá Hầu, Bá Hầu lập tức sang thăm Hoan Châu, rồi nói với Quảng Hầu rằng:

-Ta với hiền hầu vốn là thâm giao, tình nghĩa không phải một sớm một chiều, đừng vì lời của mấy tên tiểu tử mà làm hỏng mất!

Quảng Hầu hỏi:

-Ý ngài là sao?

Bá Hầu đáp:

-Nghe nói đại công tử của Hoan Châu luôn miệng nói tốt cho Ái Châu, thúc giục ngài giao hảo với chúng, ta lấy làm lo lắm!

Quảng Hầu nói:

-Phải, đúng là có chuyện đó!

Bá Hầu gằn giọng:

-Tên Hạo Thiên ấy chính là dòng máu còn sót lại của tên phản tặc Hạo Vũ, có thâm thù sâu đậm với ta. Hiền hầu giao hảo với Ái Châu, tức là gián tiếp chống lại ta. Nay ta muốn hỏi hiền hầu cho rõ, có tiếp tục liên minh cùng Phúc Lộc Châu hay không?

Quảng Hầu đáp:

-Đương nhiên là có!

Bá Hầu nghiêm túc:

-Vậy thì đừng giao hảo với Ái Châu!

Quảng Hầu cười trừ:

-Ngài nói vậy thì ta đâu muốn làm trái ý, chuyện ấy ta đã hiểu, thôi không bàn đại sự nữa, ta cùng ngài dự yến tiệc!

Kể từ ấy, Quảng Hầu kiên quyết không nghe công tử Sóc giao hảo với Ái Châu, quyết tỏ thái độ thù địch. Công tử Sóc tức lắm mà không làm được gì, lắc đầu ngao ngán, tiếc rằng:

-Cha quá bảo thủ, Ái Châu tiềm lực lớn như vậy, được cai quản bởi một minh quân, cớ sao lại không giao hảo, điều đó chỉ có lợi, không có hại, thật là đáng tiếc!

*Hiện tại

Công tử Sóc sắp được gặp Vệ Vương, lòng đầy háo hức, rốt cuộc y cũng được gặp người mà y ngưỡng mộ từ lâu, và cũng chỉ có Vệ Vương mới có thể giúp y lấy lại giang sơn nước Yên.

Tường San thấy công tử Sóc đi đi lại lại, hỏi:

-Có chuyện gì mà huynh cứ sốt sắng như vậy?

Sóc đáp:

-Sắp vào yết kiến Vệ Vương, ta có chút hồi hộp!

Tường San hỏi tiếp:

-Huynh sợ ngài ấy sao?

Sóc cười:

-Ngược lại là đằng khác, ta vốn rất nể trọng Vệ Vương!

Tường San hỏi tiếp:

-Ngài ấy là một vị vua tốt, nhưng liệu ngài ấy có giúp huynh chăng?

Sóc đáp:

-Linh cảm của ta rất tốt, chắc chắn ngài ấy sẽ giúp!

Tường San nói:

-Vậy huynh vào yết kiến Vệ Vương đi, muội ở đây chờ.

Sóc nói:

-Muội đi cùng ta vào gặp, muội là tướng quân của ta kia mà!

Tường San cười:

-Huynh đúng là giỏi ăn nói! Được, muội cũng muốn xem xem, Vệ Vương rốt cuộc là người thế nào!

Tên lính vào báo, cho truyền công tử Sóc vào sảnh điện bàn chuyện cùng Vệ Vương.

Công tử Sóc bước vào, chắp tay hành lễ:

-Tại hạ, Sóc, bái kiến Vệ Vương, Thừa tướng!

Vệ Vương nói:

-Nghe tin báo về rằng công tử đã bị giết, nào ngờ được gặp hôm nay, quả là điềm tốt, ta rất mừng!

Công tử Sóc nói:

-May nhờ tiên vương dẫn đường chỉ lối, mới lách qua khe cửa hẹp, thoát chết trong gang tấc rời khỏi nước Yên, chạy đến đây cầu cứu Vệ Vương.

Vệ Vương quay sang nhìn Tường San, hỏi:

-Người này là?

Sóc đáp:

-Đây là Tường San, tướng quân của tại hạ!

Vệ Vương ngạc nhiên:

-Tường San? Là nữ nhân sao? Nữ nhân là một tướng quân, quả là hiếm gặp!

Tường San thưa:

-Tường San là thôn nữ ở vùng quê nước Vệ, từ lâu đã biết Vệ Vương là một minh quân, nhờ thế bách tính trong nước có một cuộc sống bình yên, no đủ. Nay được thấy Vệ Vương bằng xương bằng thịt quả là một diễm phúc lớn cho Tường San!

Vệ Vương nói:

-Bách tính trong nước như ngươi nói vậy ta cũng mừng lắm!

Sóc nói:

-Tường San hôm trước một mình địch hai mươi tên cướp ở vùng ngoại ô, cứu mạng tại hạ, quả là anh dũng không thua gì tướng lĩnh trên sa trường!

Vệ Vương bật cười, nói:

-Xưa nay ta chưa từng gặp nữ nhân là tướng, nay tận mắt chứng kiến, ta rất ấn tượng! Đối với ta, bất kể nam nhân hay nữ nhân, cứ có tài thì nên trọng dụng, chớ để lỡ người hiền!

Sóc nói:

-Vệ Vương dạy rất phải!

Vệ Vương hỏi:

-Đầu đuôi câu chuyện thế nào, công tử thuật lại ta nghe!

Công tử Sóc thuật lại từ lúc Yên Vương qua đời, rồi bị đám công tử Bạch và Nhan Lương bày kế hãm hại, may được Nhất Phong bày mưu cho Sóc trốn thoát êm đẹp khỏi nước Yên.

Vệ Vương nhíu mày, nói:

-Công tử Bạch tâm địa hiểm độc, sẵn sàng ám hại cả huynh trưởng để tiếm ngôi, kẻ này làm vua một nước quả là nghịch lý, chỉ khổ bách tính mà thôi!

Sóc khẩn khoản:

-Tại hạ đến đây, biết rằng mình không có gì trong tay, nhưng vì tình yêu quá lớn với quê hương, Sóc cả gan xin sự trợ giúp của Vệ Vương, đòi lại công đạo cho nước Yên! Nếu đại sự thành, tại hạ hứa sẽ cắt ba thành, dâng tặng Vệ Vương làm quà giao hảo!

Vệ Vương giơ tay lên, nói:

-Này tiểu tử, chớ nên dùng lời lẽ như vậy mà cầu trợ giúp!

Sóc hỏi:

-Không biết Sóc đã đắc tội gì, xin Vệ Vương chỉ bảo!

Vệ Vương nói:

-Ta trong lòng sẵn đã muốn giúp công tử, có điều ta giúp không phải vì đất đai, lãnh thổ. Ta giúp công tử vì công tử là người hiền đức, danh chính ngôn thuận kế thừa ngôi báu của Yên Vương. Ta giúp công tử cũng là giúp bách tính nước Yên, tránh khỏi một thời kỳ đen tối trong tay một kẻ súc sinh như công tử Bạch.

Công tử Sóc nghe vậy mừng rỡ, nói:

-Ân huệ này của Vệ Vương Sóc suốt đời không quên!

Tử Trọng nói:

-Trước hết, chúng ta phải làm ngay một việc!

Vệ Vương hỏi:

-Thừa tướng nói đến việc gì?

Tử Trọng đáp:

-Phải cứu Nhất Phong về nước Vệ, sau này tin tức công tử còn sống sẽ đến tai chúng, nhất định sẽ tra ra kẻ tay trong trợ giúp. Nhất Phong lo liệu cho công tử Sóc chu toàn như vậy, ắt là kẻ mưu trí uyên thâm, sau này tất là cánh tay phải trợ giúp đắc lực cho công tử.

Sóc nói:

-Thừa tướng nói rất phải, Nhất Phong là kẻ rất trung thành, có Nhất Phong như có mười mưu sĩ xung quanh vậy!

Vệ Vương nói:

-Được, ta sẽ sai Đới Thắng dẫn theo một trăm binh mã đi cứu Nhất Phong về đây!

Sóc nói:

-Đa tạ Vệ Vương!

Vệ Vương nói:

-Hai vị trải qua nhiều chuyện, chắc là rất mệt! Ta đã cho người chuẩn bị chỗ ở khách điện cho hai vị nghỉ ngơi, cứ tự nhiên như ở nhà! Tĩnh dưỡng vài hôm, dạo quanh nước Vệ cho thư thái đầu óc, ta sẽ đi nước Tấn một tuần lễ rồi trở lại!

Sóc hỏi:

-Thứ lỗi cho tại hạ tò mò, Vệ Vương tới nước Tấn có việc chi?

Vệ Vương đáp:

-Ta và Tấn Vương vốn là huynh đệ kết nghĩa, đã lâu không sang thăm nước Tấn. Nay nhân dịp chính biến xảy ra ở nước Yên, ta cũng có chuyện đại sự cần bàn với Tấn Vương.

Sóc nói:

-Vệ Vương tính rất phải!

Hai ngày sau, Vệ Vương cùng Tử Trọng tới nước Tấn. Sứ đoàn lần này mang theo mười tám rương lễ vật, gồm hai khối ngọc bích thượng phẩm, một bộ trâm ngọc chế tác tinh xảo, năm trăm lượng vàng ròng, một ngàn lượng bạc trắng, mười hai cuộn gấm thêu long vân, hai mươi cuộn lụa tằm thượng hạng, mười cân trầm hương, ba khối đá kỳ nam quý hiếm, một thanh bảo kiếm, hai bộ giáp trụ tinh xảo, tám con chiến mã thuần chủng, một bộ binh thư cổ chép tay, một bản địa đồ sơn hà, một đỉnh đồng nhỏ chạm văn cổ, một bộ chuông ngọc.

Tấn Vương biết Vệ Vương sang thăm, chỉ đạo triều thần chuẩn bị tiếp đón trọng thị.

Tại cung An Trường, quan lại hai nước tay bắt mặt mừng, tiếp đãi rất trang trọng.

Tấn Vương nói:

-Vệ Vương tới thăm nước Tấn đã là niềm vinh hạnh, hà tất phải đem theo nhiều lễ vật?

Vệ Vương cười:

-Tấn Vương chớ nên khách sáo, nước Vệ và nước Tấn xưa nay như thể tay chân, chút lễ vật này đâu có xá gì!

Hai vị vương hàn huyên những chuyện xưa cũ hồi lâu.

Tấn Vương hỏi:

-Lần này Vệ Vương tới thăm, liệu có còn chuyện đại sự gì cần bàn chăng?

Vệ Vương nói:

-Chắc Tấn Vương đã biết đến biến cố ở nước Yên, Yên Vương qua đời, công tử Bạch tiếm ngôi, bức hại công tử Sóc.

Tấn Vương hỏi:

-Chẳng phải công tử Sóc đã chết sao?

Vệ Vương đáp:

-Công tử Sóc chưa chết, đang lưu lại nước Vệ!

Tấn Vương mừng, hỏi:

-Nếu vậy thì quá tốt, Vệ Vương định tính thế nào?

Vệ Vương đáp:

-Ta muốn hưng binh đánh nước Yên, trả lại ngôi vị danh chính ngôn thuận cho công tử Sóc. Qua đó biến nước Yên thành đồng minh của chúng ta rồi cô lập nước Đinh.

Tấn Vương nói:

-Vệ Vương đã quyết rồi sao? Ta sẽ cử một vạn tinh binh trợ giúp ngài!

Vệ Vương nói:

-Cảm ơn ý tốt của Tấn Vương! Có điều lần này khởi binh, nước Vệ sẽ phải dồn lực về phía nam, mầm họa nước Soái ở phía bắc vẫn còn đó, nước Soái lại là liên minh với nước Yên và Đinh, ta cần Tấn Vương dùng binh mã thủ vững hậu phương hai nước, thì nước Vệ mới toàn lực đánh xuống phía nam được.

Tấn Vương đáp:

-Chuyện đó Vệ Vương chớ lo, nếu nước Soái thừa nước đục thả câu, tất sẽ phải bại trận mà trở về như lần trước!

Vệ Vương gật đầu, nói:

-Tấn Vương nói vậy là ta an tâm rồi!

Tử Trọng nói với Tấn Vương:

-Sau hội chư hầu, hai nước chúng ta đang ở trong một liên minh lớn, nếu nước Soái liều lĩnh manh động, Tấn Vương hãy gửi thư báo cho hai nước Cừ và Trịnh, dù họ giúp hay không cũng đều có lợi cả!

Tấn Vương đáp:

-Phải, nếu họ không giúp thì chứng tỏ liên minh này chỉ có trên danh nghĩa, không có thực tâm!

Vệ Vương nói:

-Lần này khởi binh, Tĩnh Hải quân lại một phen sóng gió!

Tấn Vương hỏi:

-Khi nào Vệ Vương khởi binh?

Vệ Vương đáp:

-Sau khi về nước, bàn bạc cùng công tử Sóc, chuẩn bị binh mã, lương thảo, nội trong tháng này sẽ tiến hành!

Tấn Vương nói:

-Việc đại sự, tất phải làm, chúc Vệ Vương mã đáo thành công, đánh đâu thắng đó, gia tăng sức mạnh và ảnh hưởng về phía nam!

Sau khi bàn đại sự xong, Tấn Vương cho chuẩn bị yến tiệc vô cùng thịnh soạn để tiếp đãi khách quý là nước Vệ. Hai huynh đệ Hạo Thiên, Chu Đức lâu ngày mới được uống rượu hàn huyên, lòng mừng rỡ, uống liền ba ngày ba đêm.

Ngày trở về, Tấn Vương cũng tặng nước Vệ lễ vật rất hậu để trả lễ. Vệ Vương trở về nước với một tâm thế hiên ngang, chuẩn bị cho chiến sự sắp tới cùng hai nước Yên và Đinh.
 
Sửa lần cuối:
Chương 73: Vệ Vương tuyên chiến nước Yên, Trương Siêu bất tuân Hàn Toại

4 vo tuong nuoc Ve ver 2.png


Tường San cùng công tử Sóc đang đi du ngoạn trong kinh thành nước Vệ, xung quanh phố phường tấp nập. Hai bên đường, hàng quán san sát, tiếng rao hàng lanh lảnh xen lẫn tiếng cười nói rộn ràng, tạo nên một khung cảnh thái bình hiếm thấy giữa thời thế nhiều biến động. Những sạp vải lụa phấp phới sắc màu, hàng trái cây tươi rói chất đầy, người người qua lại ung dung, nét mặt an hòa, no đủ.

Sóc chắp tay sau lưng, ánh mắt trầm tĩnh quan sát dòng người, còn Tường San thích thú, thi thoảng dừng chân nhìn ngắm những món đồ binh khí trong thành. Giữa chốn phồn hoa ấy, hai người không cần nói nhiều, chỉ một ánh nhìn cũng đủ hiểu lòng nhau, rằng giang sơn này, nếu có thể mãi giữ được cảnh an cư lạc nghiệp như trước mắt, thì bao nhiêu gian nguy ngoài kia cũng đáng để họ dốc sức gìn giữ.

Sóc nói với Tường San:

-Sau này nếu có cơ hội, ta cũng muốn nước Yên được tươi vui, yên bình như vậy!

Tường San đáp:

-Huynh sẽ là một vị vua tốt!

Sóc nói:

-Hễ khi nào nhìn thấy khung cảnh người dân đông đúc, kẻ cười người nói, lòng ta thấy rất vui. Ta thường tưởng tượng nếu ta là họ, cuộc sống hẳn sẽ nhẹ nhõm biết bao. Mỗi ngày mở mắt lo bữa ăn, manh áo, tối về quây quần bên gia thất, chẳng cần bận tâm đến âm mưu, tranh đoạt, đấu đá hay đại sự thiên hạ. Nhìn những người buôn bán cười nói vô ưu, ta có chút ao ước trong lòng.

Tường San lặng thinh, công tử Sóc khẽ thở dài:

-Một thứ hạnh phúc giản đơn mà kẻ đứng trên cao, dường như càng cố nắm lại càng xa vời!

Tường San nhìn Sóc, khẽ cười:

-Huynh thấy họ vô ưu, ấy là vì chỉ nhìn vào một khắc an yên của họ mà thôi. Người dân thường cũng có nỗi lo của người dân thường, cơm áo, bệnh tật, mùa màng thất bát, chỉ là họ không nói ra thôi. Còn huynh, tuy gánh trên vai đại sự, nhưng cũng chính vì vậy mà có thể bảo vệ được những nụ cười kia, giữ cho phố phường mãi an bình. Niềm vui của họ là sống yên ổn, còn niềm vui của huynh… là biết rằng chính mình đã tạo nên sự yên ổn ấy!

Sóc bật cười, gõ đầu Tường San, nói:

-Tiểu nha đầu này, hôm nay nói chuyện sâu sắc nhỉ!

Tường San đáp:

-Muội nói từ đáy lòng đó, huynh đừng cười, mỗi người một con đường, một nỗi vất vả, nhưng cũng có một phần hạnh phúc riêng. Chỉ là hạnh phúc của huynh không nằm ở chỗ được an nhàn, mà nằm ở chỗ có thể khiến thiên hạ được an nhàn. Nghĩ như vậy, há chẳng phải cũng đáng để tự hào sao?


Sóc gật đầu:

-Có lời này của muội, ta yên lòng lắm!

Hai người tiếp tục đi ngao du, đi hết một vòng, Tường San nói:

-Huynh có muốn cùng muội tới thăm doanh trại nước Vệ không?

Sóc đáp:

-Đương nhiên, họ là những người giúp chúng ta, ta phải tới xem mới được!

Công tử Sóc và Tường San đi đến doanh trại, tới trước cửa, tên lính canh thấy công tử Sóc, liền bẩm báo:

-Thừa tướng có dặn rằng công tử sẽ tới đây, xin mời đi lối này!

Sóc nói:

-Tử Trọng quả thật rất chu đáo!

Giữa khoảng đất rộng mênh mông của thao trường, từng hàng binh lính xếp ngay ngắn như vạch kẻ, khí thế bừng bừng. Tiếng hô khẩu lệnh vang lên dứt khoát, đồng loạt như sấm dậy, theo đó là tiếng binh khí va chạm chan chát, dồn dập không ngừng. Dưới ánh nắng chói chang, mồ hôi thấm ướt giáp phục, nhưng không một ai chùn bước, từng động tác vung đao, đâm thương đều nhanh gọn, chuẩn xác, như đã khắc sâu vào xương cốt.

Ở một góc khác, đội cung thủ đồng loạt giương cung, dây bật lên căng như trăng khuyết, mũi tên rời dây lao đi vun vút, cắm thẳng vào bia đích không sai một ly. Kỵ binh phía xa thúc ngựa lao đi như gió cuốn, đội hình biến hóa linh hoạt, tiến thoái nhịp nhàng như một thể thống nhất. Mỗi bước chân, mỗi nhịp chuyển đều toát lên sự rèn luyện khắc nghiệt và kỷ luật sắt đá.

Trên đài, Hàn Toại đang quan sát binh lính tập luyện, tên lính đi tới, báo:

-Bẩm Nguyên soái, công tử Sóc tới ạ!

Hàn Toại quay ra, nói:

-Thì ra là công tử Sóc, công tử hôm nay có nhã hứng tới thăm binh trường sao?

Sóc đáp:

-Phải, nghe nói binh mã nước Vệ hùng mạnh, hôm nay tận mắt chứng kiến, quả khâm phục vô cùng!

Hàn Toại cười:

- Huynh đệ binh sĩ nước Vệ vốn ý chí sắt đá, quyết tâm cao độ nên tập luyện rất hăng say, ít khi than mệt mỏi.

Tường San tò mò:

-Mỗi người một tính cách, cớ sao họ đều có ý chí mạnh mẽ như vậy?

Hàn Toại nói:

-Ấy là vì Vệ Vương năm xưa có cách quản binh mã rất gần gũi, kề vai sát cánh cùng quân nhân, trải qua biết bao trận đánh lớn nhỏ. Nhờ thế, binh lính rất trung thành với Vệ Vương, chỉ cần Vệ Vương hô đánh, tất cả bọn họ sẽ đồng sức đồng lòng mà đánh bại mọi kẻ địch!

Tường San khẽ vỗ tay, nói:

-Một đội quân tinh nhuệ như vậy thì kẻ địch tất phải run sợ!

Hàn Toại hỏi:

-Vị công tử này là?

Công tử Sóc đáp:

-Đây là Tường San, tướng quân của ta đó!

Hàn Toại nghĩ ngợi, nói:

-Phải rồi, đây chính là vị nữ tướng quân mà Thừa tướng nhắc tới hôm trước, Hàn mỗ rất thán phục!

Tường San hỏi:

-Ta thì có tài cán gì chứ, ngài là Nguyên soái mà cũng thán phục ta sao?

