Dã sử Tĩnh Hải Loạn Lạc

Bạn thích nước nào nhất?

  • 1. Ngô

    Bình chọn: 1 20.0%
  • 2. Soái

    Bình chọn: 0 0.0%
  • 3. Vệ

    Bình chọn: 4 80.0%

  • Số thành viên bình chọn
    5
Chương 90: Thương Cường một mình đối đáp văn võ bá quan nước Soái

c90.png


Thương Cường chậm rãi bước tới trước sảnh điện, quỳ xuống thưa:

-Thảo dân Thương Cường, bái kiến Soái Vương!

Soái Vương nhìn Thương Cường, cảm thấy rất quen thuộc với người này, dường như đã gặp ở đâu rồi. Soái Vương hỏi:

-Ngươi tới từ đâu?

Thương Cường đáp:

-Thảo dân đến từ huyện Lạc Xuyên!

Soái Vương hỏi tiếp:

-Lạc Xương xa như vậy, ngươi đi bằng gì tới?

Thương Cường đáp:

-Thảo dân cuốc bộ tới!

Soái Vương hỏi tiếp:

-Đường xá xa xôi như vậy, vì cớ gì mà ngươi phải tới kinh thành cho bằng được?

Thương Cường thuật lại chuyện rương gỗ ở Lạc Xuyên, các quan xung quanh đều xì xào bàn tán, cho rằng Thương Cường là kẻ bịa chuyện. Thế nhưng Thương Cường không hề nao núng, nét mặt vẫn cương nghị, hướng về phía Soái Vương.

Đang lúc các quan đang ồn ào, Nguyên Hà nói lớn:

-Các ngươi đã quên câu chuyện Tiểu Đồng rồi sao, chớ nên khinh thường người khác vội rồi chuốc lấy xấu hổ!

Các quan nghe thế cũng không dám bàn tán nữa. Soái Vương nghe câu chuyện của Thương Cường thì không những tin, mà còn thấy tâm đắc, vì câu chuyện đó rất tương đồng với giấc mơ của Soái Vương. Soái Vương nói:

-Ngươi có đem theo vật ấy đi chăng?

Thương Cường gật đầu, rồi lôi trong áo ra một cuộn lụa vàng đã ngả màu và tấm thẻ ngọc dâng lên. Soái Vương nhìn ngắm một lúc, đưa cho Nguyên Hà, hỏi:

-Vật này ta nhìn rất quen, khanh nhìn có ra chăng?

Nguyên Hà nhìn rất kỹ, nói:

-Theo trí nhớ của thần thì đây rất giống đồ vật của hoàng thất họ Lữ khi xưa. Chất liệu này, không thể nhầm lẫn được!

Soái Vương lúc bấy giờ càng tin tưởng Thương Cường hơn, nói:

-Nếu ngươi đã được duyên phận đưa đẩy như vậy, thì ta tất phải sẵn lòng giang tay thâu nạp ngươi về trướng.

Thương Cường mừng:

-Đa tạ Soái Vương đã tin tưởng!

Soái Vương nói tiếp:

-Theo quy chế nước Soái, người mới gia nhập triều đình phải đi lên từ chức quan nhỏ nhất, sau đó tùy theo năng lực, thâm niên mà xét thêm chức bậc. Nhưng với một kẻ không tầm thường như ngươi, theo lộ trình đó thì quá mất thời gian, ta không có kiên nhẫn để chờ đợi. Ngày nay nước Vệ bành trướng, liên minh phía bắc cậy đông hiếp yếu, nước Soái ta đang rơi vào một trạng thái rất cấp bách, tuyệt đối không được chậm trễ một ngày tháng nào.

Nguyên Hà hỏi:

-Vậy ý chúa công là ...?

Soái Vương đáp:

-Ta là người thích đi thẳng vào vấn đề, không thích vòng vo, ta sẽ hỏi ngươi một câu mà nước Soái bây giờ cần nhất. Nếu trả lời được, thuyết phục được các quan đứng đây, ta sẽ lập tức phong ngươi làm Quốc sư, bổng lộc trên vạn người.

Thương Cường đáp:

-Xin Soái Vương cứ hỏi!

Soái Vương đáp:

-Nước Soái ta đất không nhỏ, dân không ít, binh lực mạnh nhưng đối đầu với Vệ, Cừ, Trịnh đều không nắm chắc năm phần thắng. Mấy năm nay nước Soái đã dần chậm lại, không có mấy đột phá, đã thế lại còn bị tứ phương cô lập, ta ngày nào cũng trăn trở suy nghĩ mà chưa ra kế sách vẹn toàn. Nay nếu ngươi trả lời được điều này, giúp Soái trong ba năm tới phát triển cực thịnh, binh lực đủ trấn áp ngoại bang, mở rộng lãnh thổ, tài nguyên dồi dào, các nước nhìn vào đều phải lo sợ, thì ta lấy làm mừng lắm.

