- Tham gia
- 19/9/24
- Chủ đề
- 3
- Bài viết
- 189
- Được Like
- 777
- Điểm
- 93
Chương 70: Tử Trọng nói về bạo chúa, công tử Sóc được Tường San giúp đỡ
Nói về nước Vệ, Hàn Toại sau khi được phong chức, được Vệ Vương giữ lại kinh thành để huấn luyện binh mã trong thời bình. Hàn Toại mong muốn chứng minh rằng mình xứng đáng với sự tin tưởng của Vệ Vương và Thừa tướng Tử Trọng nên y rất siêng năng huấn luyện binh mã, đưa hàng ngũ vào lề lối, kỷ cương rất chặt chẽ.
Trống canh ba vừa dứt, thao trường đã sáng rực đuốc lửa. Hàn Toại không cho binh sĩ luyện những thế trận hoa mỹ, mà bắt đầu bằng thứ căn bản nhất đó là chỉnh khí và hợp nhịp.
- Ba hàng trước, tiến ba bước-dừng—đổi thế đỡ!
Lệnh vừa dứt, hàng thương binh đồng loạt bước lên, mũi thương hạ thấp đúng một góc, tạo thành thế Bình phong cản kỵ, Hàn Toại lập tức cho kỵ binh giả xung trận. Ngựa chưa kịp chạm hàng, tuyến đầu đã xoay trục, hàng sau tràn lên, mũi thương đổi hướng như nước chảy, khóa kín khoảng trống. Cả đội hình, hàng ngũ dưới tay Hàn Toại chuyển động như một con mãnh hổ.
Hàn Toại giơ tay ra hiệu dừng, ánh mắt sắc như cắt, nói:
-Các ngươi vừa rồi nhanh, nhưng chưa chuẩn. Trận địa không cần nhanh hơn địch, mà cần đúng hơn địch!
Ngay sau đó, Hàn Toại chuyển sang luyện biến trận liên hoàn, y chia quân làm ba doanh, mỗi doanh nhận một cờ hiệu khác nhau. Khi cờ đỏ phất lên, doanh trung quân lập tức tản thành hình nhạn hành, kéo giãn chiến tuyến để dụ địch. Cờ xanh nổi, hai cánh khép lại thành gọng kìm, khóa đường lui. Nhưng điều đáng sợ nhất là khi cờ đen xuất hiện,tất cả lập tức bỏ thế công, thu về trụ trận, dựng khiên, hạ thấp trọng tâm, biến thành một khối phòng ngự bất động.
Hàn Toại hô to:
-Biến mà không loạn, tán mà không rời, đó mới là binh pháp!
Cuối buổi, Hàn Toại không cho quân nghỉ, mà bất ngờ thổi còi đổi lệnh giữa lúc binh sĩ đang di chuyển. Đội hình buộc phải vừa chạy vừa đổi trận, người trước chưa dừng, người sau đã phải nhập thế mới. Kẻ nào chậm nửa nhịp, lập tức bị thay ra ngoài.
Hàn Toại đứng trên đài cao, nhìn xuống không chớp mắt. Trong mắt y, một đội quân chân chính không phải là đội quân biết đánh khi có lệnh, mà là đội quân dù đổi lệnh giữa loạn thế, vẫn giữ được nhịp trận ban đầu!
Nhờ thế, lính của nước Vệ dù đã rất tinh nhuệ, dưới bàn tay chỉ huy của Hàn Toại, lại càng hoàn thiện hơn nữa.
Một hôm, Vệ Vương mời Tử Trọng và Hàn Toại tới ngự uyển uống rượu, sẵn tiện đàm đạo việc nước.
Ngồi vào bàn tiệc, Hàn Toại dâng chén rượu lên nói:
-Hàn Toại tài hèn sức mọn, thân phận tầm thường, nay được chúa công tin dùng, lại nhờ ơn dìu dắt của Thừa tướng mà bước lên ngôi vị Nguyên soái, ân này, dẫu thịt nát xương tan cũng khó báo đền!