Hàn Toại đáp:

-Ta tuy làm Nguyên soái, nhưng nửa chiêu võ cũng không biết, nghe câu chuyện hạ hai mươi tên cướp thán phục cũng là lẽ thường tình.

Tường San nói:

-Nguyên soái giỏi điều binh khiển tướng, còn ta chỉ biết đánh đấm, không so được!

Hàn Toại nói:

-Quá lời rồi! Công tử và cô nương cứ nói chuyện, ta đi chỉ đạo binh sĩ!

Công tử Sóc và Tường San đứng quan sát Hàn Toại huấn luyện.

Khi lá cờ lệnh viền đen trong tay Hàn Toại phất sang trái, đội kỵ binh lập tức rẽ sóng tản ra, khi lệnh chỉ thẳng về phía trước, hàng vạn bộ binh đồng loạt dậm chân tiến bước, tiếng giáp sắt va đập vào nhau tạo thành những âm thanh đều tăm tắp. Toàn bộ đạo quân khổng lồ chuyển động trơn tru như nước chảy, tiến thoái nhịp nhàng theo từng cái khoát tay, từng cái gật đầu của vị chủ tướng lão luyện.

Tường San thán phục:

-Vị Nguyên soái này giỏi quá, quân sĩ theo ngài ấy đánh trận quả thực rất yên tâm!

Sóc hỏi:

-Ta thấy muội rất ngưỡng mộ quân đội nước Vệ và Nguyên soái Hàn Toại, cớ sao muội xin không gia nhập hàng ngũ nước Vệ?

Tường San nói:

-Muội đã gọi huynh là chúa công, cớ sao hai lòng được?

Sóc cười:

-Tấm lòng chung nghĩa của muội huynh cảm kích lắm!

Sau khi từ nước Tấn trở về, Vệ Vương cho người triệu ba vị Trấn thủ là Trương Siêu, Nguyễn Lương, Nguyễn Sơn về kinh để cùng bàn việc đánh Yên.

Ba vị Trấn thủ nước Vệ sau khi nhận lệnh, lập tức khởi hành về cung Thiên Huy.

Toàn bộ hàng ngũ tướng lĩnh, mưu sĩ nước Vệ vào chầu Vệ Vương.

Vệ Vương nói:

-Chư vị tướng lĩnh, ta triệu các khanh tới đây hôm nay là để bàn việc hưng binh đánh Yên, lấy lại ngôi vị chính danh cho công tử Sóc.

Công tử Sóc nói:

-Đa tạ Vệ Vương ra tay tương trợ!

Nguyễn Lương nói:

-Hai nước Yên và Đinh vốn có thù oán với nước Vệ, nay binh mã hùng mạnh, lương thực đủ đầy, chính là thời điểm thích hợp để Nam phạt.

Nguyễn Sơn nói:

-Phải lắm, đánh Yên rồi đánh Đinh, chúng ta chờ đợi trận chiến này quá lâu rồi!

Trương Siêu giơ nắm đấm, nói rõng rạc:

-Năm xưa thần được chúa công thâu nạp núi Hàng Sơn, thề rằng thù của chúa công là thù của thần. Nay thời khắc đã điểm, thần quyết lĩnh ấn tiên phong, trảm địch như cỏ rác!

Hàn Toại thưa:

-Ý muốn của chúa công, tất là vì đại cuộc, toàn thể chư tướng chúng thần sẽ nghe theo chỉ đạo của chúa công!

Các triều thần khác đều tán thành việc hưng binh đánh Yên, cho là phải.

Vệ Vương gật đầu tâm đắc:

-Nếu toàn thể đã đồng lòng như vậy, chưa đánh đã thắng! Sau khi sang thăm nước Tấn, bàn bạc cùng Tấn Vương về lần đánh này, việc chống Soái ở phía bắc đã được Tấn Vương đảm nhiệm. Chính vì vậy, quân ta sẽ dốc tổng lực tiến đánh Yên, trả lại ngôi vị cho công tử Sóc. Lấy tốc chiến tốc thắng làm trọng, nếu chiến sự nước Yên thành, có một việc ta cần công tử Sóc giúp!

Công tử Sóc đáp:

-Xin Vệ Vương cứ nói!

Vệ Vương nói tiếp:

-Sau khi công tử ổn định nước Yên, quân Vệ cần đường thuận tiện nhất để đánh nước Đinh, không nơi nào hợp hơn vùng Hạ Xương. Nếu được công tử thuận cho, thì ta lấy làm cảm kích!

Công tử Sóc quả quyết:

-Sóc một thân một mình tới nước Vệ cầu trợ giúp, được Vệ Vương hết lòng tin tưởng, dùng đại quân giải cứu cho nước Yên. Ân nghĩa này dù có phải nhảy vào vạc sôi cũng cam lòng, đừng nói là việc cỏn con ấy! Tại hạ vốn có thù với nước Đinh, không những mở toàn bộ đường xá cho đại binh nước Vệ, tại hạ hứa rằng sẽ cử hai vạn binh mã hợp lực diệt Đinh cùng Vệ Vương!

Vệ Vương mừng lắm:

-Trời giúp ta có đồng minh là công tử!

Vệ Vương nói:

-Hàn Toại nghe lệnh!

Hàn Toại thưa:

-Có thần!

Vệ Vương nói:

-Ta và Thừa tướng còn nhiều công việc về quốc sự và cải cách tại kinh kỳ, sẽ không trực tiếp ra chiến trận. Nay ta giao ấn tín Nguyên soái cho khanh, chính là giúp ích những lúc thế này. Lệnh Hàn Toại thống lĩnh mười vạn binh mã, toàn quyền chỉ huy nơi sa trường, ai làm trái lời Nguyên soái, trảm trước tấu sau!

Hàn Toại đáp:

-Tuân mệnh!

Vệ Vương nói:

-Trương Siêu, Nguyễn Lương, Nguyễn Sơn nghe lệnh!

Ba người đồng thanh:

-Có thần!

Vệ Vương nói:

-Lệnh ba người tập hợp binh mã ba vùng về ngoại ô kinh thành, nội trong một tuần lễ huấn luyện các đạo quân phối hợp nhuần nhuyễn dưới sự chỉ huy của Nguyên soái. Khi đánh vào nước Yên, lệnh của Hàn Toại tương đương với lệnh của ta, chớ nên kháng lệnh mà làm hỏng việc.

Nguyễn Lương, Nguyễn Sơn lĩnh mệnh. Riêng Trương Siêu tỏ ra ngập ngừng, rồi nói nhỏ nhẹ:

-Tuân mệnh!

Vệ Vương biết trong lòng Trương Siêu vẫn chưa phục Hàn Toại, nhưng quyết tin tưởng vào vị Nguyên soái mình bổ nhiệm có thể gắn kết được toàn quân thành một thể đoàn kết.

Vệ Vương nói:

-Dương Minh nghe lệnh!

Dương Minh thưa:

-Có thần!

Vệ Vương nói:

-Ta giao khanh việc mưu sĩ ở trại doanh, hỗ trợ Nguyên soái về mưu lược và gửi tin tức về cho ta.

Dương Minh đáp:

-Thần lĩnh mệnh!

Tử Trọng nói với Vệ Vương:

-Bẩm chúa công, ta nên bố cáo việc hưng binh lần này cho toàn thể các nước đồng minh ở phía bắc. Về chính nghĩa, Vệ giúp công tử Sóc lấy lại ngôi vị chính danh. Về lý lẽ, Vệ đánh Yên không phải là nước trong đồng minh. Về binh lực, Vệ hoàn toàn áp đảo. Làm như vậy sẽ khiến các nước khác không có cớ gì để trách nước Vệ, hơn nữa còn phải âm thầm ủng hộ!

Vệ Vương đáp:

-Thừa tướng nói rất phải!

Sau buổi chầu hôm ấy, Vệ Vương đưa ra ban bố cho các nước trong đồng minh, rằng:

"Bố các chư quốc,
Nay nước Vệ ta, phụng mệnh trời, thuận lòng dân, quyết hưng đại binh, tiến đánh nước Yên, kẻ nghịch tặc Hoàng Bạch dám tiếm đoạt chính thống, làm loạn cương thường, khiến xã tắc điêu linh, lê dân oán thán. Công tử Sóc, dòng dõi chính danh, huyết mạch vương tộc, vốn là người thừa kế hợp lẽ trời, nay bị bức hại lưu lạc, đại nghĩa chưa tỏ, lòng người chưa yên.

Hạo Thiên không thể khoanh tay đứng nhìn chính đạo bị vùi lấp, nên thuận theo thiên ý, địa giới gần kề, cất quân chinh phạt, dẹp loạn trừ gian, khôi phục ngôi báu cho người xứng đáng. Đây không chỉ là việc của riêng nước Vệ, mà là đại nghĩa của thiên hạ, phò chính, diệt tà, trả lại trật tự cho càn khôn.

Đại quân nước Vệ đã sẵn sàng, cờ xí rợp trời, binh giáp sáng loáng. Một trận này, không chỉ định thắng, mà còn phải thắng cho chính danh rạng rỡ, cho thiên hạ yên bình!"

Hai ngày sau, bốn vị tướng lĩnh nước Vệ tề tựu vùng ngoại ô kinh thành, Hàn Toại cho truyền các tướng lĩnh vào bàn việc. Nguyễn Lương, Nguyễn Sơn, Dương Minh có mặt đầy đủ, riêng Trương Siêu thì không thấy tăm hơi.

Hàn Toại hỏi:

-Trương Siêu đâu?

Nguyễn Sơn thưa:

-Để mạt tướng đi gọi ngài ấy!

Hàn Toại cau mày:

-Khỏi cần, hắn không tới thì khỏi họp bàn, sau này ra trận làm sai lệch đội hình, cứ theo binh quy mà xử phạt!

Dương Minh can:

-Dù sao thì ngài ấy cũng là đại tướng của nước Vệ, để ta đi nói phải trái với Trương Siêu, mọi người cứ bàn bạc trước, ta sẽ bắt kịp sau!

Dương Minh đi tới lều của Trương Siêu, thấy y đang nâng một khối sắt lớn để rèn sức khỏe.

Dương Minh hỏi:

-Nguyên Soái cho truyền, cớ sao ngài không tới?

Trương Siêu đặt khối sắt xuống, phì một tiếng, nói:

-Ta vốn không phục cái tên luồn trôn ấy, đường đường anh dũng như Trương Siêu ta, lập biết bao công trạng, nay phải đi nghe cái tên lùn mã tử ấy chỉ đạo, thật tức chết!

Dương Minh thở dài:

-Chẳng phải Nguyên soái đã giải được trận thế của Thừa tướng sao? Không lẽ ngài cứ muốn gây khó dễ cho Nguyên soái?

Trương Siêu đáp:

-Hắn có tài giải trận, chứ ra chiến trận chắc gì đã áp dụng được?

Dương Minh hỏi:

-Cớ sao ngài quả quyết như vậy? Nếu Nguyên soái đánh thắng trận cho nước Vệ, ngài cảm thấy không vui sao?

Trương Siêu giải thích:

-Nước Vệ đại thắng đương nhiên ta là người vui nhất!

Dương Minh nói:

-Bây giờ ta nói điều phải, ngài nghe cũng được, không nghe thì bỏ ngoài tai.

Trương Siêu hỏi:

-Ngài cứ nói!

Dương Minh đáp:

-Thứ nhất, nếu ngài bất tuân mệnh lệnh, sau này nếu Nguyên soái thua trận cũng có cớ đổ cho ngài. Ngài chống đối thì vị trí tướng tiên phong ưa thích của ngài sẽ thuộc về người khác. Quân lệnh như sơn, nếu ngài phải chịu hình phạt nghiêm khắc, chẳng phải sẽ làm chúa công khó xử hay sao?

Trương Siêu lúng túng:

-Thế ta phải làm sao?

Dương Minh nói:

-Ngài cứ cho Nguyên soái một cơ hội, nếu làm theo mà đánh trận vẫn thua, lúc ấy chống đối sau vẫn chưa muộn!

Trương Siêu nói:

-Thôi được, ta nghe ngài lần này.

Cuối cùng Trương Siêu cũng nghe Dương Minh thuyết phục về trướng họp bàn.

Hàn Toại thấy Trương Siêu đi vào, không nói năng gì, tiếp tục bàn bạc cùng các tướng lĩnh.

Bàn bạc hồi lâu, Hàn Toại phân chia nhiệm vụ cụ thể cho từng tướng lĩnh, chỉ riêng Trương Siêu thì không được giao gì. Các tướng đều trở ra, Trương Siêu ở lại hỏi Hàn Toại:

-Vậy còn ta, ta không được giao phó gì sao?

Hàn Toại đáp:

-Ngươi là đại tướng nước Vệ, công trạng ngươi hơn ta gấp trăm lần, ta nào dám sai bảo!

Trương Siêu nhíu mày:

-Ngươi...!!! Ta xưa nay đều là kẻ xung phong đi đầu, trong trại binh chưa bao giờ ngồi không. Nay ngươi bảo ta không làm việc gì, sao ta chịu đây?

Hàn Toại nói:

-Ngươi thân là tướng lĩnh, đến lúc họp bàn thì cố tình vắng mặt, theo nội quy, đáng ra phải xử cách chức. Nể tình ngươi là huynh đệ kết nghĩa với chúa công, ta xử ngươi theo cách khác. Đó là cho ngươi rảnh rỗi, xem các tướng khác lập công, xem ngươi chịu nổi không?

Trương Siêu lúc bấy giờ lo sợ mình mất vị thế trước toàn thể binh sĩ, lại không được lập chiến công, bèn hạ giọng:

-Thôi được, là ta sai! Nhưng dù gì chiến sự nước Vệ là trọng, ta nghe ngươi một lần, nếu ngươi thất bại thì đừng hòng sai bảo Trương Siêu này!

Hàn Toại mỉm cười, trong lòng nghĩ mình đã thu phục được Trương Siêu.

Y nói:

-Nể tình ngươi biết nhận sai, ta bỏ qua cho. Bây giờ ta giao ngươi quân tiên phong, không cần phối hợp nhiều với quân đoàn khác. Việc của ngươi là huấn luyện, giúp tăng sức mạnh và võ nghệ cho binh sĩ, lấy một địch mười, mười địch trăm, làm được điều ấy quân ta tất nắm chắc bảy, tám phần thắng.

Trương Siêu nghe Hàn Toại đánh giá cao việc của mình, cười khoái chí:

-Bảy, tám phần là thế nào? Phải chín phần!
 
Sửa lần cuối:
Chương 74: Vệ Yên giao chiến, Yên dùng chiến tượng áp đảo quân Vệ

c74 (1).png


Ngô Vương đọc xong bố cáo của nước Vệ, bàn với Quách Tuấn:

-Nước Vệ rốt cuộc đã hưng binh đánh về phương nam, ta muốn phản đối nhưng hai nước Yên Đinh không hề thuộc liên minh, chẳng có cớ gì để nói cả.

Quách Tuấn nói:

-Nước Vệ bố cáo như vậy quả rất cao tay, biết dùng chính nghĩa để làm lý do, dùng lý lẽ để cô lập hai nước Yên Đinh. Nay chiến sự không hề liên quan tới chúng ta, có nói cũng vô ích!

Ngô Vương hỏi:

-Vậy cứ để mặc Vệ mở rộng ra phía Nam sao?

Quách Tuấn đáp:

-Đành phải vậy, không còn cách nào khác! Việc của nước Ngô bây giờ là tập trung phát triển thật cường thịnh, hàng ngũ binh mã thiện chiến, đến lúc ấy lời nói mới có trọng lượng!

Ngô Vương gật đầu, cho là phải.

Tấn Vương sau khi gặp Vệ Vương, liền viết thư gửi cho Trịnh Vương và Cừ Vương, rằng:

"Gửi quân vương, Chu Đức hiện nay không thể sang thăm quý quốc, mà có việc gấp, đành gửi thư nhờ cậy, quả thật hổ thẹn! Nước Vệ hưng binh đánh Yên, ta nghĩ rằng nước Soái sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Vệ Vương nhờ cậy việc bảo vệ giang sơn hai nước, ta không thể không dốc lòng mà tương trợ. Nay nước Tấn thừa sức thủ Soái, có điều tránh gây thiệt hại, binh đao thì tốt hơn. Chu Đức nghĩ ra một kế, đem quân đến sát biên giới nước Soái, dương oai, diễu võ khiến nước Soái chùn bước, ta không cần binh đao vẫn thắng! Thiết nghĩ chúng ta là đồng minh, nước Tấn mạn phép nhờ cậy quân vương đem binh ra sát nước Soái khoảng hai vạn, chẳng cần đổ một giọt máu, chỉ cần có mặt là được! Sau này đại sự thành, nước Vệ và nước Tấn tất sẽ không quên ơn nghĩa của quý quốc!"

Trịnh Vương và Cừ Vương nhận được thư của Tấn Vương, nghĩ bụng đem quân ra biên giới thì cũng không mất gì, mà lại được hai nước Vệ và Tấn mang ơn, , vui vẻ chấp thuận.

Soái Vương nhận tin về nước Vệ muộn hơn các nước khác, tức tối truyền Nguyên Hà và Hứa Chung vào bàn việc.

Soái Vương bực tức:

-Cái lũ nước Vệ ấy ra vẻ chính nghĩa nhưng thực chất là muốn mở rộng ảnh hưởng xuống phía nam, mộng bá vương rõ như ban ngày. Hơn nữa nước Yên là đồng minh của ta, nay ta không muốn ngồi yên nhìn nước Vệ lộng hành được.

Nguyên Hà nói:

-Bẩm chúa công, nước Vệ được che chắn bởi nước Tấn, muốn đem quân đánh Vệ cứu Yên, thì phải đi qua nước Tấn. Chẳng khác nào ta phải công được nước Tấn thì mới đánh được Vệ, lúc ấy liệu Yên cũng chẳng còn!

Soái Vương còn đang đi tới đi lui, không nghĩ ra cách gì, thì có tên lính vào bẩm báo:

-Bẩm chúa công, ba nước Cừ, Trịnh, Tấn đều đem mấy vạn binh mã đóng tại biên giới sát nước ta!

Soái Vương tức giận, lật đổ cái bàn ầm một tiếng, quát:

-Đúng là quá lắm, cậy đông hiếp ít, nỗi nhục này nhất định phải báo!

Soái Vương biết mình thân cô thế cô, không cứu được Yên, bèn án binh bất động.

Yên Tương Vương nghe Vệ chuẩn bị đem quân sang đánh, trong lòng e sợ lắm, bèn gửi thư cầu cứu Đinh, Đinh Vương sai Mã Sinh đem năm vạn binh tới hợp quân chống Vệ.

Trước ngày khởi binh, Tường San tới trướng của Hàn Toại, nói:

-Bẩm tướng quân, Tường San muốn ra trận chém giặc, xin tướng quân thuận cho!

Hàn Toại cười:

-Có người xung phong ra trận giết địch, cớ gì ta từ chối! Ngươi muốn đầu quân vào hàng ngũ nào?

Tường San nói:

-Tường San học Hàn Nguyệt Kiếm Pháp từ nhỏ, có một thức Loạn Ảnh Trảm có thể lấy một địch trăm, nơi nào càng nhiều địch càng tốt!

Hàn Toại kinh ngạc:

-Ngươi quả có cái tài như vậy ru?

Tường San quả quyết:

-Phải, nếu tướng quân cho Tường San ra trận, nhất định sẽ lập công lớn!

Hàn Toại gật đầu, nói:

-Được, ta cho ngươi làm đội trưởng tiên phong dưới trướng Trương Siêu, đi đầu lập công! Có điều trong doanh trại của ta, không phân biệt nam nữ, chỉ phân biệt công trạng và xử phạt nghiêm minh, ai cũng như ai, ngươi liệu mà suy xét!

Tường San đáp:

-Tường San chỉ có lập công chứ không bao giờ làm vướng chân hàng ngũ, xin tướng quân chớ lo!

Hàn Toại thuận ý, giao băng đội trưởng cho Tường San.

Hàn Toại nói thêm:

-Có việc này ta dặn, ngươi chớ nên cho binh lính biết mình là nữ nhân, để tránh dị nghị và nảy sinh tình cảm trong hàng ngũ! Nếu Trương Siêu có tra hỏi, cứ nói ngươi được ta đích thân chiêu mộ, thắc mắc thì gặp ta!

Tường San đáp:

-Tướng quân liệu rất phải, Tường San tuân mệnh!

Tường San mừng lắm, liền tới chỗ hội quân để bắt kịp hàng ngũ. Nàng buộc gọn tóc, mặc trang phục binh lính nên không ai nhận ra mình là nữ. Trương Siêu trông thấy Tường San, tay đeo băng đội trưởng, tò mò hỏi:

-Ngươi được Nguyên soái phong cho chức đội trưởng sao? Trông ngươi lạ lắm, ta chưa gặp bao giờ!