Cả điện yên lặng, lắng nghe Thương Cường sẽ trả lời câu hỏi hóc búa này như thế nào.

Thương Cường nói:

-Trước khi thảo dân trả lời câu hỏi này, thì xin hỏi Soái Vương một câu trước!

Soái Vương đáp:

-Được, hỏi đi!

Thương Cường hỏi:

-Soái Vương hỏi làm sao để ba năm cường thịnh, thảo dân xin hỏi lại một câu, ngài muốn một nước mạnh, hay là binh lực mạnh?

Soái Vương hơi nhíu mày:

-Có gì khác?

Thương Cường đáp:

-Khác như trời với đất, quân mạnh mà nước yếu thì đánh được một trận, nước mạnh thì đánh được mười trận. Quân mạnh mà luật yếu, lương yếu, dân nghèo, quan tham thì thắng một trận rồi kiệt sức. Nước mạnh thì dù thua một trận vẫn có thể đánh tiếp mười năm.

Soái Vương gật đầu ra hiệu đồng tình. Thương Cường nhìn quanh văn võ bá quan, nói tiếp:

-Điều nước Soái thiếu, không phải binh, điều nước Soái thiếu là thế!

Một vị Thượng đại phu cười nhạt:

-Thế là gì?

Thương Cường đáp:

-Là cái khiến một vạn người phát huy sức của mười vạn.

-Là cái khiến nước nhỏ cũng khiến nước lớn không dám khinh.

-Là cái khiến dân tự nguyện làm giàu cho quốc gia, tướng tự nguyện liều chết vì quân công, quan lại không dám tham ô vì luật pháp.

-Muốn có cái thế ấy, phải bắt đầu bằng việc phá bỏ bốn căn bệnh của nước Soái.

Soái Vương chống tay lên long án:

-Bốn căn bệnh?

Thương Cường đáp:

-Thứ nhất, người có công hưởng ít, kẻ vô công hưởng nhiều.

-Thứ hai, pháp lệnh nhiều nhưng không ai thật sự sợ, mà chỉ chê bai sau lưng.

-Thứ ba, quan lại chỉ lo giữ ghế chứ không lo làm việc.

-Thứ tư, dân giàu vì buôn bán, đầu cơ nhiều hơn sản xuất.

-Chỉ cần bốn bệnh này còn tồn tại, dù Soái Vương có thêm mười vạn quân, nước Soái cũng chỉ là con hổ béo mà răng đã cùn.

Trong điện lập tức xôn xao, một vị Quốc cữu hỏi Thương Cường:

-Ngươi nói nghe dễ, nhưng sửa cả quốc gia trong ba năm chẳng khác nào dời núi lấp biển!

Thương Cường cười:

-Dời núi thì khó, nhưng đổi hướng dòng nước thì dễ hơn nhiều. Tại hạ không thay đổi lòng người, tại hạ chỉ cần thay đổi lợi ích của con người. Con người không phải là thần tiên, họ chỉ luôn hướng về nơi có lợi. Một nước kém là nước để lợi ích đối nghịch với nước. Một nước sáng suốt là nước khiến người dân muốn giàu thì phải làm nước giàu trước.

Quan Bộ hộ bước ra hỏi:

-Nếu trọng nông, trọng quân như lời ngươi, thương nghiệp sẽ suy yếu, quốc khố lấy gì mà giàu?

Thương Cường đáp:

-Đại nhân sai rồi, quốc khố giàu vì giá trị được tạo ra, không phải vì đồng tiền đổi từ tay người này sang tay người khác. Một trăm thương nhân bán đi bán lại một đấu gạo, nước vẫn chỉ có một đấu gạo. Nhưng nếu một nông dân khai thêm một mẫu ruộng, đất nước sẽ có thêm một mẫu ruộng mãi mãi. Cái gì sinh ra của cải thì thưởng, cái gì chỉ chuyển của cải thì quản, cái gì hút máu đất nước thì diệt.

Các quan nghe Thương Cường đáp trôi chảy như dòng thác, không phản biện được gì. Một vị võ tướng hỏi:

-Muốn ba năm binh lực áp đảo Vệ, Cừ, Trịnh là chuyện không tưởng, ngươi lấy gì mà nói đây!

Thương Cường đáp:

-Tại hạ chưa từng nói ba năm luyện ra thiên hạ vô địch, tại hạ nói nói ba năm khiến quốc lực vượt xa hiện tại. Tướng quân nghĩ binh lực chỉ là số lính, tại hạ lại nghĩ rằng, một người đánh bằng hai, hai người đánh bằng năm, năm người đánh bằng mười, điều ấy không nằm ở cơ bắp, mà nằm ở phép nước.