Vệ Vương cười:
-Ấy là nhờ cái tài của ngươi đó, không phải ta và Thừa tướng thiên vị đâu!
Tử Trọng uống cạn chén rượu, khen Hàn Toại:
-Ta thấy ngươi huấn luyện binh mã rất cao siêu, cứ đà này quân ta càng ngày càng hùng mạnh!
Hàn Toại đáp:
-Hàn Toại nào có tài nghệ gì, tất cả là nhờ đội quân của chúa công vốn đã tinh nhuệ sẵn, việc huấn luyện rất dễ dàng!
Vệ Vương vỗ vai Hàn Toại, nói:
-Ta tin đội quân ấy trong tay ngươi sẽ như thiên binh vạn mã!
Ba người cười nói vui vẻ, bàn về đủ thứ chuyện đại sự.
Bất giác, Vệ Vương hỏi:
-Hôm trước ta có đọc một cuốn sách, nói về thế nào là bạo chúa, thế nào là hiền quân, cảm thấy rất tâm đắc, nay muốn bàn luận với hai người!
Hàn Toại tò mò:
-Chúa công, sách ấy nói thế nào?
Vệ Vương đáp:
-Bạo chúa thì cai trị bằng nỗi sợ, đặt lợi ích cá nhân lên trên đất nước, thường tàn nhẫn và đa nghi. Hiền quân thì cai trị bằng trí và đức, lấy dân làm gốc, biết dùng người và giữ kỷ cương. Lý thuyết thì là vậy, nhưng ta nghĩ rằng, có những lúc, một vị vua phải hành động tàn nhẫn vì đại cuộc, giữ sự ổn định cho quốc gia. Ranh giới giữa bạo chúa và hiền quân rất mong manh, làm sao để cân bằng được hai điều ấy?
Hàn Toại nói:
-Đây là một vấn đề rất sâu xa, thần xưa nay nghiên cứu binh pháp, vốn không am tường về việc trị quốc. Câu này xin hỏi Thừa tướng ạ!
Tử Trọng từ tốn:
-Nói ví dụ thế này, hiền quân và bạo chúa đều nắm trong tay quyền sinh quyền sát, nhưng có điểm khác biệt. Hiền quân thì giết người mưu phản thật còn bạo chúa thì giết vì nghi ngờ. Hiền quân giết người vì đại nghiệp, bạo chúa giết người để thị uy. Hiền quân sau khi giết rồi thì ổn định lòng dân, bạo chúa giết xong lại càng nghi kỵ, lại giết tiếp. Cùng một hành vi nhưng một bên là trị loạn, một bên là gieo loạn. Năm xưa Tần Thủy Hoàng tìm thuốc trường sinh, đốt sách chôn Nho, bắt dân xây cung A Phòng, xây Vạn Lý Trường Thành, ban luật pháp hà khắc lên thiên hạ, đều là việc làm của một bạo chúa cả. Ông ta giành cả đời để thống nhất Trung Nguyên, xây dựng nên Đế nghiệp nhưng cũng chính vì cái tâm sợ mất giang sơn mà thành ra nhà Tần sụp đổ vào tay nhà Hán, quả là đáng tiếc!
Vệ Vương vừa uống rượu, vừa nghe Tử Trọng nói những lời sâu xa, lòng rất tâm đắc.
Vệ Vương hỏi:
-Nhưng cớ sao Tần Thủy Hoàng lại thay đổi như vậy khi đã có mọi thứ trong tay?