Tường San đáp:

-Phải, thuộc hạ mới gia nhập binh ngũ, được Nguyên soái tin tưởng, giao cho chức đội trưởng tiên phong!

Trương Siêu cau mày:

-Cái tên Hàn Toại lại giao một tên mặt hoa da phấn làm đội trưởng, chẳng biết có đánh đấm được không? Thôi, ta mặc xác ngươi, miễn ra trận đừng làm vướng chân ta!

Tường San vâng lệnh rồi gia nhập hàng ngũ luyện tập.

Mùa đông năm 880, Hàn Toại dẫn đại binh mười vạn đến vùng Trường Khê, phía bắc nước Yên dàn quân khiêu chiến. Đáp lại, Yên Tương Vương cử Cư Sĩ thống lãnh ba vạn tinh binh, hợp cùng Mã Sinh năm vạn tới nghênh chiến.

Hàn Toại thúc ngựa ra trước giao lộ, Cư Sĩ và Mã Sinh cũng tới nơi. Hàn Toại quát:

-Hôm nay nước Vệ tới nước Yên cốt để hỏi tội Hoàng Bạch tiếm ngôi chính thống, trả lại ngôi báu cho công tử Sóc. Điều này vốn không liên quan tới binh sĩ nước Yên, khôn hồn thì buông vũ khí mà đầu hàng, tất sẽ được tha mạng. Ngược lại, nếu còn ngoan cố thờ giặc, chống trả đến cùng, Hàn Toại này xin thề sẽ giết bằng sạch không tha!

Mã Sinh cả giận:

-Thất phu người được một mẩu cũng bày đặt dương oai diễu võ, ta đây quyết lấy cái đầu ngươi về lập công!

Cư Sĩ nói:

-Đừng nhiều lời với hắn, xông lên giết sạch là xong!

Hàn Toại mỉm cười:

-Rượu mời không uống, muốn uống rượu phạt! Vậy là các ngươi chọn con đường chết, ta sẽ cho các ngươi được toại nguyện!

Hai bên đã hiểu ý nhau, quay trở về ra lệnh cho binh sĩ sẵn sàng chiến đấu.

Hàng ngũ nước Vệ đồng lòng chiến đấu, miệng hô vang ầm cả một góc trời: "Giết, giết, giết". Hàn Toại lệnh cho binh mã đánh trực diện với quân Yên. Quân Vệ hừng hực khí thế, xông lên như vũ bão.

Cư Sĩ nói với Mã Sinh:

-Ngươi khoan hãy động binh, để ta cho chúng biết thế nào là sức mạnh của chiến tượng!

Bỗng mặt đất bắt đầu rung chuyển, ban đầu là khe khẽ, rồi dần dần dồn dập như sấm cuộn. Từ sau hàng khiên giáp, từng con chiến tượng cao lớn xuất hiện, thân phủ giáp da dày, ngà bọc sắt nhọn hoắt, trên lưng là tháp gỗ chở cung thủ và giáo binh. Quân Yên thúc trống dồn dập, điều tượng tiến lên thành hàng, mỗi bước chân nện xuống khiến bùn đất bắn tung, cỏ cây rạp mình.

Hàn Toại trông thấy đàn chiến tượng từ xa, kinh hãi nói:

-Không ngờ nước Yên lại có thể dùng chiến tượng đánh trận, tuyệt đối không thể khinh suất!

Quân nước Vệ đứng tuyến đầu vốn chưa từng đối mặt với thứ binh lực hung hãn đến vậy, vừa thấy bóng tượng đã kinh hãi. Khi đàn voi gầm lên, cùng lúc xông thẳng tới như một bức tường sống, hàng ngũ Vệ lập tức chao đảo. Trường thương đâm tới chỉ trượt trên lớp giáp dày, mũi tên bắn ra cũng khó xuyên nổi da dày của tượng. Chỉ trong chớp mắt, tuyến đầu bị xé toạc, có kẻ bị vòi quật văng, có kẻ bị chân voi giẫm nát, tiếng la hét hòa cùng tiếng gầm khiến cả chiến trường hỗn loạn.

Trương Siêu thấy xung quanh binh sĩ bị lấn át trước lũ chiến tượng, quát:

-Có vài con voi con mà các ngươi đã sợ rồi sao!

Nói rồi thúc ngựa xông ra, đơn thương độc mã đánh nhau với voi. Chiến mã vừa đến gần, con voi đã vung vòi quật tới như trời giáng. Trương Siêu nghiêng mình né tránh, ghìm cương xoay ngựa, ánh mắt sắc lẹm. Chỉ một thoáng, Trương Siêu thúc ngựa lao thẳng vào chính diện, trường thương trong tay vung lên, nhắm đúng chỗ yếu nơi gốc ngà mà đâm tới. Một tiếng rít vang lên, mũi thương xuyên sâu, máu voi phun trào như suối.

Con chiến tượng đau đớn gầm thét, điên cuồng lồng lên, giẫm loạn cả chiến trường. Trương Siêu không lùi, ngược lại còn ép sát, nhân lúc nó chao đảo, y bật mình khỏi lưng ngựa, lao thẳng lên thân voi, rút đoản đao, dốc toàn lực đâm xuống yết hầu nơi không có giáp. Một tiếng rống lớn vang lên, thân voi khổng lồ đổ sập xuống đất, chấn động cả chiến trường.

Trương Siêu đứng trên xác tượng, toàn thân nhuốm máu, thở hồng hộc, dường như giết một con voi tiêu tốn quá nhiều sức lực của y. Quân Vệ Trương Siêu giết voi, sĩ khí vực lại, đồng loạt hò reo xung phong.

Hàn Toại trông thấy cảnh ấy, tấm tắc khen:

-Đúng là mãnh tướng Trương Siêu, danh bất hư truyền!

Quân Vệ tuy vực lại được sĩ khí, nhưng không sao đánh lại voi được, bị giết rất nhiều. Hàn Toại nhận thấy tình hình chiến tuyến không ổn, bèn lệnh đại quân rút về.

Lúc bấy giờ Mã Sinh mới cử kỵ binh truy đuổi theo chém giết quân Vệ, giết được vài ngàn lính. Quân Yên đuổi giết thêm được hơn mười dặm, tới chỗ có hẻm núi, hai bên là rừng, tên từ trong phóng như mưa về phía quân Yên. Mã Sinh sợ Hàn Toại bày trận mai phục trong rừng, bèn hô lớn:

-Có mai phục, rút!!!

Quân Yên đại thắng trở về. Hàn Toại họp bàn cùng các tướng lĩnh sau trận thua hôm nay. Trương Siêu nói:

-Nguyên soái dùng binh thế nào mà mới trận đầu đã thua?

Hàn Toại từ tốn đáp:

-Trận đầu này cốt để đo sức quân Yên tới đâu, có phối hợp tốt với quân Đinh hay không, lối dùng binh của Mã Sinh và Cư Sĩ thế nào, nay ta đều nắm rõ cả, trận sau mới là đánh thật!

Dương Minh hỏi:

-Nghe Nguyên soái nói vậy ta cũng an tâm, có điều lũ chiến tượng đó quá hung hãn, phải tính cách nào đây?

Hàn Toại nói:

-Ta không lường được nước Yên dùng chiến tượng đánh trận, cho nên chưa kịp chuẩn bị. Trận sau dẫu chúng có dùng thiên tượng thì cũng không làm gì được nước Vệ!

Nguyễn Lương hỏi:

-Chúng ta khắc chế lũ voi ấy thế nào?

Hàn Toại giải thích:

-Voi tuy khỏe nhưng rất dễ hoảng loạn, ta chỉ cần dụ chúng đến nơi mai phục, dùng lửa và tiếng trống lớn, bất ngờ lao ra dọa chúng mất kiểm soát, tất sẽ tự quay đầu giẫm đạp quân Yên.

Nguyễn Sơn hỏi:

-Hôm nay trên chiến trận, thấy tên Mã Sinh là kẻ cũng đa nghi, liệu khó mà dụ được hắn truy đuổi đến nơi mai phục!

Hàn Toại cười:

-Chuyện ấy ta khắc có lo liệu!

Hàn Toại gọi Trương Siêu ở lại bàn việc, nói rằng:

-Ta cần ngươi vào một vai diễn, vai diễn này nếu thành tất sẽ diệt được quân Yên!

Trương Siêu hậm hực:

-Diễn mới chẳng không diễn! Quân ta thua trận như vậy mà ngươi vẫn còn tâm trí bày trò sao?

Hàn Toại tự tin:

-Ngươi nghe ta lần này, nếu đánh không thắng ta lập tức trao trả lại ấn tín cho ngươi thống lãnh ba quân!

Trương Siêu mừng:

-Quân tử nhất ngôn, chớ nuốt lời. Được, ta sẽ nghe theo lời ngươi lần này, diễn thế nào?

Hàn Toại nói:

-Sau khi đám trá binh trở về, ngươi sẽ làm thế này... thế này...

Hàn Toại bí mật sai người trà trộn vào biên cảnh, loan tin trong quân doanh rằng nội bộ quân Vệ sinh biến, Trương Siêu tranh cãi với Hàn Toại về cách khắc chế chiến tượng, cho thấy sự bất lực của quân Vệ. Binh sĩ oán thán, lương thảo thiếu hụt, lại cố ý để vài toán lính đào ngũ sang doanh địch, khóc lóc kể rằng đại quân sắp tan rã sau trận thua hôm trước.

Mã Sinh và Cư Sĩ nhận được tin ấy, họp bàn với nhau. Cư Sĩ nghi ngờ:

-Tin này có phải thật không?

Mã Sinh suy nghĩ:

-Theo ta được biết, tên Hàn Toại này không biết từ đâu ra, đột nhiên được Vệ Vương phong cho ấn tín Nguyên soái. Một kẻ nhiều công trạng, lại còn là huynh đệ kết nghĩa của Vệ Vương như Trương Siêu không phục Hàn Toại âu cũng là lẽ thường. Hôm nay Trương Siêu hùng dũng giết voi, ấy vậy mà quân Vệ bị đánh tan đàn xẻ nghé, nếu ta là Trương Siêu, ta cũng sẽ trách tên Hàn Toại ấy mà thôi.

Cư Sĩ đồng tình:

-Ngài nói rất phải, ta nên làm thế nào?

Mã Sinh đáp:

-Sĩ khí quân ta vừa thắng trận đang hăng, ta phải nhân lúc địch đang hỗn loạn mà khiêu chiến, tất chúng sẽ vỡ trận!

Cư Sĩ nói:

-Ta cũng nghĩ như vậy, chiến tượng nước Yên là bất khả chiến bại, đánh đâu thắng đó!

Mã Sinh nói tiếp:

-Dẫu vậy thì ta vẫn phải dùng kế cho chắc, sẵn tiện có đám binh đào ngũ, ta sẽ mua chuộc chúng trở về phao tin thất thiệt, rằng Hàn Toại hèn nhát, sợ voi nên không dám đánh, làm giảm nhuệ khí quân Vệ. Tới lúc ấy, tự khắc đám tướng lĩnh nước Vệ vốn đã không ưa Hàn Toại, lại càng thêm chia rẽ, xích mích. Lúc bấy giờ ta mới đem quân đánh, quân Vệ lấy gì mà chống đỡ!

Cư Sĩ khen:

-Kế ấy rất diệu!

Mã Sinh cho mỗi tên lính đào ngũ nước Vệ mười lạng bạc, hứa rằng sau khi xong việc, trở lại ắt được thăng chức, tặng thêm mười lạng bạc nữa. Đám lính đào ngũ nhận lời với Mã Sinh, mặt ai cũng tươi cười rạng rỡ. Mã Sinh lúc bấy giờ đã rất tự tin, cho rằng kế của y tất sẽ thành. Thế mà Mã Sinh vẫn cẩn trọng, sai người bám theo đám lính đào ngũ xem thực hư thế nào. Quả nhiên tối hôm ấy, tên mật thám nước Yên lén rình ở bụi cỏ, thấy Hàn Toại và Trương Siêu cãi vã to tiếng bên ngoài doanh trại, trông mặt ai nấy đều giận dữ, căng thẳng.

Hắn quay về bẩm báo cho Mã Sinh, Mã Sinh mừng lắm, nói:

-Nay lòng quân đã loạn, tướng lĩnh thì bất hòa, chưa ra trận đã thắng! Truyền lệnh ta, lập tức tập hợp binh mã đánh thẳng đại bản doanh nước Vệ.
 
Sửa lần cuối:
Chương 75: Hàn Toại dùng kế dọa voi giúp Vệ đại thắng, Lê Cung xuất hiện

c75.png


Nghe tin Mã Sinh cử đại binh đến đánh, Hàn Toại cho hết ba vạn bộ binh ra nghênh chiến.

Quân Yên hừng hực khí thế, cùng đàn voi hộ pháp lù lù kéo đến. Cư Sĩ trông thấy quân Hàn Toại, cười lớn:

-Xưa nay ta chưa thấy ai dùng binh dốt như Hàn Toại, lại đi lấy bộ binh đấu với chiến tượng, khác nào tự sát!

Mã Sinh đáp:

-Ta đoán rằng nội bộ chúng lục đục, chỉ huy cánh quân khác không nghe lời hắn nữa rồi!

Cư Sĩ hô to:

-Quân sĩ nghe lệnh, giết hết lính nước Vệ, biến nơi đây thành mồ chôn tập thể của chúng!

Toàn quân Yên hô vang:

-Giết Vệ! Giết Vệ! Giết Vệ!

Hàn Toại lệnh tất cả bộ binh lao vào đánh giáp lá cà với quân Yên.

Đúng như lời Cư Sĩ nói, quân Vệ đánh với voi như trứng chọi đá, bị voi giết rất nhiều. Quân Yên càng đánh càng hăng, lòng ai cũng chắc nịch sẽ đại thắng quân Vệ.

Địa hình nơi đây có rừng cây ở hai bên đường, lối giữa rất rộng, có thể cho cả đại quân đi qua. Đột nhiên, Hàn Toại ra lệnh cho quân sĩ tháo chạy về phía đường đất giữa hai cánh rừng rậm.

Đoàn voi nước Yên thấy đối phương tháo chạy thì càng hung hăng đuổi giết. Nhưng đúng lúc tiến vào khu vực đường giữa, quân Vệ bỗng ném bỏ binh khí, tản nhanh vào hai cánh rừng như đã chuẩn bị từ trước.

Quân Yên còn chưa hiểu chuyện gì xảy ra thì từ trong rừng, tiếng kèn đồng khổng lồ vang lên inh ỏi khắp nơi, dội khắp núi rừng như sấm động. Ngay sau đó, quân Vệ ném hàng loạt bó đuốc và chum dầu cháy rực ném thẳng vào đàn voi.

Mã Sinh thất kinh:

-Nguy to, trúng kế Hàn Toại rồi!

Lửa bốc cao, kèm thêm tiếng kèn chói tai khiến đàn voi hoảng loạn, chúng rống lên dữ dội, quay đầu giẫm đạp loạn xạ vào chính đội hình quân Yên phía sau. Kỵ binh, bộ binh nước Yên bị voi điên xô ngã, giày nát dưới chân, đội hình đại quân lập tức đại loạn, tiếng kêu khóc vang trời.

Lúc bấy giờ Hàn Toại đang nấp ở sau hàng cây, nhận thấy thời cơ đã điểm, hô to:

- Toàn quân phản kích!

Quân Vệ từ hai cánh rừng đồng loạt xông ra, trống trận vang dội, đám tàn binh nước Yên hoảng loạn tháo chạy, bị truy sát khắp chiến địa. Máu nhuộm đỏ mặt đất, xác quân Yên chất chồng thành đống, kéo dài hàng dặm, chết quá nửa.

Mã Sinh ra lệnh lập tức rút quân về thành, tàn quân chỉ còn chừng hơn ba vạn.

Quân Vệ đại thắng, Hàn Toại cho quân trở về đại bản doanh, nghỉ ngơi để tiếp tục đánh nước Yên.

Sau khi trở về doanh trại, Trương Siêu đi tới bên cạnh Tường San, vỗ mạnh vào vai, nói:

-Hôm nay ta thấy ngươi thân pháp nhanh nhẹn, uyển chuyển như mèo. Chỉ thoáng chốc đã giết cả trăm tên địch, võ nghệ quả không tầm thường!

Tường San nghe Trương Siêu khen mừng lắm, đáp:

-Ngài đã quá khen! Nhờ uy dũng của ngài làm kẻ địch khiếp vía, thuộc hạ thừa thế xông lên giết địch, nhàn hạ vô cùng!

Trương Siêu cười sảng khoái, nói:

-Được, ta bắt đầu quý ngươi rồi đó, lát cùng ta đi uống rượu!

Tường San ngập ngừng, tìm cớ từ chối:

-Nay chiến sự với nước Yên đang căng thẳng, không nên uống rượu say xỉn thì hơn!

Trương Siêu đáp:

-Quân ta vừa đại thắng, việc uống rượu ăn mừng là lẽ thường, cớ sao phải câu nệ. Hơn nữa, trước khi đánh một trận khác, các tướng lĩnh phải họp bàn mưu lược, rồi dặn dò binh sĩ, mọi việc ổn thỏa mới đánh. Ngươi an tâm, nội trong nay mai vẫn chưa đánh đâu mà lo. Ta xưa nay trong quân ngũ đề cao sự tự do, phóng khoáng, uống chút rượu chẳng vấn đề gì, miễn không gây hại đến toàn quân là được!

Tường San nghe thế cũng không còn cớ gì, bèn nói:

-Vậy thì thuộc hạ sẽ uống vài chén ạ!

Trương Siêu cau mày:

-Ngươi là đàn bà hay sao mà uống có vài chén, uống cùng ta vài chum mới đã!

Tối hôm ấy, Trương Siêu có ý muốn giảng hòa, bèn vào trướng gặp Hàn Toại, nói:

-Là ta đã đánh giá sai Nguyên soái, hôm nay toàn quân thắng trận, lòng ta vui lắm!

Hàn Toại cười:

-Ấy là cái trách nhiệm của ta!

Trương Siêu nói tiếp:

-Từ giờ chỉ cần Nguyên soái hạ lệnh, Trương Siêu chỉ đâu cũng đánh!

Hàn Toại gật đầu hài lòng, nói:

-Hôm nay đạo quân của ngươi thực hiện rất tốt nhiệm vụ, chém địch không còn một manh giáp, ta thực có lời khen!

Trương Siêu đáp:

-Hôm nay cao hứng, ta rủ đám tướng lĩnh uống rượu, Nguyên soái có nhã hứng tham gia chăng?

Hàn Toại nói:

-Các ngươi cứ uống cho thỏa thích đi, ta còn phải nghĩ cách đánh Yên!

Trương Siêu thấy Hàn Toại hết mình lo nghĩ cho đại quân nước Vệ, trong lòng y dần cảm phục, không còn muốn chống đối nữa.

Trương Siêu ra ngoài trại, rủ hết đám Nguyễn Lương, Nguyên Sơn cùng uống rượu mừng thắng trận.

Tướng lĩnh tề tựu bên bàn rượu thịt, ai nấy cũng đều cười nói vui vẻ, bàn về chuyện chém quân Yên hôm nay. Chỉ riêng Tường San sợ lộ thân phận, không dám nói gì.

Nguyễn Sơn trông thấy Tường San, hỏi:

-Kẻ này là ai, cớ sao ngồi uống rượu với chúng ta?

Trương Siêu nói:

-Giới thiệu với các ngươi, đây là đội trưởng mới của ta, y là kẻ thân pháp nhanh nhẹn, chém địch lia lịa không chớp mắt. Võ công các ngươi nếu đấu với y chưa chắc đã phân thắng bại!

Nguyễn Lương giơ chén rượu, nói:

-Quả có người tài như vậy sao? Chúc mừng ngài thâu nạp được chiến tướng!

Trong lúc Trương Siêu và Nguyễn Lương trò chuyện với nhau, Nguyễn Sơn mời rượu Tường San, hỏi:

-Ngươi tên gì, quê quán ở đâu?

Tường San đáp:

-Thuộc hạ tên Gia Huy, quê ở vùng ngoại ô phía nam kinh thành!

Nguyễn Sơn nói:

-Xưa nay ngài ấy chưa bao giờ mời cấp dưới uống rượu cùng bọn ta, chứng tỏ ngài ấy rất trọng dụng ngươi đó!

Tường San mừng:

-Quả vậy thì đó là diễm phúc của thuộc hạ!

Nguyễn Sơn kể:

-Ngài ấy tuy tính tình nóng nảy, bốc đồng nhưng rất trọng nghĩa khí, tính tình thẳng như ruột ngựa. Ta cùng Lương huynh sát cánh cùng ngài ấy mười mấy năm trời, trận đánh nào có ngài ấy tiên phong, quân ta tất chiếm được sĩ khí.

Tường San nói:

-Ngài ấy quả là một mãnh tướng!