Thương Cường quay sang hỏi những vị võ tướng còn lại:

-Xin hỏi, hai đội quân cùng một vạn người, một bên lập công được phong đất, một bên chỉ được thưởng vàng bạc và mấy câu khen thưởng, bên nào xông trước?

Vị võ tướng đáp:

-Đương nhiên là phong đất!

Thương Cường hỏi tiếp:

-Một bên bỏ chạy bị chém, một bên bỏ chạy bị phạt, bên nào giữ được trận?

Nhiều vị tướng cùng đồng thanh:

-Đương nhiên bên bị chém!

Thương Cường hỏi tiếp:

-Hai đội quân, một bên quân lương đầy đủ, một bên quan quân ăn chặn ba phần, bên nào thắng?

Các vị tướng đều hiểu ý của Thương Cường, không phản bác gì thêm. Một lão thần phản bác:

-Ngươi nói thưởng phạt nghiêm, nhưng pháp quá nghiêm thì dân oán!

Thương Cường đáp:

-Dân không sợ pháp nghiêm, dân chỉ sợ pháp không công bằng! Trộm cắp vì đói và tham quan ăn cả kho lương, nếu đều được tha, dân sẽ oán, nếu đều bị trừng trị, dân sẽ phục. Nếu dân thường bị chém, quý tộc thì vô sự, pháp luật ấy không phải pháp, chỉ là roi đánh kẻ yếu.

Một người thuộc quý tộc nói:

-Theo lời ngươi, con cháu công thần chẳng còn đặc quyền?

Thương Cường không chút do dự:

-Công của tổ tiên nên ghi vào sử, không nên ghi vào bổng lộc của mười đời con cháu. Nếu cha ông cứu nước, tại hạ kính. Nếu con cháu ông chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, tại hạ khinh. Đất nước thưởng công, không thưởng huyết thống.

Một vị quý tộc khác nói:

-Nếu quý tộc phản đối cải cách thì sao?

Thương Cường cười nhạt, hỏi ngược:

-Nước tồn tại vì quý tộc, hay quý tộc tồn tại nhờ nước? Nước còn, quý tộc còn, nước mất, quý tộc cũng chết hoặc làm tù binh cho nước khác. Cho nên, người phản đối cải cách không phải vì yêu nước, mà vì sợ mất lợi!

Đám người quý tộc tức Thương Cường lắm, nhưng không sao phản biện được.

Một vị học sĩ hỏi:

-Nếu các nước biết Soái cải cách, thừa lúc chưa mạnh sẽ hợp binh đánh trước?

Thương Cường đáp:

-Vậy càng phải cải cách, nước yếu, dù không cải cách họ cũng sẽ đánh. Nước đang mạnh lên, họ muốn đánh cũng phải cân nhắc. Điều khiến chư hầu sợ nhất không phải nước Soái hôm nay, mà là nước Soái của ba năm sau.

Soái Vương hỏi:

-Ba năm đó, ngươi dự định làm những gì?

Thương Cường giơ ba ngón tay:

-Năm đầu, đổi pháp, sửa hộ tịch, chia lại thuế, thưởng quân công, trị tham quan, khai hoang rượng đất.

-Năm hai, giàu dân, kho lương đầy, đường sá thông, xưởng rèn mở, quân dự bị luyện tập.

-Năm ba, cường binh, lấy quân công định tước, tổ chức quân theo chiến lực, đánh một trận nhỏ để lập uy, khiến thiên hạ biết nước Soái đã đổi khác.

Nguyên Hà hỏi:

-Nếu thất bại thì sao?

Thương Cường đáp:

-Tại hạ không sợ thất bại, chỉ sợ không dám thay đổi. Một nước suy yếu không chết vì thua một trận, mà chết vì thắng được hôm nay rồi vẫn dùng phép của hôm qua.

Thương Cường bước lên một bước, giọng vang khắp đại điện:

-Thảo dân dám nói một câu, thiên hạ không có nước yếu, chỉ có phép trị yếu. Phép trị mạnh thì dân mạnh, dân mạnh thì nước mạnh, nước mạnh thì binh mạnh, binh mạnh thì chư hầu tất phải cúi đầu. Đây không phải đạo lý thảo dân tự nghĩ ra, mà đó là đạo lý của thiên hạ từ xưa tới nay.

Trong đại điện, văn võ bá quan nhìn nhau rất lâu mà không ai tìm được lời phản bác. Soái Vương từ từ đứng dậy, ánh mắt sáng rực, nói lớn:

-Hay!!! Ta hỏi khắp triều đình suốt mấy năm, chưa ai khiến ta hiểu vì sao nước Soái mãi không thể tiến thêm một bước. Hôm nay nghe ngươi một buổi, chẳng khác nào người đang đi trong sương mù bỗng nhìn thấy con đường trước mặt. Từ hôm nay, Quốc sư mới của nước Soái đã có người lĩnh trách nhiệm, mọi việc cải pháp, cường binh, phú quốc đều do Thương Cường chủ trì.