Tử Trọng đáp:
-Nhiều bạo chúa không khởi đầu là bạo chúa, họ bắt đầu như một minh quân, sau ấy từ từ chuyển hóa. Khi có quyền lực lớn, bắt đầu lo mất quyền, rồi sinh nghi kỵ, rồi dùng bạo lực để kiểm soát, càng bạo lực lại càng cô độc mà càng cô độc thì lại càng sợ hãi hơn. Đến lúc ấy, họ không còn cai trị thiên hạ nữa, mà đang chống lại chính cái bóng của mình!
Hàn Toại hỏi Tử Trọng:
-Vậy một hiền quân làm thế nào mới được vẹn toàn?
Tử Trọng trả lời:
-Hiền quân không phải lúc nào cũng mềm mỏng, hiền quân thực sự biết khi nào nên tàn nhẫn, nhưng tuyệt đối không tàn nhẫn vì chuyện riêng tư. Hiền quân có thể trảm phản tặc không chớp mắt, nhưng lại có thể cúi mình nhận lỗi trước dân. Điều nguy hiểm nhất của một vị vua là luôn tin mình đúng, khiến ranh giới giữa hiền quân và bạo chúa ngày càng mờ nhạt!
Hàn Toại nghe danh Tử Trọng từ lâu, nhưng đến hôm nay nghe được những lời này thì sởn gai ốc, y cảm thấy mình rất nhỏ bé so với kiến thức thâm sâu của Thừa tướng.
Công tử Sóc sau hai ngày hai đêm chạy thục mạng đã đến địa giới của nước Vệ, vì đói khát và kiệt sức nên Sóc gục xuống từ lưng ngựa, ngất lịm lúc nào không hay.
Sóc mê man bất tỉnh, đến chiều tối hôm sau chợt tỉnh giấc, thấy mình đang nằm trong một ngôi nhà nhỏ chốn thôn dã, có một người nam nhân đang đứng nấu ăn bên bếp.
Sóc gượng người dậy, nói với người đó:
-Đây là đâu, ngươi là ai?
Người đó tay vừa xào nấu, vừa quay ra nói:
-Ngươi tỉnh rồi sao? Hôm qua ngươi ngất ở ngoài đường, ta đem ngươi về đây chăm sóc đó, không thì thú dữ tới ăn thịt ngươi rồi!
Sóc nhớ ra sự việc xảy ra hôm qua, cúi đầu tạ:
-Sóc này mang ơn ngươi, sau này nhất định sẽ báo đáp!
Người đó xua tay:
-Ơn huệ gì, ta đây hành hiệp trượng nghĩa, gặp cảnh hoạn nạn lẽ nào không giúp! Cơm sắp nấu xong rồi, ngươi ngồi dậy chuẩn bị ăn đi, phụ thân ta sắp về rồi!
Công tử Sóc bước ra khỏi giường, lại bên bếp giúp người đó sắp xếp bát đũa vào bàn.
Sóc hỏi:
-Không biết quý danh của vị huynh đệ đây là?
Người đó cười:
-Huynh đệ gì chứ, ta là nữ nhân! Tên ta là Tường San.
Sóc bất ngờ, hỏi:
-Ta tên Sóc, cô là nữ nhân sao? Sao cô nương ăn mặc giống nam nhi vậy?
Tường San đáp:
-Mẹ ta mất sớm, ta từ nhỏ đã theo cha bổ củi, luyện võ, tính tình vốn không khác gì nam nhân. Ta chỉ thích mặc đồ của nam nhi, vừa thoải mái, vừa dễ cử động!
Sóc bật cười, nói:
-Thì ra là vậy, cô nương quả là hiếm gặp!
Đúng lúc ấy, phụ thân của Tường San, tên Tường Côn trở về, trông thấy Sóc, nói:
-Ngươi tỉnh rồi sao? Hôm qua San nhi cứ sốt sắng lo cho ngươi đó!
Tường San quay ra chào:
-Cha đã về, con chuẩn bị xong cơm nước rồi đây!
Ba người ngồi lại bàn ăn dùng bữa.