Nguyễn Sơn vỗ vai Tường San, thủ thỉ:

-Ngươi cứ ra trận chém địch, lập nhiều chiến công, tất ngài ấy sẽ bẩm báo lên Vệ Vương, ngươi sẽ không thiệt đâu!

Tường San gật đầu thuận theo. Càng uống rượu, nàng càng cởi mở hơn, dần trò truyện cùng ba vị tướng lĩnh như những bằng hữu lâu năm.

Tường San cảm thấy trong lòng vô cùng hạnh phúc, được sống trong giấc mơ ấp ủ bấy lâu của chính mình. Có nằm mơ nàng cũng không nghĩ rằng, mình được ra trận giết địch, uống rượu hàn huyên cùng những tướng lĩnh lừng lẫy bốn phương như vậy.

Trong phút chốc, Tường San nghĩ về công tử Sóc, lòng tự nhủ:

"Gia nhập binh ngũ nước Vệ quả là một trải nghiệm tuyệt vời, nhưng ta đã hứa với Sóc huynh, sau này nhất định sẽ gia nhập hàng ngũ nước Yên, phò tá huynh ấy!"

Uống nhiều tuần rượu, tất cả đã ngà say. Trương Siêu nói:

-Trước nay ta thật bốc đồng, ra mặt chống đối Nguyên soái. Hôm nay tận mắt chứng kiến ngài ấy dùng mưu kế phá tan quân địch, điều binh khiển tướng như thần, lòng cảm thấy xấu hổ!

Nguyễn Lương xua tay, nói:

-Hiểu lầm rồi hóa giải thì càng bền chặt, ngài hà tất phải nghĩ ngợi. Tướng quân là người được Vệ Vương và Thừa tướng gửi gắm, trao trọng trách, tất không thể là kẻ tầm thường!

Nguyễn Sơn đồng tình:

-Phải, ta rất phục Nguyên soái, ta tin rằng ngài ấy sẽ giúp đại quân thắng lợi vang dội trở về!

Trương Siêu rót đầy chén rượu cho tất cả, rồi cùng nâng lên, nói:

-Chúng ta một lòng đoàn kết, theo lệnh Nguyên soái trên chiến trường, đem về thắng lợi, báo thù cho chúa công, tất chúa công sẽ mừng lắm!

Tất cả đồng thanh rồi cùng cạn chén:

-Phải lắm!

Mã Sinh sau khi đại bại trở về, đóng cửa thủ trong thành, cùng lúc gửi thư về cho Đinh Vương cầu tiếp viện.

Đinh Vương nhận được thư của Mã Sinh, lo lắng:

-Đến Mã Sinh còn đại bại như vậy, quân Vệ hùng mạnh tới vậy sao?

Thừa tướng Lê Cung đáp:

-Nguyên soái mới của nước Vệ quả không tầm thường, chúa công phải cứu nguy ngay mới được!

Đinh Vương hỏi:

-Ta sẽ tiếp thêm ba vạn binh nữa, quyết cố thủ nước Yên. Có điều Mã Sinh vừa đại bại, chỉ sợ không cự lại Hàn Toại, nay ta muốn cử kẻ khác thống lĩnh đại quân, khanh nghĩ xem liệu ai phù hợp?

Lê Cung đáp:

-Tình thế vô cùng cấp bách, mất Yên thì Đinh nguy to! Thần nguyện ra chiến trận khích lệ tinh thần Mã Sinh, một mặt bày mưu cùng hắn đấu lại Hàn Toại!

Đinh Vương mừng:

-Thừa tướng đích thân ra chiến trận ta an tâm lắm! Ta giao binh mã cho khanh, lập tức tới hội quân cùng Mã Sinh đánh lui quân Vệ!

Lê Cung thưa:

-Tuân mệnh!

Lê Cung nhanh chóng tập hợp ba vạn lính tinh nhuệ nước Đinh, lập tức khởi hành tới nước Yên.

Nghe Thừa tướng ra tiền tuyến, Mã Sinh cùng các tướng lĩnh kính cẩn ra đón.

Mã Sinh quỳ xuống trước Lê Cung, thưa:

-Bẩm Thừa tướng, là do mạt tướng vô năng làm quân ta thua trận. Thực không còn mặt mũi gặp Thừa tướng và chúa công!

Lê Cung trấn an rằng:

-Thắng bại là chuyện thường của nhà binh! Giờ không phải là lúc ngươi tự trách mình, cùng ta tìm cách hóa giải cái tên Hàn Toại ấy!

Mã Sinh thưa:

-Thừa tướng dạy rất phải!

Lê Cung hỏi Mã Sinh:

-Qua mấy trận đánh, Hàn Toại là kẻ thế nào?

Mã Sinh nói:

-Hàn Toại là kẻ rất giỏi trong việc đánh lừa người khác, chính hắn bày mưu cài trá binh vào quân ta, rồi phao tin mâu thuẫn nội bộ, khiến mạt tướng chủ quan khinh địch, mắc mưu hắn. Kẻ này tuyệt đối không thể khinh suất!

Lê Cung vuốt râu, nói:

-Theo lời ngươi nói, hắn giỏi chơi đòn tâm lý, vậy thì ta sẽ cho hắn hiểu thế nào là thâm độc!

Mã Sinh hỏi:

-Thừa tướng tính thế nào?

Lê Cung đáp:

-Muốn phá Hàn Toại, không nên đấu sức chính diện. Kẻ này giỏi mưu biến, càng loạn càng mạnh, muốn thắng, phải dùng độc kế. Cứ để ta quan sát quân Vệ thêm vài ngày, tất sẽ nghĩ ra cách!

Sau nhiều ngày quan sát, Lê Cung phát hiện quân của Hàn Toại tuy thiện chiến nhưng rất coi trọng dân chúng vùng biên, thường cho quân bảo vệ thôn làng để giữ lòng người. Biết được điểm ấy, Lê Cung liền nảy ra một độc kế cực kỳ tàn nhẫn.

Lê Cung bí mật sai quân Yên giả dạng tàn binh nước Vệ, ban đêm chia nhau tập kích các thôn xóm nằm gần doanh trại quân Vệ. Chúng phóng hỏa đốt nhà, giết cả dân thường lẫn gia súc, rồi cố ý để lại cờ hiệu và binh khí của quân Vệ trước khi rút đi. Chỉ trong vài ngày, hàng chục thôn làng chìm trong biển lửa, tiếng khóc than vang khắp vùng biên cảnh.

Tin dữ lan truyền cực nhanh. Dân chúng vốn ủng hộ quân Vệ bắt đầu sinh lòng oán hận, cho rằng chiến tranh đã khiến họ lâm vào cảnh cửa nát nhà tan. Các hào tộc địa phương cũng dần dao động, không còn hết lòng tiếp tế lương thảo cho Hàn Toại nữa.

Nhưng đó vẫn chưa phải phần độc ác nhất, Lê Cung còn bí mật cho người đầu độc các giếng nước quanh vùng đóng quân của quân Vệ. Chất độc không làm chết ngay mà khiến binh sĩ sốt cao, tiêu chảy, tay chân mất sức sau vài ngày. Đợi đến lúc bệnh trạng lan rộng, y lại tung tin rằng trong quân Vệ xuất hiện ôn dịch trời phạt vì tội tàn sát dân lành.

Quân Vệ lập tức rơi vào hỗn loạn. Binh sĩ bắt đầu nghi kỵ lẫn nhau, dân chúng đóng cửa không tiếp tế, nhiều nơi còn âm thầm báo tin cho quân Yên để đổi lấy an toàn.

Khi các tướng Yên hỏi vì sao phải dùng thủ đoạn tàn độc đến vậy, Lê Cung chỉ chậm rãi đáp:

-Đánh một đạo quân không khó, thứ khó nhất là bẻ gãy lòng người phía sau đạo quân ấy. Một khi quân Vệ không còn dân chúng chống lưng, Hàn Toại dù có tài thao lược đến đâu cũng chỉ là con hổ đói mắc kẹt giữa đồng hoang.

Hàn Toại nhận thấy mọi chuyện xảy ra hoàn toàn không thể là trùng hợp, y biết quân Vệ tuyệt đối không làm những việc súc sinh như vậy. Hàn Toại nghĩ:

"Đây tất là độc kế của nước Đinh, Mã Sinh dù tinh quái nhưng hoàn toàn không thể nghĩ ra mưu kế hiểm độc như vậy! Nếu không phải hắn, thì là ai?"

Hàn Toại bèn sai người đi dò xét khắp nơi quanh vùng nước Yên xem có điều gì bất thường nhưng không phát hiện được gì. Lê Cung hoàn toàn che dấu tin tức về y, tuyệt đối không để lộ rằng mình xuất hiện ở tiền tuyến nước Yên.

Đêm ấy, đại doanh nước Vệ đóng bên bờ sông lạnh. Gió thổi qua rừng lau phát ra những âm thanh rì rào như tiếng người than khóc. Trong lúc quân sĩ đang thay phiên canh gác, bỗng đàn quạ đen từ đâu kéo tới, phủ kín cả bầu trời đêm. Chúng không bay loạn mà đậu thành từng hàng trên cột cờ đại doanh, đồng loạt quay đầu về hướng doanh trại nước Yên rồi cất tiếng kêu thê lương khiến ai nấy lạnh sống lưng.

Đúng canh ba, chiến mã trong trại bất ngờ hí vang không ngớt, nhiều con còn giật đứt dây cương, quỳ rạp xuống đất run rẩy như gặp phải thứ gì cực kỳ đáng sợ. Các lão binh từng chinh chiến nhiều năm đều biến sắc, nói rằng đây là điềm “Ác tinh nhập chiến địa”, dấu hiệu có kẻ đại gian đại ác bước vào chiến trường.

Giữa lúc lòng quân xôn xao, một tên lính gác hốt hoảng chạy vào trung quân bẩm báo rằng bên bờ sông vừa xuất hiện một chiếc thuyền giấy trắng khổng lồ trôi ngược dòng. Trên thuyền không có người chèo lái, chỉ treo duy nhất một ngọn đèn lồng màu máu lay động trong gió.

Hàn Toại đích thân bước ra xem. Nhưng khi đoàn người vừa tới nơi, chiếc thuyền giấy bỗng tự bốc cháy giữa mặt sông tối đen. Ngọn lửa xanh lập lòe cháy không tiếng động, soi rõ trên mạn thuyền có viết tám chữ bằng máu:

“Độc sĩ nhập cục, vạn quân khó toàn!”

Ngay sau đó, chiếc thuyền chìm xuống nước, biến mất không dấu vết.

Các tướng trong doanh đều kinh hãi, cho rằng đây là điềm dữ. Chỉ riêng Hàn Toại đứng lặng hồi lâu, y chậm rãi siết chặt chuôi kiếm rồi trầm giọng:

-Kẻ tới lần này… không phải hạng tầm thường!

Dương Minh hỏi:

-Cớ sao Nguyên soái lại cho rằng có kẻ nào tới?

Hàn Toại đáp:

-Quạ tụ đầu doanh, quỷ hỏa giữa sông, chính là đang báo trước sự xuất hiện của kẻ này!

Dương Minh ngẫm nghĩ hồi lâu, nói:

-Xét về mưu trí và tàn độc, kẻ ấy chỉ có thể là Thừa tướng Lê Cung của nước Đinh!

Hàn Toại gật đầu:

-Chính hắn!

Trương Siêu tức giận, quát:

-Hắn chính là kẻ đã gièm pha Đinh Vương hại cả dòng họ của chúa công!

Hàn Toại siết chặt nắm đấm, quả quyết:

-Một tên súc sinh như vậy, nếu ta không lấy đầu hắn về cho chúa công, thì còn mặt mũi nào nữa!
 
Chương 76: Mối thâm thù của Lê Cung đối với Hạo Vũ, Hàn Toại hóa giải độc kế

HanToai tren chien truong.png


*Ba mươi năm trước

Trần Thọ được Nam Chiếu Vương giao cho nhiệm vụ đánh đất Phúc Lộc Châu, hứa rằng nếu Trần Thọ thành công thì lập tức phong hầu, tiếp quản nơi ấy.

Trần Thọ vốn là kẻ tâm cơ, nuôi ý định xưng bá một cõi từ lâu nên rất quyết tâm đánh Phúc Lộc. Lê Cung lúc bấy giờ là mưu sĩ, còn Hạo Vũ là tướng tiên phong dưới trướng Trần Thọ. Cả hai đều là bậc trung thần, nguyện chết theo phò tá Trần Thọ, Trần Thọ coi hai người như thể ruột thịt trong nhà.

Nhờ mưu trí của Lê Cung, dũng mãnh của Hạo Vũ, Trần Thọ trong vòng một năm đã đánh được Phúc Lộc Châu, cả thảy mười lăm thành trì. Giữ đúng lời hứa, Nam Chiếu Vương phong hầu cho Trần Thọ, lấy hiệu là Bá Hầu. Bá Hầu nhớ đến công lao của các trung thần, phong Lê Cung làm Thừa tướng, Hạo Vũ làm Đại tướng quân.

Thời trong doanh trại, Lê Cung thầm thích một người, tên Đài Trang. Nàng khoác tấm sa y mỏng màu đỏ sẫm, đứng dưới ánh đèn dầu của doanh trại, tựa như một đóa hoa lạc giữa chốn binh đao. Dung nhan kiều diễm, đôi mắt dài như làn thu thủy, khóe môi luôn phảng phất nét cười mê hoặc nhưng lại ẩn chút u buồn khó tỏ. Mái tóc đen dài buông xuống bờ vai trắng ngần, hương phấn nhàn nhạt theo gió lan giữa mùi máu tanh và khói lửa chiến trường.

Nàng vốn là doanh kỹ theo quân, ngày ngày đàn hát mua vui cho tướng sĩ. Nhưng giữa cảnh loạn lạc, vẻ đẹp ấy lại càng khiến người khác nao lòng. Mỗi khi tiếng tỳ bà cất lên trong đêm, binh lính ngoài trướng cũng lặng người lắng nghe, như quên mất mình đang ở giữa nơi gươm giáo nhuốm máu.

Ánh mắt nàng không chỉ có sự mềm mại của nữ nhân, mà còn mang vẻ từng trải của người đã chứng kiến quá nhiều cuộc chia ly nơi chiến địa. Chỉ cần khẽ nâng chén rượu, nghiêng đầu mỉm cười, cũng đủ khiến bao quân sĩ say mê, coi nàng như ánh trăng hiếm hoi giữa những tháng ngày chinh chiến lạnh lẽo.

Trong quân ngũ vốn ít nữ nhân, mà Đài Trang lại kiều diễm như vậy, khiến biết bao binh sĩ si mê nhưng chẳng dám lại gần. Ấy là vì Lê Cung vốn thích Đài Trang từ lâu, dặn rằng bất cứ ai động đến Đài Trang sẽ bị xử phạt nghiêm khắc, quân sĩ ai nấy không dám phạm.

Có lần một kẻ uống rượu say xỉn, lỡ chọc ghẹo Đài Trang khiến nàng xấu hổ, bỏ về trướng không lên múa. Lê Cung biết được việc ấy, cho người bắt kẻ đó ra bụi cây đánh thừa sống thiếu chết, thành kẻ tàn phế. Binh sĩ trong doanh đều kinh hãi, kể từ đó chẳng ai dám bén mảng gần chỗ Đài Trang.

Lê Cung lo từ cái ăn, chỗ ở thoải mái nhất cho Đài Trang, nàng ở trong doanh trại nhưng không thiếu thốn thứ gì. Lê Cung thường hay sai người dâng lụa quý, trang sức tặng cho Đài Trang nhưng nàng chẳng bao giờ nhận. Lê Cung nhiều lần cố bắt chuyện với Đài Trang, nhưng nàng chỉ đáp vài câu rồi xin lui. Nàng càng tỏ ra lạnh lùng, kiêu kỳ bao nhiêu thì Lê Cung càng si mê nàng bấy nhiêu. Trong đầu Lê Cung, có hai việc đại sự quan trọng nhất, đó là phò tá Trần Thọ và có Đài Trang làm vợ. Việc thứ nhất y làm rất tốt, nhưng việc thứ hai y không sao thực hiện được. Lê Cung nhận ra rằng, tài trí của mình có thể giúp được chúa công, được chúa công trọng dụng, tin tưởng. Nhưng tuyệt nhiên cái tài trí ấy không thể chinh phục được trái tim người doanh kỹ.

Trái với thái độ lạnh nhạt đối với Lê Cung, Hạo Vũ lại khiến Đài Trang xao xuyến mỗi khi trông thấy. Nàng thích cái vẻ uy nghiêm, oai phong lẫm liệt của Vũ. Nàng ngưỡng mộ những vị tướng quân anh dũng chém địch, tung hoành ngang dọc nơi sa trường.

Mỗi khi Đài Trang múa, nàng thỉnh thoảng lại đưa mắt về phía Hạo Vũ, chứa đầy tình ý. Hạo Vũ vốn là người phong lưu, tuy không có tình ý với Đài Trang nhưng y thích được nữ nhân theo đuổi. Hơn nữa, một bóng hồng xinh đẹp hiếm hoi trong doanh trại khiến Hạo Vũ cũng chú ý đến nàng.

Một hôm, sau khi Đài Trang múa xong, Lê Cung toan bước tới hỏi thăm nàng thì Đài Trang hướng mắt về phía Hạo Vũ, thấy Hạo Vũ tiến tới, nàng nở nụ cười rạng rỡ, dường như ngó lơ Lê Cung.

Hạo Vũ hỏi:

-Hôm nay nàng múa rất đẹp, ta ngồi đây không rời mắt được chút nào!

Đài Trang cười ngượng ngùng, đáp:

-Tướng quân khen vậy khiến thiếp vui lắm!

Hạo Vũ trò chuyện cùng Đài Trang hồi lâu, hai người tỏ ra rất tương đồng ý hợp. Lê Cung chứng kiến toàn bộ cảnh ấy, trong lòng sinh ghen tuông với Hạo Vũ. Dần dần, sự ghen tuông của Lê Cung càng lúc càng lớn, y biết trong lòng Đài Trang chỉ có Hạo Vũ.

Trong khoảng thời gian ấy, Hạo Vũ liên tiếp lập công lớn, được Trần Thọ đối đãi rất hậu, nhiều lúc còn bỏ qua Lê Cung mà khen ngợi Vũ. Lê Cung tức lắm, hai người y coi là quan trọng nhất đối với mình, đều yêu mến Hạo Vũ. Từ ghen tuông, Lê Cung chuyển sang ghét Hạo Vũ ra mặt, y thường phản bác ý kiến của Vũ, sau lưng thì gièm pha Vũ với Trần Thọ. Trong thời gian chiến sự, Trần Thọ bỏ ngoài tai những lời gièm pha của Lê Cung về Hạo Vũ, y rất cần một vị tướng quân trăm trận trăm thắng như Vũ.

Đêm nọ, Hạo Vũ uống rượu say xỉn, đi qua trướng của Đài Trang thì trượt chân ngã xuống đất. Đài Trang bên trong nghe thấy tiếng động, trở ra thì thấy Hạo Vũ. Nàng vội đỡ Hạo Vũ dậy, hơi thở y nồng nặc mùi rượu, Hạo Vũ lẩm bẩm:

-Sao nàng lại đỡ ta, ta đường đường là một tướng quân, sao để nữ nhân như nàng làm vậy!

Nói rồi Hạo Vũ loạng choạng chống tay đứng dậy, nom rất vất vả. Đài Trang trông thấy cảnh tượng ấy, bật cười thành tiếng. Nàng nói:

-Không ngờ có ngày một tướng quân anh dũng như chàng lại khó khăn đứng dậy như vậy!

Hạo Vũ nghe thế cười lớn, ngước mặt lên nhìn Đài Trang, vẻ xinh đẹp của nàng trong mắt người say dường như cường đại lên nhiều lần. Hạo Vũ chợt thốt lên:

-Hôm nay nàng đẹp quá!

Đài Trang trong lòng mừng lắm, mời Hạo Vũ ghé chỗ mình hàn huyên, Vũ nhận lời. Đài Trang đem một bình rượu quý ra mời Hạo Vũ, y nói:

-Nàng muốn chuốc ta say thêm sao?

Đài Trang đáp:

-Thiếp biết tướng quân rất thích mỹ tửu!

Hạo Vũ gật đầu, cùng Đài Trang uống rượu hàn huyên đến tận khuya. Lúc bấy giờ hai người đều say sưa, Hạo Vũ bèn dùng tay đưa lên trán, vuốt mái tóc Đài Trang, nhìn ngắm rất mê mẩn. Đài Trang trong lòng hạnh phúc tột cùng, người trong mộng của nàng rốt cuộc đã ở cùng nàng đêm nay. Hai người ân ái mặn nồng, thời gian như thể ngừng trôi, tâm hồn hai con người ấy như thể hòa làm một.