Toàn điện đồng thanh:

-Tuân mệnh!!!

Và đó là sự kiện phong chức nhanh nhất trong lịch sử, một người thường dân áo vải không có tiền đồ, danh vọng, quan hệ một bước lĩnh chức Quốc sư nước Soái chỉ trong vòng hơn một canh giờ. Người đời có câu ca dao về tích này như sau:

"Áo nâu chẳng gấm chẳng vàng,
Tay không một mảnh, dọc ngang một mình.
Không nhờ thế tộc hiển vinh,
Chẳng mang tiền bạc, kết tình quyền môn.

Một thân bước giữa triều tôn,
Đối cùng bá quan, luận nguồn trị an.
Việc binh, việc nước, việc dân,
Nói đâu thấu đó, muôn phần đều xuôi.

Người thì hỏi khó trăm lời,
Người đem cổ lễ, người thời viện kinh.
Thương Cường đối đáp phân minh,
Lời như mũi kiếm, lý tình như gương.

Một câu mở lối cường cương,
Mười câu định kế, biên cương vững bền.
Soái Vương nghe đến ngồi yên,
Long nhan rạng rỡ, lòng liền mừng thay.

Chưa qua một buổi nắng gay,
Chưa tròn một khắc đổi thay triều đường.
Hơn canh giờ đã tuyên chương,
Ban phong Quốc sư, bốn phương sửng người.

Xưa nay sách sử bao đời,
Chưa ai đắc chức, chóng thời đến thế.
Không nhờ vàng bạc nâng đỡ,
Chỉ nhờ tài trí, phép tề nước non."


Nguyên Hà hôm nay vô cùng nể phục Thương Cường, sau buổi thiết triều, Nguyên Hà tới chỗ Thương Cường, nói:

-Hôm nay những lời của Quốc sư như sấm đánh ngang tai, ta như được khai sáng!

Thương Cường đáp:

-Ngài đã quá lời! Ta đã đọc rất nhiều về Thừa tướng, trong lòng ngưỡng mộ từ lâu!

Nguyên Hà cười:

-Quả không dám! Nếu tối nay Quốc sư không bận việc gì, ta mạn phép mời Quốc sư tới phủ dùng bữa, coi như hai vị đại thần làm quen trước với nhau, ngài thấy thế nào?

Thương Cường đáp:

-Ý của Thừa tướng rất hay, thật là vinh dự cho ta lắm!

Tối ấy, phủ Thừa tướng không bày yến tiệc linh đình, chỉ một bàn rượu, vài món ăn quê, một bếp than hồng cùng tiếng gió đêm khẽ lùa qua hàng trúc ngoài sân.

Nguyên Hà tự tay nâng chén rượu, đứng dậy mờiThương Cường.

-Chén rượu này, ta kính Quốc sư!

Thương Cường cũng đứng lên, nói:

-Thừa tướng quá lời, mời!

Nguyên Hà uống cạn chén, nói tiếp:

-Hôm nay ở đại điện, ta vốn định đứng ra phản bác Quốc sư vài câu. Nhưng càng nghe, ta càng thấy những điều mình định nói đều đã được ngài nghĩ tới từ trước. Câu nào cũng có lý, việc nào cũng có kế, ngay cả những điều ta lo ngại nhất, ngài cũng đã chuẩn bị lời giải. Đến cuối cùng, ta mới hiểu vì sao chúa công lại quyết đoán phong Quốc sư ngay tại điện.

Nguyên Hà rót thêm rượu.

-Thú thật, làm Thừa tướng đã nhiều năm, từng gặp rất nhiều người tài, có người giỏi thao lược, có người giỏi trị dân, có người giỏi ngoại giao, có người giỏi tính toán. Nhưng người có thể dùng một đạo lý để nối liền cả quân sự, chính trị, kinh tế và lòng người, hôm nay là lần đầu tiên ta gặp.

Thương Cường khẽ cúi đầu.

-Thừa tướng quá khen.

Nguyên Hà đặt chén xuống, giọng nói cũng trở nên chậm rãi hơn.

-Không phải ta quá khen, mà là nói thật.

Nguyên Hà nhìn về khoảng sân ngoài cửa sổ,

-Ta sinh ra trên đất Soái, lớn lên nhờ lúa gạo nước Soái, làm quan hưởng bổng lộc của Soái, đến hôm nay tóc đã điểm bạc. Cả đời này, ta chưa từng nghĩ đến việc làm sao để con cháu mình giàu hơn, điều ta nghĩ nhiều nhất, ấy chính là làm sao để nước Soái mạnh hơn.