Sóc bụng đói cồn cào, và bát cơm ngấu nghiến, y nói:
-Lâu rồi ta mới được ăn ngon thế này, cô nương quả rất có tài nấu nướng!
Tường San cười, đáp:
-Chắc do ngươi đói quá mà thôi, đây toàn là những món tầm thường, không có gì đặc biệt!
Tường Côn cười khà khà, uống chén rượu nhỏ rồi nói:
-Một miếng khi đói bằng một gói khi no!
Tường Côn hỏi Sóc:
-Ta trông ngươi tướng mạo thanh tú, ắt không phải thường dân mà lưu lạc chốn này!
Sóc đáp:
-Không giấu gì tiền bối, ta lưu lạc từ nước Yên tới đây!
Tường Côn hỏi tiếp:
-Vì cớ sự gì?
Sóc thuật lại toàn bộ xuất thân của mình, rồi đến biến cố xảy ra sau khi Yên Vương qua đời.
Tường Côn trợn trừng mắt bất ngờ, nói:
-Thì ra ngươi là công tử của nước Yên, mới đầu ta đã nghi hoặc rồi! Vậy ngươi chạy trốn tới nước Vệ rồi làm gì tiếp?
Sóc nói:
-Ta sẽ tìm cách yết kiến Vệ Vương, cầu sự trợ giúp!
Tường San chen vào:
-Oa, ngươi là kẻ rất có quyền thế phải không? Nhưng trông ngươi thư sinh, sức trói gà không chặt liệu có một mình tới được kinh thành không?
Tường Côn thấy Tường San sau khi nghe về xuất thân của Sóc, mắt sáng lên. Ông đột nhiên đứng dậy, kéo Tường San ra một góc rồi thủ thỉ, xì xào một lúc.
Sóc không hiểu chuyện gì, ngồi ăn tiếp. Sóc thấy Tường San đầu cứ gật lia lịa, trông có vẻ hào hứng lắm.
Bàn bạc một lúc xong, hai cha con trở lại bàn ăn, Tường Côn nói với Sóc:
-San nhi theo ta luyện võ nhiều năm, võ nghệ rất cao cường. Nó xưa nay chỉ thích làm việc của trượng phu, muốn tòng quân đi lính nhưng vì luật lệ không cho nữ nhân nhập ngũ nên nó rất buồn rầu. Ta thấy khí chất của ngươi không tầm thường, sau này ắt sẽ được đại sự. Hôm nay ngươi cùng bọn ta coi như cũng có chút ân tình, có thể giúp lão phu một việc được không?
Sóc hỏi:
-Bất cứ việc gì, xin tiền bối cứ nói!
Tường Côn nói:
-Ta khi xưa hành tẩu giang hồ, đã đi khắp năm châu bốn bể, nay ẩn cư nơi thôn dã, không có điều gì bận lòng. Chỉ tiếc rằng đứa con gái của ta, một mực muốn sống cuộc đời của trượng phu mà chưa có cơ hội, nếu giữ nó chốn này, sống cuộc sống tẻ nhạt cùng ta thì tội nghiệp cho nó lắm. Ngươi có thể cho nó đi theo phò tá, sau này dùng nó vào việc binh, là ta đã mãn nguyện lắm!
Sóc cảm động, nói:
-Chỉ là một người xa lạ mà tiền bối tin tưởng ta như vậy sao? Được, ơn nghĩa này ta nhất định không quên, sau này nếu có cơ may phục quốc, nhất định ta sẽ phong cô làm tướng quân!
Tường San nghe vậy mừng rỡ, cảm ơn Sóc ríu rít.
Hôm sau, vì việc cấp bách nên Sóc từ biệt Tường Côn để hướng về kinh thành nước Vệ từ sáng sớm. Tường San cũng thu xếp hành lý để đi theo phò tá công tử Sóc. Tường Côn dặn dò Tường San hồi lâu rồi giục cô đi cùng Sóc lên đường. Tường San khi ấy từ biệt cha mình, lòng quyến luyến mãi chẳng rời.