Đài Trang sau đó đem lòng yêu Hạo Vũ, thế nhưng nàng không thể ngờ rằng, Hạo Vũ chẳng đáp lại nàng như đêm hôm ấy. Tâm trí Hạo Vũ chỉ hướng về chiến trường, quyết lập công lớn cho đại quân. Đài Trang biết Hạo Vũ còn có đại sự phải lo, thế nhưng nàng vẫn cảm thấy hụt hẫng khó tả.

Sau khi đại thắng Phúc Lộc Châu, Trần Thọ cho tướng sĩ nghỉ ngơi, hưởng thụ sau quãng thời gian dài chinh chiến. Được phong làm Thừa tướng, đức cao vọng trọng, Lê Cung tưởng rằng với cương vị dưới một người, trên vạn người, y sẽ chiếm được cảm tình của Đài Trang.

Một hôm, Lê Cung cho người đem quà cáp, bảo vật hiếm có đến tặng cho Đài Trang. Nàng trong lòng không muốn tiếp nhưng vì Thừa tướng tới thăm mà không ra nghênh đón thì quả là vô lễ, không coi phép trên ra gì.

Lê Cung gặp Đài Trang, lòng vẫn không khác thời còn trong quân ngũ. Lê Cung trò chuyện cùng nàng đôi ba câu, y nói:

-Bản quan dưới một người, trên vạn người, quyền khuynh triều dã. Chỉ cần nàng gật đầu theo ta, từ nay gấm vóc lụa là mặc không hết, vàng bạc châu báu dùng chẳng cạn. Kẻ hầu người hạ đứng đầy trước cửa, ngày ngày ngồi xe ngọc, ở phủ lớn trăm gian, nào còn phải đàn hát mua vui cho kẻ khác?

Đài Trang khẽ cúi đầu, khóe môi mang theo nụ cười dịu dàng mà xa cách, nàng nói:

-Thừa tướng đại nhân ưu ái, tiểu nữ thật không dám nhận!

Lê Cung nghiêng người, giọng nói càng thêm mềm mỏng:

-Thiên hạ này có biết bao nữ nhân mong bước vào phủ Thừa tướng mà không được. Còn nàng, chỉ cần gật đầu một cái, bản quan đảm bảo đời này nàng sẽ chẳng thiếu thứ gì!

Đài Trang đáp:

-Chỉ tiếc, người như đại nhân vốn nên sánh cùng phượng các kim chi, còn tiểu nữ chỉ là kẻ phong trần giữa loạn thế. Nếu thật bước vào phủ Thừa tướng, e rằng chỉ khiến người ngoài dị nghị, làm tổn hại thanh danh của ngài!

Lê Cung cả giận, mắng:

-Chỉ vì nàng đem lòng yêu cái tên Hạo Vũ phải không?

Đài Trang nói:

-Hạo Vũ tướng quân là bậc chí nhân quân tử, công lao to lớn không kể xiết, cớ sao tiểu nữ dám trèo cao!

Lê Cung nghe thế càng tức hơn, đùng đùng bỏ về.

Năm ấy, biên ải Phúc Lộc Châu có đám tàn dư triều cũ, gom lại được hơn tám ngàn, đóng ở phía bắc, nung nấu lật đổ Bá Hầu. Bá Hầu trong lòng lo lắng, bèn lệnh Hạo Vũ đem quân đi dẹp giặc cỏ.

Một tuần trước khi khởi binh, Hạo Vũ bắt gặp Đài Trang ở kinh kỳ, nhớ lại tình xưa, Hạo Vũ đi tới chào hỏi. Đài Trang gặp lại Hạo Vũ, lòng không đổi, cùng Hạo Vũ dạo bước trên đường xá đông đúc. Hai người ôn lại chuyện cũ, từ thời trong trại doanh. Trong tâm trí Đài Trang, chỉ có giây phút được ở bên cạnh Hạo Vũ, nàng mới cảm thấy thực sự hạnh phúc.

Hạo Vũ ở cùng Đài Trang ba ngày ba đêm không rời, tình mặn nồng như tuổi đôi mươi. Đài Trang nói với Hạo Vũ:

-Thiếp làm nghề ca kỹ, danh phận thấp kém, không thể sánh với chàng. Nào ngờ được chàng quan tâm, ở bên như vậy, thiếp mãn nguyện lắm!

Hạo Vũ đáp:

-Nàng đừng nói vậy, nàng có tài ca múa thiên phú, không dùng quả rất uổng phí. Nàng dùng tiếng hát làm mê đắm lòng người, cớ sao lại gọi là danh phận thấp kém được. Đối với ta, không quan trọng xuất thân hay địa vị, chỉ cần ở bên nàng vui thì ta chẳng hề câu nệ.

Đài Trang mừng, hỏi:

-Vậy, thiếp mạo muội hỏi chuyện này, xin tướng quân chớ trách tội!

Hạo Vũ đáp:

-Nàng cứ nói ta nghe!

Đài Trang nhỏ nhẹ:

-Thiếp và chàng đều là trai chưa vợ, gái chưa chồng, nếu chàng không màng địa vị của thiếp, liệu có cơ duyên kết bái phu thê chăng?

Hạo Vũ xoa đầu Đài Trang, thủ thỉ:

-Ta thực lòng cũng muốn, nhưng ta sắp phải lên đường tới biên ải dẹp giặc cỏ, sợ lâu ngày mới trở về!

Đài Trang nói:

-Không sao, thiếp sẽ đợi!

Hạo Vũ ngập ngừng, nói:

-Ta là người nói là làm, nhưng chiến sự liên miên không lường được, chỉ sợ nàng khổ, ta không dám hứa trước!

Đài Trang tựa đầu vào vai Hạo Vũ, nói:

-Chàng coi trọng lời hứa như vậy là phải! Chàng không cần hứa hẹn gì cả, chỉ cần bình an trở về, nhớ tới thiếp là được!

Hạo Vũ đồng tình, hàn huyên cùng Đài Trang đủ thứ trên đời.

Gần ngày khởi binh, Hạo Vũ từ biệt Đài Trang. Kể tử ấy, Đài Trang ngày ngày nhớ nhung Hạo Vũ, chờ tới lúc chàng trở về, để được gặp lại chàng.

Phiến quân càng lúc càng tập hợp được thêm nhiều người, hoạt động rải rác trên rừng núi, khiến Hạo Vũ phải mất hai năm trời ở biên ải mới dẹp hết được. Trong khoảng thời gian ở biên ải, Hạo Vũ quen được nữ nhân của đời mình, coi nàng là tri kỷ. Nàng tên Như Ngọc, là con gái của một vị thương nhân giàu có nhất vùng La Thạch. Vị thương nhân cũng tác thành cho hai người, ai cũng khen là một cặp trai tài gái sắc, môn đăng hộ đối.

Sau khi đại thắng trở về, Hạo Vũ tổ chức lễ cưới linh đình, Bá Hầu cùng tất thảy bá quan đại thần đều tham dự, chúc phúc cho Hạo Vũ. Đài Trang biết tin ấy, lòng đau như cắt, bao nhiêu năm tháng nàng chờ, chờ Hạo Vũ đến mòn mỏi, nhiều lúc tủi thân khóc một mình. Nay tin như sét đánh bên tai, nàng không thiết gì nữa, ngày không ăn, đêm không ngủ.

Ngày lễ thành hôn, Đài Trang dặn lòng tới chúc phúc cho Hạo Vũ, muốn nhìn thấy y thêm một lần nữa. Nàng đứng lặng giữa dòng người đông đúc trước phủ tướng quân, nghe tiếng chiêng trống thành hôn vang vọng khắp con phố dài.

Nhiều năm qua, nàng từng nghĩ chỉ cần mình đủ kiên nhẫn, đủ dịu dàng, cuối cùng cũng sẽ có ngày bước vào lòng y. Từ những tháng ngày Hạo Vũ còn chinh chiến nơi biên ải, nàng đã luôn âm thầm chờ đợi. Chờ một bức thư, chờ một lần ngoảnh lại, chờ Hạo Vũ hiểu được tấm chân tình mình ấp ủ bao năm.

Thế nhưng hôm nay, khi tận mắt nhìn thấy Hạo Vũ nắm tay tân nương bước qua cổng phủ, nàng mới hiểu, có những thứ cả đời này vốn không thuộc về mình.

Hạo Vũ vẫn là Hạo Vũ của năm xưa, dáng người hiên ngang, ánh mắt trầm ổn, khí chất khiến người khác chẳng thể rời mắt. Nhưng ánh nhìn Hạo Vũ dành cho nữ nhân bên cạnh lại hoàn toàn khác, đó là ánh mắt của cặp tri kỷ, đầu bạc răng long. Năm ấy khi nhìn nàng, trong mắt Hạo Vũ chỉ có sự ôn hòa và thương tiếc dành cho một hồng nhan cô độc giữa loạn thế.

Còn giờ khắc này, ánh mắt Hạo Vũ nhìn tân nương lại là sự thấu hiểu khắc tận đáy lòng. Chỉ một cái nghiêng đầu rất khẽ, một nụ cười nhạt nơi khóe môi, cũng đủ cho người ngoài nhận ra hai người ấy vốn là tri kỷ trời định. Không cần nói nhiều, chỉ cần đứng cạnh nhau cũng giống như đã hiểu hết tâm ý đối phương. Nàng bỗng thấy sống mũi cay lên, thì ra thứ nàng chờ đợi suốt nhiều năm, chưa từng là tình yêu của Hạo Vũ. Bởi người thật sự được Hạo Vũ yêu, ánh mắt nhìn, hoàn toàn khác, còn với nàng... chỉ là cảm xúc nhất thời.

Đài Trang lặng lẽ rời đi, lòng buồn bã nhiều ngày, đâm đổ bệnh nặng, không lâu sau thì mất. Lê Cung biết tin Đài Trang qua đời, lòng đau như cắt. Y đích thân tới đám tang của Đài Trang, phong phanh nghe được vì Hạo Vũ mà nàng buồn rầu sinh bệnh. Lê Cung lòng căm ghét Hạo Vũ vô cùng, kể từ đây, Lê Cung quyết tìm cách hại bằng được Hạo Vũ.

Lê Cung vạch ra cả một kế hoạch công phu gây chia rẽ lòng tin của Bá Hầu đối với Hạo Vũ. Y thêu dệt nên những câu chuyện xấu, gièm pha Hạo Vũ với tần suất ngày một nhiều, khiến Bá Hầu cũng dần bớt tin tưởng Hạo Vũ.

Sau thời gian dài, kế hoạch trả thù của Lê Cung cũng thành. Bá Hầu nghe Lê Cung gièm pha, sợ thanh thế của Hạo Vũ, trong tay nắm binh quyền và lòng dân, tất có ngày sinh phản loạn, bèn tìm cách trừ khử Hạo Vũ. Ba đời họ Hạo bị Lê Cung hại chết, chỉ vì nỗi si tình ích kỷ của y.

Người đời than rằng:

"Hồng nhan năm cũ, mộng chưa thành,
Một dạ chờ người, giữa chiến chinh.
Nào ngờ tướng phủ, xe hoa rước,
Ôm hận thành sầu, bạc mệnh xanh.

Lê Cung bởi oán, hóa tâm tà,
Mượn máu người dưng, trả ái hà.
Tam tộc Hạo Vũ, đều muốn diệt,
Anh hùng sao dạ, giống gian ma."

*Hiện tại

Đối mặt với độc kế của Lê Cung, Hàn Toại không vội thanh minh với thiên hạ, bởi y biết trong chiến tranh, lời nói không thắng nổi nỗi sợ. Muốn phá kế của Lê Cung, phải dùng chứng cứ khiến lòng người tự quay lại.

Hàn Toại lập tức hạ lệnh phong tỏa toàn bộ doanh trại, cấm quân sĩ tự ý rời doanh sau giờ Tuất. Đồng thời bí mật chọn ra một đội ảnh vệ, toàn là lão binh tinh nhuệ, thay thường phục trà trộn vào các thôn làng quanh vùng để theo dõi tung tích những toán quân Vệ giả.

Quả nhiên đến đêm thứ ba, một toán người mặc giáp quân Vệ lại xuất hiện phóng hỏa một ngôi làng gần chân núi. Nhưng lần này, ảnh vệ đã mai phục từ trước. Sau một hồi truy sát, họ bắt sống được vài tên chưa kịp tự sát. Khi lột giáp ra, bên trong lộ rõ hình xăm quân Yên trên cánh tay.

Hàn Toại lập tức đem tù binh cùng binh khí giả mạo đi khắp các thôn xóm cho dân chúng tận mắt nhìn thấy. Những lời đồn trước đó bắt đầu sụp đổ. Dân chúng vốn căm phẫn quân Vệ nay chuyển sang oán hận nước Yên vì thủ đoạn độc ác.

Khi quân sĩ trong doanh liên tục ngã bệnh, nhiều tướng cho rằng thật sự xuất hiện ôn dịch. Chỉ riêng Hàn Toại cảm thấy quá trùng hợp. Y nhớ tới việc tất cả bệnh binh đều thuộc các doanh trại dùng chung vài nguồn nước nhất định. Vì thế y sai quân y mang chó săn và gia súc tới thử nước giếng. Chỉ sau một đêm, toàn bộ súc vật đều lăn ra chết, Hàn Toại lập tức hiểu ra, có kẻ đầu độc nguồn nước.

Hàn Toại không công khai việc này mà cố tình giả vờ để quân doanh tiếp tục hỗn loạn. Ban ngày y cho người vận chuyển bệnh binh ra ngoài doanh như thể quân Vệ đã suy sụp thật sự. Ban đêm lại bí mật đổi toàn bộ nguồn nước, đồng thời cho quân sĩ khỏe mạnh mai phục quanh tuyến vận lương.

Quả nhiên vài ngày sau, Mã Sinh tưởng thời cơ đã tới, lập tức dẫn kỵ binh tập kích hậu doanh quân Vệ theo đúng kế hoạch của Lê Cung. Nhưng khi quân Yên vừa xông vào khu vực vận lương, bốn phía đột nhiên trống trận vang dội. Hỏa đuốc sáng rực cả núi rừng.

Toàn bộ doanh bệnh vốn giả vờ suy yếu bất ngờ cầm giáo đứng dậy. Hàn Toại đã sớm bố trí trọng binh mai phục từ trước. Kỵ binh nước Yên đang lao nhanh không kịp xoay trở, lập tức bị cự mã và dây ngáng ngựa làm đội hình tan vỡ. Đúng lúc ấy, Hàn Toại cưỡi ngựa từ sườn núi xuất hiện, lạnh lùng nhìn chiến trường rồi nói:

-Lê Cung thích dùng mưu hèn kế bẩn, thì nay ta cho nếm mùi gậy ông đập lưng ông!

Theo hiệu lệnh, quân Vệ từ ba phía đồng loạt đổ xuống phản kích. Quân Yên vốn tưởng đối phương đã kiệt quệ nên hoàn toàn rơi vào bẫy, bị đánh tan tác suốt một đêm, chết nhiều không đếm xuể.
 
Sửa lần cuối:
Chương 77: Hàn Toại thừa thắng công vào nước Yên, Tương Vương bỏ chạy

Le Cung.png


Sau trận đại bại ấy, quân Yên sĩ khí rệu rã, liên tiếp bỏ chạy về tuyến thành phía bắc cố thủ. Hàn Toại hiểu rõ thời cơ đã tới, lập tức hạ lệnh toàn quân không nghỉ, thừa thắng truy kích suốt ngày đêm. Đại quân nước Vệ kéo đi như nước lũ vỡ bờ, cờ che kín cả đồng nội, tiếng trống trận vang dội liên miên khiến các thành trấn ven đường của nước Yên chưa đánh đã loạn.

Điều khiến quân Yên kinh hãi nhất chính là thứ vũ khí công thành mới do Trần Thái chế tạo. Đó là những cỗ “Phích Lôi Xa” khổng lồ dựng bằng gỗ lim và đồng đen, dùng sức kéo của hàng trăm quân sĩ để vận hành. Mỗi lần cỗ xa khổng lồ vung lên, đá tảng bọc dầu cháy lập tức xé gió lao tới như thiên thạch, đập nát tường thành trong tiếng nổ kinh hoàng. Có nơi cả đoạn tường thành bị đánh sập chỉ sau vài canh giờ.

Ngoài ra, Trần Thái còn cho chế tạo những tháp công thành cao hơn mặt thành vài trượng, bên ngoài phủ da trâu tẩm nước chống hỏa tiễn. Quân Vệ theo tháp tiến sát chân thành, mưa tên bắn phủ kín đầu tường khiến quân Yên không dám ló mặt.

Trên chiến địa, Hàn Toại thân mặc giáp bạc đứng giữa trung quân, lạnh lùng nhìn từng lớp quân Vệ như sóng lớn tràn vào thành trì nước Yên. Theo tiếng tù và vang lên, hàng chục cỗ Phích Lôi Xa đồng loạt khai hỏa. Đá lửa đỏ rực bay kín trời đêm, kéo theo những vệt sáng dài như sao sa "Ầm! Ầm! Ầm!".

Cổng thành phía đông của Trường Khê rung chuyển dữ dội, từng mảng tường lớn vỡ nát rơi xuống. Quân Yên phía trên bị đá tảng nghiền thành máu thịt, tiếng kêu la vang vọng khắp thành. Dù Mã Sinh, Cư Sĩ liên tục điều quân lấp chỗ thủng, dựng lá chắn, đẩy xe chặn cửa thành, nhưng vừa dựng lên liền bị máy công thành của Trần Thái phá nát.

Khói lửa bao phủ khắp nơi. Các tướng Yên nhiều lần dẫn quân phản kích ra ngoài thành nhưng đều bị cung nỏ và kỵ binh nước Vệ đánh bật trở lại. Đến ngày thứ năm, trên tường thành đã xuất hiện vô số khe nứt lớn như mạng nhện, quân thủ thành ai nấy đều kiệt sức, nhiều nơi bắt đầu xảy ra đào ngũ.

Đứng trên lầu thành nhìn biển cờ nước Vệ cuồn cuộn ngoài xa, Cư Sĩ siết chặt lan can đến bật máu tay, hắn chưa từng nghĩ có ngày quân Yên lại bị ép đến mức này.

Còn trong đại doanh nước Vệ, Hàn Toại chậm rãi nói với các tướng lĩnh:

-Thành này không giữ nổi quá mười ngày!

Dương Minh nói:

-Những vũ khí mới của Trần Thái thật lợi hại, dùng việc công thành như có thần khí hộ pháp!

Hàn Toại đáp:

-Nước Vệ thật may mắn khi có Trần Thái, hắn giúp quân ta giảm biết bao thiệt hại và công sức.

Trương Siêu nói:

-Nguyên soái cứ hạ lệnh, ba người bọn ta hợp quân thừa sức đánh thành trong năm ngày!

Nguyễn Lương đồng tình:

-Trương Siêu nói phải lắm! Quân địch đang hoảng sợ, chúng ta thừa thắng đánh thật rát, tất Yên phải sập!

Hàn Toại gật đầu, nói:

-Nếu chư vị tướng lĩnh đã quyết tâm như vậy thì tốt! Nghe lệnh ta, ngày đêm công thành, quyết lấy Trường Khê trong năm ngày!

Toàn bộ chư tướng đều hướng ứng, khí thế cuồn cuộn.

Ở trong thành nước Yên, Mã Sinh và Lê Cung họp bàn cùng các tướng lĩnh, ai nấy đều vô cùng bi quan và chán chường.

Cư Sĩ nói:

-Khí thế quân Vệ như sóng cuộn, quân ta không sao cự được!

Mã Sinh nói:

-Bọn chúng có những cỗ xa quá khủng khiếp, nếu không thì quân ta vẫn có thể trụ thêm nhiều tuần!

Lê Cung lúc bấy giờ đã vỡ lẽ, Hàn Toại hoàn toàn vượt xa trí tưởng tượng của y. Lê Cung biết rằng sẽ khó dùng mưu trí khuất phục được kẻ này.

Lê Cung lắc đầu, nói:

-Cứ tình hình này, trong vài ngày tới Trường Khê tất mất. Quân Yên đã dồn tất cả tại đây rồi, mất Trường Khê thì sẽ mất Cai Ốc, Đình Thu, nội trong một tháng Yên về tay Vệ.

Cư Sĩ thất vọng:

-Chẳng lẽ không còn cách nào sao?

Lê Cung nói:

-Quân Vệ áp đảo, Hàn Toại mưu trí thâm sâu, ngay cả độc kế của ta cũng bị hắn lợi dụng để mai phục. Cơ hội đánh trả quân Vệ lúc này đã không còn, tốt nhất chúng ta về bẩm Yên Tương Vương chạy trốn về nước Đinh, tìm cơ hội phục thù sau cũng chưa muộn!

Cư Sĩ hỏi:

-Vậy còn bách tính nước Yên thì tính sao?