Trong ánh nến lay động, gương mặt vị Thừa tướng hiện lên đầy chân thành. Ông quay sang Thương Cường, ánh mắt ánh lên niềm hy vọng hiếm thấy.

-Hôm nay, sau khi nghe ngài nói ở đại điện, ta bỗng cảm thấy ngày ấy không còn quá xa, ngày nước Soái làm bá chủ Tĩnh Hải quân.

Thương Cường lặng thinh, ngồi yên lặng nghe vị đại thần nước Soái giãi bày tấm lòng.

Nguyên Hà lại rót đầy hai chén rượu, ông nâng chén bằng hai tay, nói

-Quốc sư, ta già rồi, có lẽ không còn đủ sức để nhìn thấy thiên hạ thống nhất. Nhưng nếu trong quãng đời còn lại, ta có thể cùng ngài đặt một viên gạch đầu tiên cho bá nghiệp nước Soái, thì dù sau này nhắm mắt, ta cũng không còn điều gì hối tiếc.

Thương Cường cũng đứng dậy, nâng chén đáp lễ.

-Thừa tướng là trụ cột của triều đình, tại hạ chỉ là người mới nhận trọng trách. Ngày sau còn rất nhiều điều phải học hỏi từ ngài.

Nguyên Hà cười lớn:

-Học hỏi thì cùng học, gánh vác thì cùng gánh, tranh luận thì cứ tranh luận. Nhưng có một điều, ta mong Quốc sư hãy ghi nhớ. Đừng bao giờ vì quyền thế mà quên lời hôm nay ngài nói trước đại điện. Đừng vì lợi ích trước mắt mà đánh mất cái lợi trăm năm. Đừng để chức vị Quốc sư trở thành chiếc ghế để ngồi. Hãy biến nó thành thanh kiếm để mở đường cho nước Soái, ta sẽ ở phía sau ủng hộ ngài. Còn nếu có một ngày cả triều đình quay lưng với ngài, chỉ cần điều ngài làm thực sự vì xã tắc, thì Nguyên Hà này vẫn sẽ đứng bên cạnh.

Thương Cường im lặng giây lát rồi chắp tay thật sâu.

-Tại hạ xin ghi khắc từng lời!

Nguyên Hà mỉm cười, giơ cao chén rượu.

-Vậy chén rượu này, không phải kính Thừa tướng, không phải kính Quốc sư, mà kính nước Soái, kính chúa công đã có mắt nhìn người, kính trăm họ đang gửi gắm hy vọng.

Hai người cùng nâng chén, ánh rượu sóng sánh dưới ánh nến, phản chiếu như một lời thề không cần viết thành văn tự. Từ tối ấy, Thừa tướng Nguyên Hà và Quốc sư Thương Cường không chỉ là hai đại thần cùng chầu một triều, mà trở thành hai cánh tay đắc lực của Soái Vương, cùng chung một chí hướng, gây dựng bá nghiệp, làm cho nước Soái hùng cường, để không phụ lòng quân vương và muôn dân đang gửi trọn niềm tin vào họ.
 
Sửa lần cuối:
Chương 91: Thương Cường bắt tay vào cải cách, nước Soái dần chuyển mình

c91.png


Chỉ vài ngày sau khi được Soái Vương sắc phong Quốc sư, Thương Cường không mở yến tiệc mừng nhậm chức, cũng không nhận lời chúc tụng của các quan. Thương Cường mặc triều phục đến chính điện từ lúc trời còn chưa sáng, xin Soái Vương ban cho mình một đạo kim bài cùng toàn quyền thi hành cải pháp trong phạm vi pháp luật đã được nhà vua chuẩn tấu.

Soái Vương nói với Thương Cường:

-Ta đã giao cho khanh thì sẽ không nghi khanh, chỉ cần việc gì lợi cho nước Soái, cứ làm!

Ngay ngày hôm đó, hơn bốn mươi đạo lệnh cải cách được niêm yết tại cổng thành, nha môn các quận huyện và mọi chợ lớn trong nước Soái. Điều lạ là những đạo lệnh ấy không hề dài dòng, mỗi điều luật chỉ vỏn vẹn vài hàng chữ, rõ ràng đến mức một người dân vừa học chữ cũng có thể hiểu. Thưởng ai, phạt ai, vì sao thưởng, vì sao phạt, tất cả đều được viết minh bạch.

Có người đọc xong bật cười:

-Cải cách ư? Quan nào mới lên chẳng hô hào cải cách!

-Đợi vài tháng rồi đâu lại vào đấy!

-Luật viết cho đẹp thôi!