Sóc và Tường San lên ngựa khởi hành, Tường Côn lặng lẽ nhìn theo, từ xa, ông rơi giọt lệ hạnh phúc, mừng cho con gái mình rốt cuộc đã đi theo con đường mà nó luôn hằng mong ước!
Trống canh ba vừa dứt, thao trường đã sáng rực đuốc lửa. Hàn Toại không cho binh sĩ luyện những thế trận hoa mỹ, mà bắt đầu bằng thứ căn bản nhất đó là chỉnh khí và hợp nhịp.
- Ba hàng trước, tiến ba bước-dừng—đổi thế đỡ!
Lệnh vừa dứt, hàng thương binh đồng loạt bước lên, mũi thương hạ thấp đúng một góc, tạo thành thế Bình phong cản kỵ, Hàn Toại lập tức cho kỵ binh giả xung trận. Ngựa chưa kịp chạm hàng, tuyến đầu đã xoay trục, hàng sau tràn lên, mũi thương đổi hướng như nước chảy, khóa kín khoảng trống. Cả đội hình, hàng ngũ dưới tay Hàn Toại chuyển động như một con mãnh hổ.
Hàn Toại giơ tay ra hiệu dừng, ánh mắt sắc như cắt, nói:
-Các ngươi vừa rồi nhanh, nhưng chưa chuẩn. Trận địa không cần nhanh hơn địch, mà cần đúng hơn địch!
Ngay sau đó, Hàn Toại chuyển sang luyện biến trận liên hoàn, y chia quân làm ba doanh, mỗi doanh nhận một cờ hiệu khác nhau. Khi cờ đỏ phất lên, doanh trung quân lập tức tản thành hình nhạn hành, kéo giãn chiến tuyến để dụ địch. Cờ xanh nổi, hai cánh khép lại thành gọng kìm, khóa đường lui. Nhưng điều đáng sợ nhất là khi cờ đen xuất hiện,tất cả lập tức bỏ thế công, thu về trụ trận, dựng khiên, hạ thấp trọng tâm, biến thành một khối phòng ngự bất động.
Hàn Toại hô to:
-Biến mà không loạn, tán mà không rời, đó mới là binh pháp!
Cuối buổi, Hàn Toại không cho quân nghỉ, mà bất ngờ thổi còi đổi lệnh giữa lúc binh sĩ đang di chuyển. Đội hình buộc phải vừa chạy vừa đổi trận, người trước chưa dừng, người sau đã phải nhập thế mới. Kẻ nào chậm nửa nhịp, lập tức bị thay ra ngoài.
Hàn Toại đứng trên đài cao, nhìn xuống không chớp mắt. Trong mắt y, một đội quân chân chính không phải là đội quân biết đánh khi có lệnh, mà là đội quân dù đổi lệnh giữa loạn thế, vẫn giữ được nhịp trận ban đầu!
Nhờ thế, lính của nước Vệ dù đã rất tinh nhuệ, dưới bàn tay chỉ huy của Hàn Toại, lại càng hoàn thiện hơn nữa.
Một hôm, Vệ Vương mời Tử Trọng và Hàn Toại tới ngự uyển uống rượu, sẵn tiện đàm đạo việc nước.
Ngồi vào bàn tiệc, Hàn Toại dâng chén rượu lên nói:
-Hàn Toại tài hèn sức mọn, thân phận tầm thường, nay được chúa công tin dùng, lại nhờ ơn dìu dắt của Thừa tướng mà bước lên ngôi vị Nguyên soái, ân này, dẫu thịt nát xương tan cũng khó báo đền!
Vệ Vương cười:
-Ấy là nhờ cái tài của ngươi đó, không phải ta và Thừa tướng thiên vị đâu!