Lê Cung đáp:

-Cứ để họ lại trong thành, Hàn Toại là kẻ quân tử, tất sẽ không tàn sát dân lành, ngươi cứ an tâm!

Cư Sĩ cả giận, quát:

-Các ngươi toàn là một lũ hèn nhát, chỉ giỏi bày độc kế hèn hạ, đến khi biến cố thì cuốn xéo về nước. Các ngươi cút đi, ta đây có chết cũng phải bảo vệ bờ cõi nước Yên!

Nói xong quay mặt bỏ ra ngoài.

Lê Cung và Mã Sinh tới cung Hàn Đăng, tâu với Yên Tương Vương:

-Tình hình chiến sự không xong rồi, quân Vệ khí thế hừng hực, quân Yên, Đinh hai nước không sao cản được. Nay thành trì tất mất, chỉ bằng ngài cùng bọn ta chạy về nước Đinh giữ mạng thì hơn!

Yên Tương Vương khuôn mặt đầy lo lắng, nói:

-Ta mới ở ngôi chưa đầy hai tháng, mà đã phải chịu cảnh mất nước thật sao?

Lê Cung nói:

-Nếu Tương Vương giữ được mạng, tất sau này còn cơ hội phục quốc, xin Tương Vương suy nghĩ thấu đáo!

Yên Tương Vương cho là phải, bèn sai người chuẩn bị xe ngựa, đưa hoàng tộc cùng các quan đại thần chạy về nước Đinh. Quan triều thần nước Yên hỗn loạn, kẻ thì theo Yên Tương Vương chạy trốn giữ mạng, người thì quyết ở lại chiến đấu đến cùng.

Những quan khi trước ủng hộ công tử Sóc than rằng:

-Nếu công tử Sóc kế vị, mọi chuyện có lẽ không xảy ra như bây giờ!

Có người lại nói:

-Các ngài chớ nên quá đau buồn, công tử Sóc được Vệ Vương trợ giúp, tất sẽ lấy lại ngôi báu!

- Biết được Vệ Vương có giữ lời không, nhỡ hắn ta chiếm lấy nước Yên thì sao?

-Vệ Vương xưa nay là kẻ quân tử, trọng lời hứa, nhất định sẽ giúp công tử phục ngôi!

-Được vậy thì quá tốt, lòng ta đã phấn chấn hẳn lên!

-Công tử Sóc mà quản nước Yên thì giang sơn tất được thái bình!

Các quan triều thần đều cho là phải, không còn sợ hãi nữa, chờ đợi ngày công tử Sóc trở về.

Bách tính nước Yên xưa nay đều yêu quý công tử Sóc, nay nghe tin công tử Bạch bỏ trốn sang nước Đinh, lòng sinh oán ghét vô cùng. Họ bèn nghe theo các trưởng thôn, nếu quân Vệ vào thành sẽ không chống đối, xin hàng ngay lập tức.

Sau hai tuần lễ, lần lượt các thành trì của Yên đầu hàng, quân Vệ đi tới đâu thắng tới ấy, thế như chẻ che. Cư Sĩ cùng hơn vạn quân Yên tử trận ở thành Trường Khê. Hàn Toại khen Cư Sĩ rằng:

-Kẻ này có nghĩa khí hơn đám kia vạn lần!

Dương Minh viết thư báo về cho Vệ Vương, rằng chiến sự chuẩn bị kết thúc, Vệ sắp lấy được Yên.

Vệ Vương đọc được tin báo từ Dương Minh mừng rỡ, nói với công tử Sóc:

-Không ngờ Hàn Toại tiến công thần tốc như vậy, đúng là binh tiên tái thế!

Công tử Sóc cảm động, cúi mình bái tạ Vệ Vương:

-Ơn nghĩa của Vệ Vương Sóc sẽ ghi lòng tạc dạ!

Vệ Vương đáp:

-Công tử chớ nên đa lễ, ta sẽ sai các tướng lĩnh hộ tống công tử về nước Yên!

Mùa xuân năm 881, Vệ đại thắng Yên, quân Vệ tràn vào khắp các thành trì nước Yên. Hàn Toại dẫn binh tới đâu, dân chúng và quân lính đều xin hàng hết cả, chẳng tốn một chút sức lực. Điều đó rất dễ lý giải, vì lòng dân đã quá chán ghét Yên Tương Vương nên Hàn Toại mới có thể lấy Yên nhanh như vậy.

Hàn Toại sai quân lính tuyệt đối không được giết người vô tội, phá hoại nhà cửa, cướp bóc của dân, thậm chí còn giúp đỡ dựng lại nhà ở cho họ. Nhờ thế khắp nơi đều khen Hàn Toại là một vị tướng nhân nghĩa. Mặc dù Hàn Toại đánh chiếm đất nước của họ, nhưng tuyệt nhiên họ lại mừng rỡ trong lòng, quả là một nghịch lý. Dân Yên kháo nhau bài thơ rằng:

"Hàn Toại kéo đại quân sang
Cờ bay kín đất, tiếng vang dậy trời
Binh Yên nghe đã rã rời
Mở thành xin hàng khắp cõi gần xa

Dân gian truyền khắp sơn hà
Quân Vệ phò Sóc dựng nhà thái bình
Không mang đao kiếm hiếp dân
Chỉ mong thiên hạ yên phần ấm no

Đi đâu nghiêm lệnh truyền cho
Không được cướp bóc một kho thóc vàng
Kẻ nào trái lệnh ngang tàng
Quân pháp xử chém giữa hàng ba quân

Có nơi lửa cháy ngập đồng
Quân Vệ xuống ngựa đỡ dân dựng nhà
Có nơi mất vụ hạn qua
Mở kho phát gạo giúp già trẻ thơ

Bởi vì nhân nghĩa như mơ
Lòng dân nước Yên ngóng cờ quân Vệ
Thành kia chưa kịp gươm kề
Quan quân đã mở bốn bề xin quy

Một đoàn chinh phạt thần kỳ
Đi qua đâu cũng dân quỳ tiễn đưa
Tiếng ca vang khắp sớm trưa
Hàn công tới đó, thái bình tới theo."

Một hôm, Tử Trọng tới tâu với Vệ Vương, rằng:

-Chúa công chinh chiến nhiều năm, uy danh đã chấn động thiên hạ, kẻ địch đều kính sợ. Nhưng thần cho rằng, muốn định được giang sơn lâu dài thì không chỉ dựa vào binh mạnh tướng hùng, mà còn phải khiến lòng người trong thiên hạ thấy được nền tảng ổn định của xã tắc.

Vệ Vương hỏi:

-Thừa tướng nói rõ hơn xem!

Tử Trọng tiếp:

-Từ khi cố phu nhân qua đời, đã được bốn năm, chúa công vẫn chưa lập chính thất. Xưa nay bậc quân vương lập chính thất không chỉ là chuyện khuê các, mà còn là việc của quốc gia. Hậu cung có ngôi vị chính danh thì triều thần mới yên lòng, các thế tộc mới biết nơi gửi gắm niềm tin, dân chúng mới thấy vận nước đã có căn cơ lâu dài. Nếu danh phận trong cung chưa định, lòng người thiên hạ khó tránh khỏi lời bàn tán, các phe phái cũng dễ sinh tranh đoạt về sau.

Vệ Vương thở dài, nói:

-Sau cái chết của Phạm Thư, lòng ta vẫn chưa nguôi ngoai! Nhưng Thừa tướng nói rất phải, ta sẽ suy tính chuyện đó!

Chiều hôm ấy, Vệ Vương ngồi một mình ngắm hồ, lòng nhớ về Phạm Thư da diết. Y nghĩ về năm tháng bình yên thuở xưa, cùng gia đình nhỏ chung sống hạnh phúc biết bao. Tới nay y đã là vua một nước lớn mạnh, kẻ hầu người hạ, ở cung điện lộng lẫy, cung tần không thiếu. Thế nhưng Vệ Vương vẫn thiếu đi cảm giác có người đầu ấp tay gối, một người tri kỷ trò chuyện cùng nhau thâu đêm suốt sáng. Đã bốn năm trôi qua, Vệ Vương chưa từng mở lòng với ai, chợt nghĩ nếu y không phải là vương thì chẳng thiết nghĩ đến chuyện hôn nhân nữa.

Vệ Vương nhớ lại về quá khứ, từ lúc dòng họ bị diệt cho tới ngày hôm nay, quả là một quãng thời gian dài. Bỗng Vệ Vương chợt nhớ đến người con gái mà y từng hẹn ước năm xưa ở Hoan Châu, Trần Nguyệt Ánh. Vệ Vương thốt lên:

-Ta quả thực có lỗi với nàng ấy!

Vệ Vương nghĩ tới nghĩ lui, Trần Nguyệt Ánh tới giờ đã nhiều tuổi, ắt đã cưới vợ gả chồng, y không còn cơ hội để rước nàng về nữa. Vệ Vương sau đó quả quyết:

-Dù nàng có phu quân hay không, nhất định ta phải tới nhận lỗi với nàng!

Vệ Vương quyết định nhân dịp sang thăm nước Yên, tất sẽ ghé qua phủ họ Trần để gặp Trần Nguyệt Ánh, và cũng để gặp lại cố nhân Trần Lượng.

Công tử Sóc về nước Yên, dân chúng xếp hàng dài hai bên tiếp đón, lòng ai nấy đều hân hoan như Tết. Hàn Toại biết công tử Sóc trở về, cùng tướng lĩnh tới trước cổng thành nghênh đón.

Hàn Toại hành lễ:

-Bái kiến công tử!

Công tử Sóc mừng lắm, khen Hàn Toại:

-Ngài đánh hay lắm, Vệ Vương đúng là có mắt nhìn người! Sóc cảm tạ tướng quân lấy lại giang sơn nước Yên mà không làm tổn hại đến bách tính, xin nhận của ta một lạy!

Sóc toan cúi xuống lạy tạ thì Hàn Toại chợt bước tới ngăn cản, nói:

-Ta nhận lệnh của Vệ Vương, hưng binh đánh đuổi phản tặc, lấy lại công đạo cho nước Yên, âu cũng là chuyện nên làm, công tử chớ nên câu nệ. Công tử sắp làm vua một nước, chớ nên hạ mình như vậy!

Sóc cho là phải, cùng Hàn Toại tiến vào kinh thành.

Sóc nói với Hàn Toại:

-Tướng quân nếu được xin hãy ở lại Yên vài ngày, dự lễ đăng cơ của ta. Ta muốn tướng quân có mặt để khen thưởng công lao, công nhận tướng quân là anh hùng của nước Yên!

Hàn Toại cười, đáp:

-Công tử quá lời rồi! Vệ Vương có dặn rằng, chiến sự xong thì xin công tử cho binh sĩ tá túc một thời gian, Vệ Vương sẽ đích thân sang thăm Yên.

Sóc mừng rỡ:

-Nếu vậy thì quá tốt!

Ba hôm sau, tất cả triều thần bá quan nước Yên đồng lòng lập công tử Sóc kế vị, lấy hiệu là Yên Chiêu Vương.

Ngày vị tân vương đăng cơ, khắp nước Yên như thay đổi hẳn một màu trời. Từ kinh thành cho tới các huyện xa xôi, nơi nơi đều treo cờ kết lụa, đèn đỏ sáng rực từ đêm trước. Tiếng chuông, tiếng trống từ các đình đài vang lên không dứt, hòa cùng tiếng người reo hò tạo thành khung cảnh náo nhiệt chưa từng có sau nhiều năm loạn lạc.

Ngoài phố lớn, dân chúng chen kín hai bên đường để chờ đoàn xa giá đi qua. Người già chống gậy đứng nhìn mà rưng rưng nước mắt, trẻ nhỏ mặc áo mới cầm cờ nhỏ chạy khắp nơi cười đùa. Các tửu lâu mở cửa suốt ngày đêm, thương nhân bày tiệc miễn phí cho khách qua đường, còn dân làng thì góp gạo mổ lợn mở hội ngay giữa sân đình để mừng vị minh quân mới.

Yên Chiêu Vương ban thưởng Hàn Toại rất hậu, truy phong cho những vị quan một lòng phò tá công tử dù khi trước bị công tử Bạch và Nhan Lương thao túng triều chính. Chiêu Vương phong Nhất Phong làm Thừa tướng, Tường San làm tướng quân, những vị quan trung thành khác đều được thăng chức một bậc, bổng lộc rất hậu.

Ở nước Đinh, Đinh Vương ngày nào cũng lo lắng, sợ rằng nước Vệ sẽ khởi binh đánh Đinh trong nay mai. Đinh Vương bàn với triều thần rằng:

-Nay Yên Chiêu Vương kế vị, kết giao với Vệ, chẳng mấy mà đánh sang đây, ta phải làm thế nào?

Trần Minh tâu:

-Chúa công đã mất hai vạn quân ở nước Yên, binh mã tổn thất nghiêm trọng, liệu khó mà cự được Vệ Yên. Thần thiết nghĩ chúa công nên gửi thư giảng hòa, tránh cảnh binh đao là hơn!

Nhiều quan trong triều Đinh cho vậy là phải, nhưng Đinh Vương đập bàn, quát lớn:

-Các ngươi nghĩ sao mà khuyên ta xin hòa bọn chúng, ta xưa nay chưa từng chịu nhục, khuất phục trước ai bao giờ. Vả lại, Vệ Vương có mối thù diệt tộc với ta, há sẽ tha thứ cho ta được?

Lê Cung thưa:

-Đành phải sang nhờ cậy nước Chiêm giúp sức chống Vệ!

Đinh Vương nói:

-Nước Chiêm là ngoại bang, liệu có giúp ta chăng?

Lê Cung đáp:

-Xưa nay người Chiêm tham lam, chỉ cần mang đất đai, vàng bạc dâng cho vua Chiêm ắt sẽ được thuận cho!

Đinh Vương gật đầu:

-Cũng chỉ còn cách như vậy!

Lê Cung tâu tiếp:

-Trên đường từ Yên về, thần đã suy nghĩ rất nhiều, nghĩ ra được một cách, phá hoại hai nước Yên, Vệ từ bên trong, ngăn chặn chúng từ trước chiến sự là thượng sách!

Đinh Vương tò mò:

-Khanh liệu thế nào nói ta nghe!

Lê Cung đáp:

-Trong lúc chiến sự ở Yên, thần đã âm thầm cho người thu nhận trẻ mồ côi, khoảng mười hai đến mười tám tuổi về khoảng hơn ngàn đứa.

Đinh Vương hỏi:

-Để làm gì?

Lê Cung đáp:

-Ta dạy chúng rằng chính nước Vệ là nguyên nhân khiến gia đình chúng tan nát. Đám trẻ ấy mang trong mình thù hận, nếu được huấn luyện ám sát, phóng hỏa, đầu độc và trà trộn khắp thiên hạ, tất sẽ được việc!

Đinh Vương khen hay, hỏi tiếp:

-Vậy còn đám mật thám chúng ta nuôi bao lâu nay sai được việc gì?

Lê Cung đáp:

-Chúa công cử mật thám và du sĩ mật sang lãnh thổ nước Yên dưới thân phận thương nhân, đạo sĩ, nạn dân và cả học sĩ lang bạt. Bề ngoài họ không làm gì khác thường, nhưng âm thầm gieo khắp nơi những lời đồn đoán, đại khái rằng quân Vệ giúp Yên không phải vì nhân nghĩa, mà vì muốn từng bước nuốt trọn nước Yên. Ta phao tin rằng các vùng đất mới quy thuận sẽ bị ép nộp thuế nặng để nuôi chiến tranh, như thể Vệ sẽ sớm thôn tính Yên một sớm một chiều. Nay thần được báo tin, quân Vệ vẫn đóng ở nước Yên, ta nhân cơ hội này lan truyền tin độc ắt sẽ có nhiều kẻ nhẹ dạ cả tin.

Đinh Vương khen:

-Kế ấy rất diệu! Vậy thì cùng lúc đó, ta nhờ công tử Bạch bí mật mua chuộc các hào tộc năm xưa ủng hộ hắn, hiện đang bất mãn với Yên Chiêu Vương làm nội ứng, giả làm quân Vệ đi cướp bóc các đoàn thương buôn giữa biên cảnh. Mỗi lần như vậy, tang vật đều bị cố ý bỏ lại dấu vết liên quan đến quân Vệ, tất sẽ sinh nghi kỵ từ các con buôn.

Lê Cung thốt lên:

-Trí lực của chúa công vẫn sắc bén như thời trẻ, thần kính phục vô cùng!
 
Sửa lần cuối:
Chương 78: Vệ Vương thăm nước Yên, Tử Trọng hóa giải độc kế Lê Cung

c78-1.png


Một tháng sau chiến sự nước Yên, Vệ Vương cử toàn bộ quan triều thần, từ Thừa tướng đến Thượng thư các bộ, sang thăm nước Yên. Vệ Vương rất coi trọng chuyến đi lần này, một phần vì nước Yên là đồng minh quan trọng của Vệ, là vùng địa lý tiếp giáp nước Đinh, Yên mạnh thì Vệ cũng mạnh. Phần vì công tử Sóc là người Vệ Vương đặc biệt coi trọng, Vệ Vương biết Sóc hiểu được mình, Sóc có chung tư tưởng, đạo lý giống y.

Vệ Vương rất tin tưởng vào công tử Sóc, y đặt trọn quyết tâm đánh Yên, cốt cũng chỉ để đưa Sóc lên ngôi. Vệ Vương biết rằng nước Yên dưới sự cai quản của công tử Sóc sẽ khiến nước Yên giàu mạnh, trợ giúp nước Vệ rất lớn sau này. Người đời nói rằng Vệ Vương nhân nghĩa, đánh Yên giúp công tử Sóc hoàn toàn vì chính đạo, điều đó đúng, nhưng chỉ đúng một phần. Toan tính của Vệ Vương rất sâu xa, bằng cách trợ giúp một người hiểu lý lẽ như công tử Sóc, việc liên thủ đánh Đinh sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Có Yên, quãng đường Vệ hành quân giảm còn một phần mười, quan trọng hơn là hậu cần, Yên sẽ là hậu phương vững chắc, tiếp tế lương thực xuyên suốt, lo được chỗ ăn, chỗ ở cho binh sĩ như ở Vệ, ấy mới là thứ quan trọng hơn cả hàng vạn binh mã.

Yên Chiêu Vương biết Vệ Vương sang thăm, cho người chuẩn bị tiếp đón long trọng. Chiêu Vương đích thân cùng Nhất Phong ra tận cửa thành đón Vệ Vương, dân chúng xung quanh đều nhiệt liệt hưởng ứng, hò reo ầm ĩ.

Đoàn tùy tùng của nước Vệ tới cổng thành nước Yên, một tên lính chạy vào bẩm báo:

-Bẩm chúa công, Yên Chiêu Vương cùng Thừa tướng Nhất Phong đích thân ra nghênh đón ạ!

Vệ Vương nói:

-Chiêu Vương quả thực rất nhiệt tình, hắn đã có lòng như vậy thì ta cũng phải cư xử cho phải phép!

Vệ Vương sai người dừng lại trước cổng thành, y bước xuống, đi bộ vào cổng. Quan lại nước Vệ thấy thế cũng đều xuống ngựa đi theo. Dân chúng nước Yên không tin vào mắt mình, nước Vệ đường đường là một nước lớn, có thể coi là bá chủ một phương, ấy vậy mà toàn bộ vua tôi nước Vệ bước bộ vào, quả khiến lòng người khâm phục. Yên Chiêu Vương không giấu được sự mừng rỡ, y không ngờ rằng Vệ Vương lại coi trọng nước Yên đến vậy.

Yên Chiêu Vương cũng đi tới giữa cổng, gặp Vệ Vương, nói:

-Vệ Vương đường xá xa xôi tới thăm nước Yên, ta cảm thấy vô cùng vinh dự!

Vệ Vương bước tới, hai tay vỗ vào vai Chiêu Vương như huynh đệ lâu ngày không gặp, nói:

-Chiêu Vương đích thân ra đón ta như vậy, quả khiến ta cảm kích! Hôm nay ta tới Yên để chúc mừng nước Yên có một vị quân chủ sáng suốt và nhân nghĩa!

Chiêu Vương đáp:

-Quá lời rồi! Vệ Vương đi đường xa chắc đã mệt, mời ngài tới hoàng cung thưởng trà, thư giãn gân cốt!

Phái đoàn hai nước nối tiếp nhau tiến về cung Hàn Đăng, xung quanh tiếng chiêng trống chào mừng nước Vệ inh ỏi khắp phố xá.

Người dân nước Yên gần cổng thành xì xào rằng:

-Vệ Vương khí chất phi phàm quá!

-Phải, không ngờ được nhìn thấy Vệ Vương bằng xương bằng thịt!

-Lần này nếu nước Yên giao hảo với nước Vệ thì còn gì bằng!

-Đúng, cánh buôn bán bọn ta mà có mối làm ăn với nước Vệ ắt sẽ giàu to!