Tiếng bàn tán nổi lên khắp nơi, Thương Cường nghe được nhưng không giải thích, y biết điều khó thay đổi nhất không phải phép nước, mà là lòng tin của dân chúng.

Ba ngày sau, giữa quảng trường phía nam kinh thành, binh lính dựng lên một cây cột gỗ lim cao gần hai trượng, không ai biết để làm gì. Đến giờ Ngọ, Quốc sư Thương Cường đích thân xuất hiện, y chỉ vào cây cột rồi lớn tiếng:

-Ai bê cây cột này sang phía bắc quảng trường sẽ được thưởng mười lượng bạc!

Dân chúng nhìn nhau bàn tán, có người cười phá lên:

-Chỉ bê một cây cột mà được mười lượng?

-Lừa trẻ con sao?

-Quan phủ lại bày trò!

Dân chúng sợ rằng chẳng có bữa trưa nào miễn phí, sợ rằng nếu làm theo sẽ phải đổi lại thứ gì đó. Suốt nửa canh giờ, không một ai dám bước ra. Thương Cường vẫn đứng đó, nét mặt bình thản, y quay sang viên quan ghi chép, nói:

-Đổi, tăng lên năm mươi lượng!

Lần này cả quảng trường xôn xao càng ầm ĩ hơn. Năm mươi lượng bạc, đủ để một gia đình nông dân sống dư dả nhiều tháng trời, nhưng vẫn chẳng ai dám, họ không tin, không phải không tin vào số bạc, mà không tin quan phủ sẽ giữ lời.

Qua một lúc lâu, một tiều phu ngoài bốn mươi tuổi, quần áo vá chằng chịt, chậm rãi bước ra, nói lớn:

-Quốc sư, nếu ta bê thật, có được năm mươi lượng?

Thương Cường đáp:

-Luật đã ban, lời đã nói, không đổi!

Người tiều phu nghiến răng, một mình khiêng cây cột gỗ, từng bước nặng nhọc đi sang đầu bắc quảng trường. Vừa đặt cây cột xuống, Thương Cường lập tức ra lệnh mở rương bạc, đếm đủ năm mươi lượng, trao tận tay người tiều phu không bớt một đồng, không trì hoãn một khắc.

Người tiều phu run rẩy cầm bạc, nước mắt chảy dài, hắn quỳ xuống thưa:

-Tiểu dân chưa từng thấy quan phủ giữ lời như vậy, đa tạ, đa tạ ngài nhiều lắm!

Thương Cường đỡ người tiều phu dậy, nói:

-Từ hôm nay, không phải quan giữ lời với ngươi, mà là pháp luật giữ lời với mọi người.

Ngay sau sự việc đó, thanh niên trai tráng đua nhau bê cột gỗ để lãnh thưởng, tổng cộng hơn trăm người, Thương Cường tiêu của ngân khố năm ngàn lượng bạc. Tin ấy chỉ trong hai ngày đã truyền khắp nước Soái, người dân bắt đầu kháo nhau:

-Luật mới là thật, quốc sư nói được làm được!

Từ đó về sau, mỗi đạo luật mới ban ra đều được dân chúng nghiêm túc đọc, nghiêm túc thi hành. Không phải vì họ kính sợ Thương Cường, mà vì họ tin rằng luật pháp không còn là những tờ giấy treo trên tường.

Việc đầu tiên Thương Cường làm không phải tuyển quân mà là đo lại ruộng đất. Y cử hơn ba nghìn lại viên chia nhau đi khắp các quận huyện, mang theo thước chuẩn và bản đồ mới. Ruộng của ai thì ghi đúng tên người ấy, ruộng bỏ hoang thì thu hồi, ruộng do quý tộc chiếm trái phép thì trả lại công điền. Kẻ nào giấu ruộng, khai gian, lập tức xử theo luật rất nghiêm khắc. Ban đầu, nhiều thế gia phản đối dữ dội, họ đem gia phả tổ tiên ra viện dẫn, đem công lao nhiều đời ra đòi đặc quyền. Thương Cường chỉ nói một câu:

-Công lao tổ tiên đã được thưởng khi còn sống, không thể để con cháu đời đời lấy đó làm giấy miễn luật.

Có vị quý tộc tức giận đến thẳng phủ Quốc sư, nói:

-Ngươi dám động vào ruộng nhà ta?

Thương Cường không tranh cãi, y chỉ sai người mang bản đồ, sổ hộ tịch và khế đất tới. Ba loại giấy tờ đối chiếu, ruộng ấy quả thật là công điền bị lấn chiếm. Vị quý tộc giọng vẫn hằn học không phục, xong Thương Cường không quan tâm, sai người đuổi về.