Tử Trọng uống cạn chén rượu, khen Hàn Toại:
-Ta thấy ngươi huấn luyện binh mã rất cao siêu, cứ đà này quân ta càng ngày càng hùng mạnh!
Hàn Toại đáp:
-Hàn Toại nào có tài nghệ gì, tất cả là nhờ đội quân của chúa công vốn đã tinh nhuệ sẵn, việc huấn luyện rất dễ dàng!
Vệ Vương vỗ vai Hàn Toại, nói:
-Ta tin đội quân ấy trong tay ngươi sẽ như thiên binh vạn mã!
Ba người cười nói vui vẻ, bàn về đủ thứ chuyện đại sự.
Bất giác, Vệ Vương hỏi:
-Hôm trước ta có đọc một cuốn sách, nói về thế nào là bạo chúa, thế nào là hiền quân, cảm thấy rất tâm đắc, nay muốn bàn luận với hai người!
Hàn Toại tò mò:
-Chúa công, sách ấy nói thế nào?
Vệ Vương đáp:
-Bạo chúa thì cai trị bằng nỗi sợ, đặt lợi ích cá nhân lên trên đất nước, thường tàn nhẫn và đa nghi. Hiền quân thì cai trị bằng trí và đức, lấy dân làm gốc, biết dùng người và giữ kỷ cương. Lý thuyết thì là vậy, nhưng ta nghĩ rằng, có những lúc, một vị vua phải hành động tàn nhẫn vì đại cuộc, giữ sự ổn định cho quốc gia. Ranh giới giữa bạo chúa và hiền quân rất mong manh, làm sao để cân bằng được hai điều ấy?
Hàn Toại nói:
-Đây là một vấn đề rất sâu xa, thần xưa nay nghiên cứu binh pháp, vốn không am tường về việc trị quốc. Câu này xin hỏi Thừa tướng ạ!
Tử Trọng từ tốn:
-Nói ví dụ thế này, hiền quân và bạo chúa đều nắm trong tay quyền sinh quyền sát, nhưng có điểm khác biệt. Hiền quân thì giết người mưu phản thật còn bạo chúa thì giết vì nghi ngờ. Hiền quân giết người vì đại nghiệp, bạo chúa giết người để thị uy. Hiền quân sau khi giết rồi thì ổn định lòng dân, bạo chúa giết xong lại càng nghi kỵ, lại giết tiếp. Cùng một hành vi nhưng một bên là trị loạn, một bên là gieo loạn. Năm xưa Tần Thủy Hoàng tìm thuốc trường sinh, đốt sách chôn Nho, bắt dân xây cung A Phòng, xây Vạn Lý Trường Thành, ban luật pháp hà khắc lên thiên hạ, đều là việc làm của một bạo chúa cả. Ông ta giành cả đời để thống nhất Trung Nguyên, xây dựng nên Đế nghiệp nhưng cũng chính vì cái tâm sợ mất giang sơn mà thành ra nhà Tần sụp đổ vào tay nhà Hán, quả là đáng tiếc!
Vệ Vương vừa uống rượu, vừa nghe Tử Trọng nói những lời sâu xa, lòng rất tâm đắc.
Vệ Vương hỏi:
-Nhưng cớ sao Tần Thủy Hoàng lại thay đổi như vậy khi đã có mọi thứ trong tay?
Tử Trọng đáp:
-Nhiều bạo chúa không khởi đầu là bạo chúa, họ bắt đầu như một minh quân, sau ấy từ từ chuyển hóa. Khi có quyền lực lớn, bắt đầu lo mất quyền, rồi sinh nghi kỵ, rồi dùng bạo lực để kiểm soát, càng bạo lực lại càng cô độc mà càng cô độc thì lại càng sợ hãi hơn. Đến lúc ấy, họ không còn cai trị thiên hạ nữa, mà đang chống lại chính cái bóng của mình!
Hàn Toại hỏi Tử Trọng:
-Vậy một hiền quân làm thế nào mới được vẹn toàn?