-Ta nghe nói nước Vệ rất thiếu gỗ lim và lụa tơ tằm, nếu buôn bán những thứ đó làm cả năm cũng không hết việc!

Chợt có một vị thư sinh, lưng đeo túi đựng sách đi tới, nói:

-Hừ, ta lại không nghĩ Vệ tới đây có mục đích gì tốt đẹp!

Một người dân hỏi:

-Cớ sao ngươi lại nói vậy?

Thư sinh đáp:

-Các ngươi chỉ thấy một chứ không thấy mười, Vệ sang thăm Yên cốt là để diễn kịch. Ngoài mặt thì vui vẻ rạng rỡ, sau lưng thì toàn là dao găm, mưu đồ thôn tính nước Yên!

Người dân khác không đồng tình:

-Đó chỉ là suy đoán của ngươi, nào có bằng chứng xác thực!

Thư sinh cười lớn, nói:

-Dỏng tai lên mà nghe, Hàn Toại sau khi chiếm Yên giúp công tử Sóc, cớ sao vẫn chưa thu binh mà vẫn đóng quân ở Yên? Đó chẳng phải mưu đồ thì là gì? Vệ Vương ngoài mặt nhân nghĩa, khiến thiên hạ tin rằng mình giúp Yên vì chính đạo, thế nhưng hắn từ từ thôn tính Yên mà các ngươi không hề hay biết. Ta hỏi ngươi, nếu bây giờ Vệ Vương sai Hàn Toại chiếm lấy thành nước Yên, lấy gì chọi nổi, huống chi chúng đã ở sẵn trong thành.

Một người thanh niên đứng gần đó nói:

-Vị thư sinh này nói rất phải, từ lâu ta cũng không tin có người tốt một cách vô lý như vậy? Làm gì có chuyện hao binh tổn tướng đánh được nước Yên, lại trả không cho người ta kia chứ?

Một người cũng đồng tình theo:

-Ta thấy nội tình còn nhiều uẩn khúc, mọi người chớ nên nhẹ dạ cả tin, vẫn phải đề phòng nước Vệ mới được!

Dân chúng xì xào bàn tán, người thì cho rằng Vệ Vương hoàn toàn có ý tốt, người thì cũng lay chuyển theo vị thư sinh, nghĩ rằng Vệ Vương có ý đồ khác với nước Yên.

Nhận thấy uy danh nước Vệ ngày một lan rộng, triều đình nước Đinh không dám công khai đối đầu mà lựa chọn một con đường kín đáo hơn. Hàng chục mật thám được phái sang các vùng đất mới quy thuận dưới nhiều thân phận khác nhau, người là thương nhân buôn muối, người là thầy thuốc rong, kẻ lại giả làm nạn dân chạy loạn hoặc thư sinh đi tìm minh chủ.

Ban đầu, họ không hề nói xấu nước Vệ. Trái lại, họ hòa vào đám đông, cùng dân chúng bàn chuyện mùa màng, chiến sự và cuộc sống. Chỉ sau khi lấy được lòng tin, những lời nói tưởng chừng vô tình mới dần xuất hiện.

Trong quán trà đầu chợ, có người lắc đầu thở dài:

-Nghe nói quân Vệ đối đãi với dân rất tốt, chỉ là không biết khi chiến tranh kết thúc, thuế má có tăng gấp mấy lần để bù vào quân phí hay không...

Lại có kẻ thấp giọng:

-Công tử Sóc được đưa lên ngôi thật đấy, nhưng các vị nghĩ xem, một người nhờ quân Vệ giành lại vương vị thì sau này còn có thể tự quyết được bao nhiêu việc?

Những câu nói ấy không khẳng định điều gì, cũng không buộc tội ai. Nhưng ngày này qua ngày khác, chúng len lỏi khắp tửu quán, bến đò, phiên chợ và cả các phủ đệ hào tộc. Người này nghe được kể lại cho người khác, từ nghi ngờ thành bàn tán, từ bàn tán thành lời đồn.

Đám mật thám nước Đinh còn khéo léo tìm đến những gia đình có người tử trận trong chiến tranh. Họ giả vờ cảm thông, cùng uống vài chén rượu rồi khơi gợi:

-Đánh thắng thì là công của các đại nhân trên triều, còn người chết lại là con em của chúng ta. Thiên hạ thái bình thật chăng, hay chỉ đổi chủ mà thôi?

Những hạt giống ngờ vực được gieo xuống như vậy, chúng không gây ra biến loạn ngay lập tức, nhưng âm thầm bén rễ trong lòng người. Bề ngoài các thành trì vẫn yên ổn, chợ búa vẫn đông vui, nhưng dưới lớp đất tưởng chừng phẳng lặng ấy, nước Đinh đang cố tạo ra những vết nứt vô hình trong niềm tin của dân chúng đối với nước Vệ.

Đó cũng là kiểu chiến tranh mà những kẻ mưu sâu thường ưa thích, không cần công thành, không cần đổ máu trên chiến địa, mà dùng lời đồn và sự nghi kỵ để làm suy yếu đối phương từ bên trong.

Yên Chiêu Vương mời Vệ Vương cùng sánh bước vào đại điện. Hai vị quân chủ đi song song, phía trên là đèn cung sáng rực, phía dưới văn võ bá quan đồng loạt cúi mình hành lễ.

Tiệc nghênh đón được bày ngay trong điện, những vũ nữ mặc xiêm y lộng lẫy múa khúc khải hoàn, nhạc công tấu lên những bản nhã nhạc cổ truyền. Rượu ngon được rót đầy chén ngọc, hương trầm lan tỏa khắp không gian.

Giữa tiếng đàn sáo du dương, Yên Chiêu Vương nâng chén đứng dậy, nhìn khắp triều thần rồi trang trọng nói:

-Ngày hôm nay, nước Yên có thể khôi phục cơ nghiệp tổ tông, dân chúng có thể trở lại cuộc sống yên ổn, đều nhờ nghĩa cử của nước Vệ. Chén rượu này, ta xin kính Vệ Vương và các tướng sĩ đã không tiếc máu xương vì đại nghĩa!

Vệ Vương cũng giơ chén đứng dậy, nói:

-Chiêu Vương quá lời rồi! Nước Vệ chỉ là một yếu tố trợ giúp, Chiêu Vương và nước Yên mới thực sự làm chủ vận mệnh, thuận theo thiên ý. Nếu công tử Sóc ngày đó không dùng tài trí hơn người mà vượt hiểm nguy, bảo vệ tính chính danh của hoàng tộc, cầu viện cứu dân chúng nước Yên, thì cớ gì có ngày hôm nay? Chiêu Vương là một vị vua nhân đức, lấy dân làm gốc, lấy tài thao lược mà trị quốc, tất được thiên mệnh ủng hộ. Nước Vệ muốn xuôi theo dòng chảy thiên mệnh ấy, nên đồng lòng trợ giúp nước Yên đánh đuổi phản tặc! Thôi, dài dòng rồi, nếu chư vị đồng tình với ta, xin hãy nâng chén! Mời!

Toàn thể bá quan và sứ thần trong điện đồng loạt đứng dậy, nâng chén theo. Tiếng hô chúc tụng vang vọng dưới mái điện nguy nga, tạo nên một khung cảnh vừa long trọng vừa ấm áp, như dấu mốc khép lại những năm tháng binh đao, mở ra một thời kỳ giao hảo mới.

Yên Chiêu Vương lại cầm chén rượu, khen:

-Ta cũng muốn dành chén rượu này, để mời Hàn Toại tướng quân, vì đã anh dũng đánh đuổi giặc giúp nước Yên!

Hàn Toại cũng giơ chén, uống cạn. Y nói Vệ Vương:

-Nước Yên một tháng qua đối xử với binh sĩ nước Vệ rất hậu. Dù nước Yên đang mất mùa, thế nhưng Chiêu Vương vẫn cung cấp không thiếu thứ gì cho binh sĩ.

Vệ Vương đáp:

-Nước Yên quả thực đối đãi rất tốt với nước Vệ, Chiêu Vương an tâm, ta sẽ không để bách tính nước Yên chịu thiệt. Chuyến đi lần này, ta có sai binh sĩ đem theo mười vạn hộc lương thực, bù đắp vụ mất mùa của nước Yên!

Chiêu Vương giơ chén rượu, nói:

-Vệ Vương vừa có công đánh giặc cứu giúp, nay lại hỗ trợ lượng lớn lương thực, ngay lúc nước Yên đang rất cần. Ta đại diện cho nước Yên, sẽ luôn ghi nhớ đến sự trợ giúp của nước Vệ. Sau này, bất cứ việc gì, Vệ Vương chỉ cần nói một câu, nước Yên tất sẽ tương trợ!

Vua tôi bá quan hòa mình vào buổi tiệc, như thể một gia đình thực sự, ai nấy đều cười nói vui vẻ, quên đi ngày tháng binh đao căng thẳng.

Hôm sau, lại xuất hiện những kẻ khác tiếp tục gieo mầm nghi ngờ:

-Ngày trước quân Vệ vào Yên là để phò công tử Sóc. Nay công tử Sóc đã làm vua rồi, vì sao sứ thần Vệ vẫn ra vào triều đình nhiều đến vậy?”

-Nghe nói mấy vị đại thần chủ hòa đều thân thiết với nước Vệ cả.

-Liệu đây là nước Yên... hay là nước Yên dưới bóng nước Vệ?


Dần dần, câu chuyện bị bóp méo qua mỗi lần truyền miệng. Từ đồng minh biến thành can thiệp, từ giúp phục quốc biến thành dựng lên một vị vua thân Vệ. Từ bảo vệ biên giới biến thành đồn trú để kiểm soát. Đỉnh điểm là khi nước Đinh bí mật thuê người viết những bài thơ, những khúc hát dân gian truyền khắp các quán rượu:

"Khi nguy thì kéo quân sang,
Khi yên thì giữ triều đường nước ai?
Giúp người hay giữ cổ vai,
Một ngày không rõ, ngàn ngày khó yên."

Những câu hát ấy không trực tiếp buộc tội nước Vệ, nhưng chúng gieo vào lòng người một câu hỏi, và đôi khi, một câu hỏi còn nguy hiểm hơn một lời vu cáo.

Tại một số thành trì phía bắc nước Yên, bắt đầu xuất hiện những nhóm sĩ tử trẻ tuổi bàn luận công khai:

-Quốc gia độc lập phải tự đứng trên đôi chân mình.

-Ân nghĩa của nước Vệ đáng nhớ, nhưng nước Yên không thể mãi sống dưới bóng nước khác.

Những lời ấy nghe qua hoàn toàn hợp lý, đó mới là chỗ đáng sợ nhất. Bởi Lê Cung và những kẻ đứng sau hiểu rất rõ rằng lời nói dối dễ bị vạch trần, nhưng một nửa sự thật thì có thể sống rất lâu.

Khi báo cáo được trình lên, Lê Cung chỉ mỉm cười:

-Muốn biến đồng minh thành kẻ xâm lược, đừng nói họ là ác nhân. Hãy để chính dân chúng tự hỏi rằng vì sao họ vẫn còn ở đây!

Rồi hắn đặt quân cờ trắng xuống bàn cờ.

-Chiến tranh bằng đao kiếm chỉ giết được người. Chiến tranh bằng lòng người mới quyết định ai là chủ nhân của thiên hạ.

Tại nhiều nơi, trẻ con bắt đầu hát những bài đồng dao chế giễu nước Vệ. Một số sĩ tử viết văn đả kích việc triều đình quá thân thiết với nước Vệ. Thậm chí trong các cuộc tụ họp của hào tộc địa phương, nhiều người công khai đề nghị phải giảm ảnh hưởng của nước Vệ đối với triều chính nước Yên, tâm lý bài Vệ ngày một lan rộng.

Những thương nhân đến từ nước Vệ trước đây được chào đón nay thường bị nhìn bằng ánh mắt dè chừng. Có nơi còn xảy ra xô xát giữa dân địa phương với người Vệ. Một vài cửa hiệu treo biển của thương nhân nước Vệ bị ném đá trong đêm, nhưng khi quan phủ điều tra thì chẳng ai nhận là thủ phạm.

Điều đáng sợ nhất là phần lớn những người mang tâm lý thù địch ấy không cho rằng mình đang bị ai kích động, họ thật sự tin rằng mình đang bảo vệ nước Yên, họ thật sự tin rằng nước Vệ đã từ đồng minh trở thành mối đe dọa. Và khi niềm tin ấy bén rễ, nó lan đi nhanh hơn bất kỳ đạo quân nào.

Một buổi chiều, tại quảng trường trước thành, có người bất ngờ hô lớn:

-Yên là của người Yên!

Tiếng hô ấy lập tức được hàng trăm người hưởng ứng.

-Yên là của người Yên!

-Không cần ai cai quản thay chúng ta!

-Quân Vệ phải rời khỏi đất Yên!

Âm thanh vang dội khắp phố phường. Những người ban đầu chỉ đứng xem cũng dần hòa vào đám đông đang phẫn nộ. Từ xa nhìn cảnh ấy, một mật thám nước Đinh khẽ kéo thấp vành nón, khóe miệng nhếch lên.

Dương Minh trong một lần dạo phố nước Yên, nghe ngóng được việc ấy, thất kinh, nói:

-Không xong rồi, chúa công bị dân chúng nước Yên hiểu lầm rồi!

Dương Minh sai người tản đi khắp nơi trong kinh thành nước Yên, nghe ngóng xem dân chúng nói thế nào về nước Vệ. Quả nhiên, khắp các ngả đường đều có những lời chê bai, gièm pha nước Vệ.

Dương Minh vội vã quay về cung Hàn Đăng báo với Tử Trọng:

-Bẩm Thừa tướng, dân chúng nước Yên đang rất phẫn nộ với Vệ, họ trách rằng chúng ta có ý đồ thôn tính nước họ. Toàn là những lời buộc tội nghiêm trọng mà không biết kẻ nào đã gieo rắc ở nước Yên.

Tử Trọng hỏi:

-Ngươi cho người dò xét các nơi khác chưa?

Dương Minh đáp:

-Đã cho dò xét, bài Vệ đang lan rộng khắp nơi rồi!

Tử Trọng vuốt râu suy ngẫm, sau đó chậm rãi nói:

-Đây là kế ly gián của nước Đinh, và chắc chắn là kế của Lê Cung. Kẻ này vốn mưu mô thâm độc, không từ thủ đoạn, để lâu hậu quả khôn lường.

Dương Minh hỏi:

-Vậy chúng ta phải làm thế nào?

Tử Trọng đáp:

-Nếu chúng ra tay gieo nghi kỵ, thì cũng chỉ công dụng với người dân trong kinh thành. Chiêu Vương và văn võ bá quan nước Yên đều một lòng hảo hữu với nước Vệ, ta còn có thể xoay chuyển được tình thế!

Dương Minh hỏi:

-Thừa tướng nghĩ ra cách xoay chuyển rồi sao?

Tử Trọng đáp:

-Đã nghĩ ra cách, ta phải đi tâu với Vệ Vương và Chiêu Vương gấp!

Vệ Vương cùng Chiêu Vương đang đi săn bắn với nhau, Tử Trọng cưỡi ngựa phi tới, tâu với Vệ Vương:

-Bẩm chúa công, đang có kẻ ngầm ly gián trong lòng nước Yên.

Vệ Vương lo lắng, hỏi:

-Quả có chuyện như vậy sao?

Tử Trọng thuật lại những gì Dương Minh phát hiện được cho Vệ Vương và Chiêu Vương nghe.

Yên Chiêu Vương nói:

-Quả thực là vô lý hết sức! Nước Vệ ơn cao nghĩa dày báo còn không hết, nữa là nghi kỵ, gièm pha như vậy! Ta phải lập tức cho người đi dẹp những tin dối trá ấy!

Tử Trọng can:

-Chiêu Vương chớ nên hấp tấp, lòng dân bây giờ đang rất loạn, càng đi thanh minh càng phản tác dụng, lời đồn sẽ lập tức biến thành sự thật trong mắt dân chúng!

Vệ Vương hỏi:

-Vậy làm thế nào để bách tính nước Yên hiểu ra đây!

Tử Trọng quay sang, nói với Chiêu Vương:

-Lê Cung muốn chứng minh nước Vệ tham lam, vậy hãy để thiên hạ thấy nước Vệ chẳng cần lấy thứ gì cả. Muốn phá kế này, phải để chính người Yên tự nói rằng nước Vệ không phải kẻ xâm lược. Nhờ Chiêu Vương đưa ra một bố cáo với thiên hạ, tất sẽ yên được lòng dân!

Yên Chiêu Vương đồng tình:

-Tất nhiên là được, ta cũng không muốn người dân nước Yên hiểu lầm về nước Vệ!

Cùng ngày hôm ấy, Yên Chiêu Vương bố cáo với thiên hạ như sau:

"Ta nghe rằng, nước lấy dân làm gốc, dân lấy lòng tin làm đầu. Nay thiên hạ vừa qua cơn binh lửa, trong dân gian xuất hiện nhiều lời đồn đại, khiến lòng người dao động, trên dưới bất an. Bởi vậy, ta đặc ban bố cáo này để tỏ rõ cùng muôn dân nước Yên.

Năm trước, gian thần lộng quyền, xã tắc nghiêng ngả, tông miếu tổ tiên suýt nữa đoạn tuyệt. Ta phải lưu lạc tha hương, sống nhờ nơi đất khách. Khi ấy, nước Yên nguy như trứng chất đầu gậy, chỉ một cơn gió cũng có thể tan thành tro bụi.

Chính trong lúc hiểm nghèo ấy, nước Vệ đã xuất binh tương trợ, giúp ta khôi phục cơ nghiệp tổ tông, hoàn thành di nguyện của tiên vương. Hàng ngàn tướng sĩ nước Vệ bỏ mình nơi chiến địa, máu nhuộm thành quách nước Yên. Đó là sự thật mà trời đất cùng chứng, muôn dân đều biết.

Nay có kẻ tung lời thị phi, nói rằng nước Vệ giúp Yên là để chiếm Yên, phò ta phục vị là để khống chế triều đình. Ta nghe những lời ấy, trong lòng vô cùng tức giận vì người dân đã hiểu lầm nước Vệ.

Người quân tử xét việc bằng hành động, không xét bằng lời đồn. Ta là người được nước Vệ giúp đỡ, nhưng trước hết ta là quân chủ của nước Yên. Ta mang xã tắc tổ tông trên vai, mang sinh mệnh của muôn dân trong lòng. Nếu nước Vệ thực sự có lòng bất chính, ta quyết không thể ngồi yên nhìn giang sơn rơi vào tay kẻ khác. Nhưng đến hôm nay, ta có thể đường đường chính chính nói với thiên hạ rằng, nước Vệ giúp Yên vì nghĩa, không phải vì lợi, giúp lúc nguy nan, không cầu báo đáp, ân nghĩa ấy, nước Yên không thể quên.

Song nước Yên cũng không vì thế mà đánh mất chủ quyền. Triều đình Yên vẫn do người Yên cai quản, luật pháp nước Yên vẫn do người Yên thi hành, giang sơn nước Yên vẫn thuộc về con dân nước Yên.

Ta mong muôn dân chớ để lời đồn chia rẽ lòng người, chớ để kẻ ngoài cuộc lợi dụng sự nghi kỵ mà phá hoại tình nghĩa giữa hai nước. Ngày nay điều nước Yên cần nhất không phải là hận thù, mà là cày ruộng, dựng nhà, khôi phục cơ nghiệp sau chiến tranh. Chỉ khi trên dưới đồng lòng, quốc gia mới có thể hưng thịnh lâu dài.

Ban bố cáo này khắp các châu quận, truyền đọc cho mọi người đều biết."

Tử Trọng khen Chiêu Vương:

-Ngài có bài ban bố quả thực chạm vào lòng người, sau khi nghe, dân chúng nước Yên tất sẽ xóa tan được nghi kỵ, hồi tâm chuyển ý ủng hộ hai nước Yên Vệ giao hảo.

Chiêu Vương đáp:

-Ấy là việc phải làm!

Hôm sau, đại thần, quan viên hai nước tham gia buổi họp chung, bàn về sự giao hảo và phát triển giữa hai nước. Hai triều đình đã cùng nhau thỏa thuận một loạt chính sách giao hảo chưa từng có trong nhiều năm qua.

Trước hết, hai nước mở rộng biên giới thương mại. Các cửa ải lớn được giảm thuế hàng hóa, thương nhân Yên và Vệ được phép tự do qua lại buôn bán theo quy định. Lương thực từ những cánh đồng màu mỡ của nước Vệ được đưa sang Yên với giá ổn định, trong khi sản vật miền núi, quặng sắt và hàng thủ công tinh xảo của nước Yên cũng theo các đoàn xe ngựa tiến vào kinh thành nước Vệ.