Ngay hôm sau, quan phủ cho người cắm mốc thu hồi, không ai dám can thiệp. Cáo thị có viết một dòng gây chấn động: "Ngay cả Soái Vương cũng không ban đặc ân."

Từ đó, thiên hạ hiểu rằng, pháp luật đã bắt đầu đứng cao hơn dòng họ quý tộc, quan lại quyền thế, phú hộ giàu có, tất cả đều công bằng, ai cũng như ai.

Sau đó là cải cách quân đội, Thương Cường bãi bỏ gần hết chế độ bổ nhiệm tướng lĩnh theo dòng dõi. Con cháu công thần nếu không biết cầm quân thì chỉ làm lính, người dân nếu lập đại công thì được phong tước, điều luật ấy khiến cả triều đình chấn động.

Một số đại thần đồng loạt dâng sớ phản đối rằng:

-Như vậy lễ pháp sẽ loạn!

Thương Cường đáp ngay trước điện.

-Lễ pháp dùng để phân tôn ti, quân pháp dùng để quyết sinh tử. Ra chiến trường, mũi tên của địch không hỏi ngươi là quý tộc hay dân thường.

Không ai phản bác được.

Thương Cường chia quân công thành mười hai bậc, giết được một địch, thưởng bao nhiêu. Bắt được tướng địch, thưởng bao nhiêu, giữ thành, phá thành, cứu quân, cứu lương, tất cả đều ghi thành luật, không còn phụ thuộc vào tâm trạng của người ban thưởng. Quân sĩ từ đó ai nấy đều thuộc lòng bảng quân công hơn cả thuộc tên tướng. Họ biết, lập công là đổi vận mệnh, ai ai cũng hăng hái xông pha muốn lập công trạng.

Tiếp đó là phép khảo hạch quan lại, mỗi năm, quan huyện phải báo đủ bốn việc. Bao nhiêu ruộng mới, bao nhiêu hộ mới, bao nhiêu lương thực, bao nhiêu vụ án. Nhưng Thương Cường không tin báo cáo, y lập đội thanh tra bí mật, có khi chính Thương Cường cải trang thành lái buôn, đi qua từng huyện. Có khi giả làm khách trọ, có khi ngồi ăn ở quán rượu nghe dân nói chuyện. Nếu báo cáo và thực tế khác nhau, quan huyện lập tức bị bãi chức.

Có một vị huyện lệnh nổi tiếng thanh liêm, sổ sách đẹp như tranh, nhưng dân đói, ruộng hoang. Thương Cường chỉ nhìn một vòng đã nói:

-Người này không tham nhưng bất tài, lập tức bãi quan!

Quan trong thiên hạ nghe vậy đều rúng động, từ đó không ai dám chỉ lo giữ tiếng mà bỏ mặc việc dân, ngày đêm đau đáu nghĩ cách giúp huyện mình giàu mạnh.

Điều khiến nhiều người kính phục nhất lại không phải những đạo luật, mà là chính bản thân Thương Cường. Y nghiêm với người khác một, nghiêm với chính mình mười. Lương Quốc sư, Thương Cường chỉ giữ lại đủ chi tiêu, phần còn lại sung vào quỹ khai hoang. Phủ Quốc sư không nhận quà biếu, ngày sinh thần không mở tiệc, quan lại đến cầu tình đều bị từ chối ngoài cửa.

Có lần phu nhân Soái Vương ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân hiệu ngăn lại, về dinh khóc bảo Soái Vương:

-Mụ này làm vợ ông, mà bị bọn quân hiệu khinh nhờn đến thế.

Soái Vương giận lắm, nói Thương Cường giúp mình xử lý việc ấy, Thương Cường bèn sai đi bắt. Người quân hiệu ấy nghĩ rằng mình chắc chắn phải chết. Khi đến nơi, Thương Cường vặn hỏi trước mặt, người quân hiệu ấy cứ theo sự thực trả lời. Thương Cường nói:

-Ngươi ở chức thấp mà giữ được luật pháp, ta còn trách gì nữa?

Sau đó lấy vàng lụa thưởng cho về.

Thương Cường có lần duyệt định số hộ khẩu, quốc mẫu xin riêng cho một người làm câu đương. Thương Cường gật đầu, rồi ghi họ tên quê quán của người đó. Khi xét duyệt đến xã ấy, hỏi tên mỗ ở đâu, người đó mừng rỡ thưa. Thương Cường bảo hắn:

-Ngươi vì có quốc mẫu xin được cho làm câu đương, không thể ví những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt với người khác!

Người đó van xin thôi mãi mới tha cho. Từ đó không ai dám đến thăm vì việc riêng nữa.

Chỉ trong hơn một năm, khí tượng nước Soái đổi khác rõ rệt. Ruộng hoang giảm từng ngày, kho lương đầy dần, thanh niên tự nguyện nhập ngũ nhiều hơn trước, quan lại đi sớm về khuya, thương nhân không còn dám đầu cơ lương thực, trộm cướp cũng ít hẳn vì luật pháp được thi hành thống nhất.