Tử Trọng trả lời:
-Hiền quân không phải lúc nào cũng mềm mỏng, hiền quân thực sự biết khi nào nên tàn nhẫn, nhưng tuyệt đối không tàn nhẫn vì chuyện riêng tư. Hiền quân có thể trảm phản tặc không chớp mắt, nhưng lại có thể cúi mình nhận lỗi trước dân. Điều nguy hiểm nhất của một vị vua là luôn tin mình đúng, khiến ranh giới giữa hiền quân và bạo chúa ngày càng mờ nhạt!
Hàn Toại nghe danh Tử Trọng từ lâu, nhưng đến hôm nay nghe được những lời này thì sởn gai ốc, y cảm thấy mình rất nhỏ bé so với kiến thức thâm sâu của Thừa tướng.
Công tử Sóc sau hai ngày hai đêm chạy thục mạng đã đến địa giới của nước Vệ, vì đói khát và kiệt sức nên Sóc gục xuống từ lưng ngựa, ngất lịm lúc nào không hay.
Sóc mê man bất tỉnh, đến chiều tối hôm sau chợt tỉnh giấc, thấy mình đang nằm trong một ngôi nhà nhỏ chốn thôn dã, có một người nam nhân đang đứng nấu ăn bên bếp.
Sóc gượng người dậy, nói với người đó:
-Đây là đâu, ngươi là ai?
Người đó tay vừa xào nấu, vừa quay ra nói:
-Ngươi tỉnh rồi sao? Hôm qua ngươi ngất ở ngoài đường, ta đem ngươi về đây chăm sóc đó, không thì thú dữ tới ăn thịt ngươi rồi!
Sóc nhớ ra sự việc xảy ra hôm qua, cúi đầu tạ:
-Sóc này mang ơn ngươi, sau này nhất định sẽ báo đáp!
Người đó xua tay:
-Ơn huệ gì, ta đây hành hiệp trượng nghĩa, gặp cảnh hoạn nạn lẽ nào không giúp! Cơm sắp nấu xong rồi, ngươi ngồi dậy chuẩn bị ăn đi, phụ thân ta sắp về rồi!
Công tử Sóc bước ra khỏi giường, lại bên bếp giúp người đó sắp xếp bát đũa vào bàn.
Sóc hỏi:
-Không biết quý danh của vị huynh đệ đây là?
Người đó cười:
-Huynh đệ gì chứ, ta là nữ nhân! Tên ta là Tường San.
Sóc bất ngờ, hỏi:
-Ta tên Sóc, cô là nữ nhân sao? Sao cô nương ăn mặc giống nam nhi vậy?
Tường San đáp:
-Mẹ ta mất sớm, ta từ nhỏ đã theo cha bổ củi, luyện võ, tính tình vốn không khác gì nam nhân. Ta chỉ thích mặc đồ của nam nhi, vừa thoải mái, vừa dễ cử động!
Sóc bật cười, nói:
-Thì ra là vậy, cô nương quả là hiếm gặp!
Đúng lúc ấy, phụ thân của Tường San, tên Tường Côn trở về, trông thấy Sóc, nói:
-Ngươi tỉnh rồi sao? Hôm qua San nhi cứ sốt sắng lo cho ngươi đó!
Tường San quay ra chào:
-Cha đã về, con chuẩn bị xong cơm nước rồi đây!
Ba người ngồi lại bàn ăn dùng bữa.
Sóc bụng đói cồn cào, và bát cơm ngấu nghiến, y nói:
-Lâu rồi ta mới được ăn ngon thế này, cô nương quả rất có tài nấu nướng!
Tường San cười, đáp:
-Chắc do ngươi đói quá mà thôi, đây toàn là những món tầm thường, không có gì đặc biệt!
Tường Côn cười khà khà, uống chén rượu nhỏ rồi nói:
-Một miếng khi đói bằng một gói khi no!