Không dừng lại ở đó, hai nước còn cùng sửa chữa đường sá, cầu cống và bến cảng. Những tuyến đường từng bị chiến tranh tàn phá được nối lại, giúp việc vận chuyển hàng hóa và đi lại của dân chúng thuận tiện hơn. Qua đó giúp người dân ở vùng biên giới bắt đầu coi nhau là đối tác làm ăn thay vì đối thủ.

Về nông nghiệp, Vệ Vương cho thợ lành nghề sang nước Yên hỗ trợ đào kênh dẫn nước, đắp đê chống lũ và cải tạo đồng ruộng. Đổi lại, nước Yên chia sẻ các mỏ khoáng và kỹ thuật luyện kim mà họ có thế mạnh.

Trong quân ngũ, hai bên thỏa thuận hiệp ước tương trợ. Nếu một nước bị ngoại bang xâm lược, nước còn lại có trách nhiệm viện trợ lương thảo, quân nhu hoặc xuất quân hỗ trợ tùy theo mức độ nguy cấp.

Về giáo dục và văn hóa, các học giả, thầy thuốc, nghệ nhân được khuyến khích qua lại giao lưu. Con em quý tộc và quan lại hai nước có thể sang học tập tại các học cung lớn của nhau. Nhiều bộ sách quý nên được sao chép và trao đổi giữa hai triều đình, góp phần thúc đẩy học thuật và tri thức phát triển.

Đặc biệt, hai vị quân chủ còn lập ra một quỹ cứu tế chung dành cho các vùng biên giới. Mỗi khi xảy ra thiên tai, hạn hán hay dịch bệnh, lương thực và thuốc men từ cả hai nước sẽ được điều động tới nơi gặp nạn, bất kể đó là lãnh thổ Yên hay Vệ.

Nhờ những chính sách ấy, quan hệ giữa Yên và Vệ không còn chỉ là tình nghĩa giữa hai vị quân vương, mà dần trở thành mối liên kết về sự phát triển, sự yên bình lâu dài. Thương nhân có thêm cơ hội làm giàu, nông dân có cuộc sống ổn định hơn, học giả có điều kiện trao đổi tri thức, còn các vùng biên giới vốn từng là chiến địa nay trở thành nơi buôn bán nhộn nhịp.

Dân chúng nước Yên sau khi nghe bố cáo của Yên Chiêu Vương, cùng những kết quả giữa cuộc gặp hai nước, đều đồng lòng hưởng ứng, cho là phải. Các lời đồn đoán, gièm pha bây giờ trở nên vô dụng, chẳng một ai tin nữa. Dù mật thám của Đinh có dùng cách nào cũng không sao lay chuyển được ý trí của dân Yên.

Một hôm, Vệ Vương cho truyền các quan triều thần vào bàn việc, Vệ Vương nói:

-Qua lời kể của Hàn Toại, cùng những sự việc đồn đoán gần đây, chứng tỏ rằng nước Đinh vô cùng xảo quyệt, sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn. Ta nghĩ mối họa này để lâu ắt khó mà trị được, lại nhớ đến thù xưa, vì vậy muốn đổi hướng binh mã, đánh Đinh ngay trong tháng sau!

Hàn Toại thưa:

-Thần xin nghe hiệu lệnh của chúa công!

Tử Trọng nói:

-Nếu muốn hưng binh đánh Đinh, phải tốc chiến tốc thắng, chớ để Đinh Vương và Lê Cung bày mưu kế hiểm độc. Tuy nước Vệ nhân danh chính nghĩa, thuyết phục được bách tính nước Yên, thế nhưng để tin đồn cứ lan truyền nhiều lần cũng không phải là thượng sách, dù rằng nó không có thật.

Trương Siêu quả quyết:

-Sẵn tiện binh mã nước Vệ đang đóng ở biên ải, chúng ta đánh luôn Đinh một lần cho gọn!

Vệ Vương nói:

-Được, lần này ta sẽ đích thân ra trận cổ vũ tinh thần binh lính!

Vệ Vương sai người đi chuẩn bị kỹ lưỡng lương thảo, đạn dược, binh khí để chuẩn bị đánh Đinh. Lần này Vệ Vương không bố cáo thiên hạ như lần trước, mà âm thầm chuẩn bị một trận tốc chiến tốc thắng, trời không biết, đất không hay.
 
Chương 79: Ngày đại cát, nước Vệ có Quốc sư, Vương hậu

C78.png


Trước ngày khởi binh khoảng một tuần lễ, Vệ Vương cùng Tử Trọng tới thăm phủ doãn Trần Lượng để cảm tạ ơn nghĩa năm xưa và ôn lại chuyện cũ.

Vệ Vương cho người chuẩn bị rất nhiều lễ vật quý giá để tặng Trần Lượng và Trần Nguyệt Ánh, theo hầu hơn trăm người. Dân chúng xung quanh thấy đoàn Vệ Vương tới phủ Trần Lượng, xì xào bàn tán không ngớt.

-Vệ Vương đích thân tới thăm ngài Phủ doãn sao?

-Phải, ta nghe nói ngài Phủ doãn khi xưa là bằng hữu của Thừa tướng Tử Trọng nước Vệ.

-Năm xưa Vệ Vương cùng Tử Trọng chạy loạn ở Hoan Châu, may nhờ có Trần Lượng tương trợ, không thì đã sớm mất mạng từ lâu rồi!

-Đó quả là ân nghĩa lớn!

- Nay Vệ Vương đích thân tới thăm ngài Phủ doãn, chứng tỏ Vệ Vương là người biết trước biết sau, không quên ân cũ. Nước Yên giao hảo với nước Vệ quả là đáng lắm!

-Phải, phải lắm!

Trần Lượng nghe tin Vệ Vương tới thăm, ra tận cửa đón:

-Hạ quan Trần Lượng, bái kiến Vệ Vương, Thừa tướng!

Vệ Vương nói:

-Lượng thúc không cần đa lễ! Đã lâu không gặp thúc!

Tử Trọng nói:

-Nhiều năm lo việc nước, bây giờ mới tới thăm huynh, quả là đáng trách lắm!

Trần Lượng đáp:

-Trọng huynh đã quá lời! Mời vào trong, ta đã chuẩn bị tiệc thịnh soạn đón tiếp hai người!

Vệ Vương sai người đem lễ vật vào phủ Trần Lượng, Trần Lượng nói:

-Vệ Vương tới thăm đã là cái vinh dự của ta, cớ sao còn đem theo nhiều lễ vật như vậy!

Vệ Vương cười, đáp:

-Cháu giờ đã là vua một nước, tay không tới thăm thúc sao coi được!

Ba người cười lớn, cùng bước vào phủ.

Ngồi vào bàn tiệc, Trần Lượng nói:

-Thấm thoát đã mười mấy năm, không ngờ lần tái ngộ này Hạo Thiên đã là vua nước Vệ, còn Trọng huynh đã là Thừa tướng đức cao vọng trọng, thật đáng khâm phục!

Vệ Vương đáp:

-Nếu không nhờ ơn Lượng thúc năm xưa cưu mang, cháu và á phụ đâu có ngày hôm nay!

Tử Trọng nói:

-Phải, ân nghĩa này ta luôn khắc ghi trong lòng!

Ba người hàn huyên về chuyện xưa cũ, Vệ Vương kể về tháng ngày gây dựng nên nước Vệ, còn Trần Lượng thì nói về những biến loạn của nước Yên suốt bấy nhiêu năm gần đây.

Trần Lượng nói:

-Nhờ có Vệ, nước Yên nay được minh quân dẫn dắt, ấy là cái phúc của bách tính nơi đây!

Vệ Vương nói:

-Chỉ mong tình giao hảo giữa hai nước luôn bền chặt!

Trần Lượng hỏi:

-Vậy Vệ Vương thăm Yên đến ngày nào thì trở về?

Vệ Vương đáp:

-Không giấu gì thúc, cháu sắp đem quân đánh nước Đinh, chưa trở về được!

Trần Lượng thất kinh:

-Nhanh vậy sao?

Tử Trọng nói:

-Nước Đinh mưu mô xảo quyệt, hành vi tàn ác, để lâu chỉ gây thêm tai họa, bách tính lầm than.

Trần Lượng gật đầu, nói:

-Cái thù năm xưa với Hạo gia quả là không báo không được!

Vệ Vương siết bàn tay, nghiến răng:

-Chưa một ngày nào cháu quên cái thù diệt tộc ấy, chỉ muốn băm vằm tên cẩu tặc Trần Thọ cho cá ăn mới hả được giận!

Trần Lượng nói:

-Nếu Vệ Vương đã quyết chí đánh Đinh như vậy, Trần Lượng nhớ đến lời hứa năm xưa, xin theo phò tá Vệ Vương gây dựng cơ nghiệp Tĩnh Hải quân!

Vệ Vương nói:

-Lượng thúc nay đã ngoài lục tuần, nên nghỉ ngơi hưởng cái an nhàn tuổi già thì hơn!

Trần Lượng nói:

-Đời này ta chỉ còn hai điều vướng bận, một là chưa lập được công lớn lưu danh sách sử, hai là gả chồng cho Trần Nguyệt Ánh!

Vệ Vương mừng rỡ:

-Nếu được Lượng thúc trợ giúp, như Lưu Bị có Ngọa Long, Phượng Sồ vậy, việc gì mà không thành!

Vệ Vương hỏi Tử Trọng:

-Thưa á phụ, nay Lượng thúc đã theo Vệ, con nên phong chức quan gì cho phù hợp?

Tử Trọng đáp:

-Lượng huynh trí tuệ xuất chúng, kiến thức uyên bác, am hiểu binh pháp, tinh thông chính sự, phải làm một chức quan tương xứng. Nay có chức Quốc sư còn trống, phù hợp với tài năng của Lượng huynh nhất!

Vệ Vương gật đầu, nói:

-Nghe rất hợp lý, vậy từ nay thúc sẽ là Quốc sư của nước Vệ!

Trần Lượng rời khỏi ghế, quỳ xuống trước Vệ Vương, nói:

-Tạ chúa công!

Vệ Vương vội đỡ Trần Lượng dậy, nói:

-Thúc và ta như người một nhà, ngoài lên chầu thì chớ nên câu nệ!

Tử Trọng nâng chén rượu, chúc Trần Lượng:

-Cuối cùng ta và huynh được đứng chung dưới một mái nhà, quyết phò tá Vệ Vương gây dựng được bá nghiệp!

Trần Lượng mừng, cụng ly:

-Cạn!

Được vài tuần rượu, Vệ Vương hỏi Trần Lượng:

-Ban nãy thúc nói có điều vướng bận, ấy là gả chồng cho Trần Nguyệt Ánh, không lẽ nàng ấy chưa lập gia thất sao?

Trần Lượng đáp:

-Phải, từ ngày hẹn ước với cháu, mọi gã nam nhân đều không lọt vào mắt xanh của nó, vẫn ở vậy từ đó tới giờ, ta lấy làm lo lắm!

Vệ Vương nói:

-Cháu thật có lỗi với nàng ấy lắm!

Trần Lượng nói tiếp:

-Hôm nay nó biết cháu tới, ta nói nó ra tiếp, nào ngờ nó nhốt mình trong phòng, nhất quyết không chịu ra đây!

Vệ Vương nói:

-Lượng thúc cứ an tâm, cháu sẽ bù đắp cho nàng ấy!

Sau tiệc rượu, Vệ Vương dạo bước trong phủ Trần Lượng, ngắm trăng rằm buổi tối. Đi một hồi, Vệ Vương bắt gặp Nguyệt Ánh đang ngồi ngắm trăng, nét mặt đầy ưu tư. Vệ Vương mừng rỡ, bước tới chào hỏi:

-Nàng vẫn không thay đổi chút nào, vẫn trẻ như vậy!

Nguyệt Ánh quay ra nhìn Vệ Vương, rồi chẳng nói gì, lại quay sang ngắm trăng tiếp.

Vệ Vương nói:

-Ta biết nàng hận ta lắm, ta cảm thấy có lỗi với nàng!

Nguyệt Ánh vẫn lặng thinh.

Vệ Vương bước tới, ngồi cùng phía với Nguyệt Ánh, mắt hướng lên trăng , nói:

-Trăng đẹp quá! Hôm nay được cùng nàng ngắm trăng, ta vui lắm!

Nguyệt Ánh đứng dậy, cúi mình lễ phép, nói:

-Nguyệt Ánh xin cáo lui, không làm phiền Vệ Vương ngắm trăng!

Nói xong quay mặt bước đi, chợt Vệ Vương níu lấy tay Nguyệt Ánh, nói:

-Sao nàng lạnh nhạt với ta như vậy?

Nguyệt Ánh lúc này không kìm nén được cảm xúc, bật khóc, trách Vệ Vương:

-Chàng hôm nay tới đây nói những lời ấy có ích gì, chàng có lấy lại được thanh xuân của ta không? Đã mười lăm năm rồi, mười lăm năm ta chẳng mở lòng với ai. Mới đầu ta đợi chàng, đếm từng mùa hoa nở, từng cơn gió đông về. Mỗi khi nghe tin chiến thắng của chàng nơi biên cương, ta lại vui mừng. Nhưng năm này qua năm khác, chẳng có ai đến thăm ta, một bức hồi âm cũng chẳng có, ta như một con ngốc chờ đợi người không còn nhớ mình là ai. Lâu dần, ta chẳng còn đợi chàng nữa, ta hận chàng, ta ước rằng có thể quên chàng đi, kiếm một tấm chồng, phụng dưỡng báo hiếu phụ mẫu, nhưng không sao làm được.

Vệ Vương nói:

-Sao nàng lại làm như vậy, sau ngần ấy năm, nàng vẫn nghĩ đến ta sao?

Nguyệt Ánh rưng rưng:

-Ta buồn không phải vì chàng chưa từng có cơ hội trở về, mà là chàng đã quên. Nỗi đau ấy không giống mũi kiếm đâm vào tim, cũng không giống ngọn lửa thiêu đốt da thịt. Nó giống như dòng nước lạnh chảy âm thầm qua năm tháng, từng chút một cuốn trôi mọi hy vọng còn sót lại. Một ngày nhận ra, mình đã dành cả thanh xuân để chờ đợi một lời hẹn mà chỉ có một người còn nhớ.

Vệ Vương ngập ngừng:

-Ta ....!

Nguyệt Ánh nói:

-Chàng không nói được gì phải không? Chàng giờ đã là vua một nước, còn ta chỉ là phận tiểu thư tầm thường, không đáng để chàng phải bận tâm như vậy.

Vệ Vương lại gần, ôm Nguyệt Ánh từ phía sau, nói:

-Ta sẽ bù đắp cho nàng, ta mong nàng sẽ cho ta cơ hội sửa chữa điều này!

Nguyệt Ánh vừa khóc nức nở, nói:

-Bù đắp sao? Bù đắp bằng các nào đây?

Vệ Vương quả quyết:

-Ta sẽ cưới nàng làm vợ, nàng sẽ là Vương hậu của nước Vệ!

Nguyệt Ánh sững người:

-Chàng... chàng nói thật chứ?

Vệ Vương nói:

-Quân tử lời nói tựa ngàn vàng, há có thể nuốt lời sao?

Nguyệt Ánh không định nghĩa được cảm xúc hiện tại của mình, phải chăng đó là hạnh phúc?

Nguyệt Ánh nói:

-Ta đã nhiều tuổi rồi, đâu còn xứng với chàng, chàng đừng vì cảm xúc nhất thời mà quyết định. Có lời này của chàng, lòng ta đã mãn nguyện rồi!

Vệ Vương nói:

-Ta đang tỉnh táo hơn bao giờ hết, cưới nàng là ước muốn của ta!

Nguyệt Ánh tựa đầu vào vai Vệ Vương, nói:

-Chuyện này như một giấc mơ vậy, cảm ơn chàng...!

Vệ Vương nói tiếp:

-Một tuần nữa ta sẽ dẫn binh đánh Đinh, ta muốn cử hành hôn lễ sớm!

Nguyệt Ánh nói:

-Gấp như vậy sao? Đại sự là trọng, chờ chiến sự kết thúc, lúc ấy làm hôn lễ cũng không muộn!

Vệ Vương nói:

-Lần này đánh Đinh, không biết bao giờ trở lại, ta không muốn nàng phải chờ đợi thêm một giây phút nào nữa!

Nguyệt Ánh gật đầu, cùng Vệ Vương ngắm trăng, nói với nhau những lời chưa bao giờ có cơ hội nói.

Hôm sau, Vệ Vương tới gặp Yên Chiêu Vương, nói:

-Ta có một việc muốn nhờ cậy Chiêu Vương!

Chiêu Vương hỏi:

-Bất cứ việc gì, Vệ Vương cứ nói!

Vệ Vương nói:

-Ta đã gặp được tri kỷ của đời mình ở nước Yên, muốn cử hành hôn lễ ngay trước khi khởi binh. Nay ta trên đất Yên, dù sao cũng không nên tùy tiện làm rùm beng được, nếu được Chiêu Vương ra mặt tổ chức, quả là thuận tiện nhất.

Chiêu Vương cười:

-Chuyện ấy có gì khó! Vệ Vương cứ an tâm, ta sẽ cho người chuẩn bị tổ chức hôn lễ thật hoành tráng! Không biết tiểu thư nào có may mắn như vậy?

Vệ Vương đáp:

-Là ta may mắn, nàng ấy vẫn chấp nhận ta... Đó là tiểu nữ của Phủ doãn Trần Lượng!

Chiêu Vương khen:

-Thì ra là vậy, đúng là một cặp trai tài gái sắc, kết thành phu thê quả đáng mừng!

Sau khi được Chiêu Vương nhận lời, Vệ Vương thông báo cho các quan triều thần, ai nấy đều mừng rỡ, chúc phúc cho Vệ Vương. Vệ Vương muốn nhân dịp này tiếp đãi rượu thịt cho các binh sĩ, hòa cùng ngày vui hôn lễ của mình trước khi bước ra chiến trận đầy cam go phía trước.

Đại hôn của Vệ Vương và Trần Nguyệt Ánh được cử hành tại kinh thành nước Yên trong sự chứng giám của bá quan văn võ hai nước và hàng vạn dân chúng. Đây là một chuyện hiếm có trong thiên hạ, khi hôn lễ của một quân vương lại được tổ chức trên đất nước khác. Điều này chứng tỏ mối giao hảo ngày càng khăng khít giữa Vệ và Yên.

Sáng hôm ấy, kinh thành nước Yên cờ hoa rợp trời, đường phố đông nghịt người. Dân chúng chen kín hai bên đại lộ để được tận mắt chứng kiến hôn lễ của vị quân vương nước Vệ lừng danh thiên hạ. Trên những mái nhà, những ngọn tháp cao, cờ hiệu của hai nước Vệ và Yên cùng tung bay trong gió thu, tượng trưng cho tình nghĩa keo sơn giữa hai đất nước.

Yên Chiêu Vương bước ra tuyên bố:

-Hôm nay, với danh nghĩa quân chủ nước Yên và cũng là bằng hữu thân thiết của Vệ Vương, ta xin thay mặt trời đất và chư vị tân khách chứng giám cho cuộc hôn nhân này!

Tiếng vỗ tay và tiếng reo hò lập tức vang dậy khắp quảng trường.

Sau khi nghi lễ tế cáo trời đất hoàn tất, Yên Chiêu Vương tự mình đọc lời chúc phúc:

-Nguyện cho Vệ Vương cùng Vương hậu từ nay đồng tâm hiệp lực, như chim loan sánh cánh, như cây liền cành. Nguyện cho hai người cùng hưởng phú quý mà không quên hoạn nạn, cùng nắm tay đi hết quãng đời còn lại. Nguyện cho nước Vệ hưng thịnh dài lâu, nước Yên và nước Vệ đời đời giao hảo, mãi mãi không đổi.

Dứt lời, Chiêu Vương nâng chén rượu lên cao, toàn thể văn võ bá quan, tướng lĩnh, sứ thần và các tướng sĩ đồng loạt nâng chén theo. Tiếng hô vang như sấm động:

-Chúc Vệ Vương! Chúc Vương hậu!

-Trăm năm hảo hợp!

-Thiên thu đồng tâm!

Binh sĩ tạm quên đi những ngày tháng chiến đấu sắp tới, hòa mình cùng chung vui trong ngày trọng đại của chúa công, ai nấy đều vui mừng, phấn khởi.

Giữa biển người đang reo hò ấy, Trần Nguyệt Ánh khẽ ngước nhìn Vệ Vương. Ánh mắt nàng ngập tràn lệ ấm nhưng không còn là những giọt nước mắt của cô đơn và chờ đợi năm nào, đó là nước mắt của hạnh phúc. Nhạc lễ vang vọng khắp kinh thành nước Yên, giữa muôn vàn lời chúc tụng của thiên hạ, đại hôn của Vệ Vương và Trần Nguyệt Ánh chính thức được ghi vào sử sách như một giai thoại đẹp của thời loạn thế anh hùng.
 
Back
Top