Tường Côn hỏi Sóc:
-Ta trông ngươi tướng mạo thanh tú, ắt không phải thường dân mà lưu lạc chốn này!
Sóc đáp:
-Không giấu gì tiền bối, ta lưu lạc từ nước Yên tới đây!
Tường Côn hỏi tiếp:
-Vì cớ sự gì?
Sóc thuật lại toàn bộ xuất thân của mình, rồi đến biến cố xảy ra sau khi Yên Vương qua đời.
Tường Côn trợn trừng mắt bất ngờ, nói:
-Thì ra ngươi là công tử của nước Yên, mới đầu ta đã nghi hoặc rồi! Vậy ngươi chạy trốn tới nước Vệ rồi làm gì tiếp?
Sóc nói:
-Ta sẽ tìm cách yết kiến Vệ Vương, cầu sự trợ giúp!
Tường San chen vào:
-Oa, ngươi là kẻ rất có quyền thế phải không? Nhưng trông ngươi thư sinh, sức trói gà không chặt liệu có một mình tới được kinh thành không?
Tường Côn thấy Tường San sau khi nghe về xuất thân của Sóc, mắt sáng lên. Ông đột nhiên đứng dậy, kéo Tường San ra một góc rồi thủ thỉ, xì xào một lúc.
Sóc không hiểu chuyện gì, ngồi ăn tiếp. Sóc thấy Tường San đầu cứ gật lia lịa, trông có vẻ hào hứng lắm.
Bàn bạc một lúc xong, hai cha con trở lại bàn ăn, Tường Côn nói với Sóc:
-San nhi theo ta luyện võ nhiều năm, võ nghệ rất cao cường. Nó xưa nay chỉ thích làm việc của trượng phu, muốn tòng quân đi lính nhưng vì luật lệ không cho nữ nhân nhập ngũ nên nó rất buồn rầu. Ta thấy khí chất của ngươi không tầm thường, sau này ắt sẽ được đại sự. Hôm nay ngươi cùng bọn ta coi như cũng có chút ân tình, có thể giúp lão phu một việc được không?
Sóc hỏi:
-Bất cứ việc gì, xin tiền bối cứ nói!
Tường Côn nói:
-Ta khi xưa hành tẩu giang hồ, đã đi khắp năm châu bốn bể, nay ẩn cư nơi thôn dã, không có điều gì bận lòng. Chỉ tiếc rằng đứa con gái của ta, một mực muốn sống cuộc đời của trượng phu mà chưa có cơ hội, nếu giữ nó chốn này, sống cuộc sống tẻ nhạt cùng ta thì tội nghiệp cho nó lắm. Ngươi có thể cho nó đi theo phò tá, sau này dùng nó vào việc binh, là ta đã mãn nguyện lắm!
Sóc cảm động, nói:
-Chỉ là một người xa lạ mà tiền bối tin tưởng ta như vậy sao? Được, ơn nghĩa này ta nhất định không quên, sau này nếu có cơ may phục quốc, nhất định ta sẽ phong cô làm tướng quân!
Tường San nghe vậy mừng rỡ, cảm ơn Sóc ríu rít.
Hôm sau, vì việc cấp bách nên Sóc từ biệt Tường Côn để hướng về kinh thành nước Vệ từ sáng sớm. Tường San cũng thu xếp hành lý để đi theo phò tá công tử Sóc. Tường Côn dặn dò Tường San hồi lâu rồi giục cô đi cùng Sóc lên đường. Tường San khi ấy từ biệt cha mình, lòng quyến luyến mãi chẳng rời.
Sóc và Tường San lên ngựa khởi hành, Tường Côn lặng lẽ nhìn theo, từ xa, ông rơi giọt lệ hạnh phúc, mừng cho con gái mình rốt cuộc đã đi theo con đường mà nó luôn hằng mong ước!