Các sứ thần các nước bấy giờ sang kinh đô Soái đều nhận ra một điều kỳ lạ. Người dân nơi đây không còn bàn xem vị quan nào có thế lực nhất, họ bàn xem đạo luật mới ban có lợi gì cho việc cày cấy, lập công và làm ăn, đó chính là điều khiến các nước láng giềng bắt đầu e ngại.

Tử Trọng nước Vệ sau khi nghe tin về nước Soái, lập tức bẩm với Vệ Vương rằng:

-Từ ngày có Quốc sư mới, nước Soái đang đi đúng hướng. Chỉ trong vòng một năm mà hắn thay đổi nước Soái chóng mặt.

Vệ Vương hỏi:

-Một năm ư? Một năm thì làm được những gì, không lẽ có kẻ đại tài như vậy sao?

Tử Trọng đáp:

-Không những là đại tài, mà còn là bậc cường đại trí giả, tài trị quốc của hắn không thua Trần Lượng, Quách Tuấn một phân nào.

Vệ Vương kinh ngạc, hỏi:

-Vì sao khanh lại đánh giá cao hắn như vậy?

Tử Trọng đáp:

-Thần chỉ nhìn vào kết quả mật thám báo về, một năm qua, kho lương nước Soái năm nay tăng hơn ba phần, ruộng khai hoang tăng gần hai thành, số người tự nguyện nhập ngũ nhiều hơn hẳn năm trước. Thuế bội thu mà dân oán ít, trộm cướp giảm, quan lại bị cách chức hơn hai trăm người nhưng không hề xảy ra đại loạn.

Vệ Vương hỏi:

-Hắn chỉ sửa vài bộ luật mà hiệu quả đến vậy sao?

Tử Trọng thưa:

-Người bình thường sửa luật, bậc trị quốc sửa lòng người. Quốc sư nước Soái không bắt dân phải trung thành, hắn khiến dân thấy rằng trung thành với quốc gia cũng chính là có lợi cho bản thân, đó mới là điểm đáng sợ.

Vệ Vương khẽ gõ ngón tay lên bàn, nói:

-Có lần ta nghe nói hắn dựng cột gỗ giữa chợ, thưởng rất nhiều bạc chỉ để dân tin vào pháp luật?

Tử Trọng gật đầu:

-Thần vốn tưởng chỉ là chuyện đồn, sau mới biết là thật. Chúa công có biết chỉ một việc nhỏ ấy có tác động thế nào không?

Vệ Vương đáp:

-Ở chỗ giữ lời hứa?

Tử Trọng nói:

-Không, ở chỗ từ đó về sau, dân Soái bắt đầu tin rằng luật pháp còn đáng tin hơn lời của quan lại. Một khi lòng tin ấy hình thành, ban một điều luật còn mạnh hơn mười đạo thánh chỉ.

Vệ Vương nói:

-Nghe lời khanh nói, nước Soái mấy năm nữa sẽ bứt lên thần tốc, lúc ấy thì nguy to!

Tử Trọng đáp:

-Cứ đà này, chỉ vài năm nữa thôi, cán cân thiên hạ sẽ thay đổi. Nước Soái sẽ trở thành thế lực đe dọa đến cả Tĩnh Hải quân!

Vệ Vương hỏi:

-Có điều này ta thắc mắc, xưa nay nước Soái tuy mạnh nhưng bị kìm kẹp, ta chưa bao giờ nghĩ rằng Soái sẽ nguy hiểm tới vậy. Không lẽ chỉ một người trần mắt thịt tới mà thay đổi một đất nước chóng mặt như vậy sao?

Tử Trọng đáp:

-Nước Soái xưa nay chưa từng thiếu đất, chưa từng thiếu dân, cũng chưa từng thiếu vàng bạc. Thứ nước Soái thiếu, đó là một người biết cách khiến tất cả những thứ ấy cùng phát huy sức mạnh. Nguyên Hà giỏi mưu lược và binh pháp nhưng tài trị quốc còn thua xa Thương Cường, chính người này dám đi con đường mà rất ít người dám đi. Thưởng thật, phạt thật, động vào quý tộc, đề bạt người có công, để luật pháp đứng trên quyền thế. Nếu Thương Cường cải cách thất bại, hắn tất sẽ bị hãm hại mà chết, nếu hắn thành công, Soái sẽ trở thành cường quốc đứng đầu Tĩnh Hải quân. Người dám đem tính mạng mình đặt lên bàn cờ để đổi lấy vận nước, thiên hạ không có nhiều.

Vệ Vương siết chặt tay, hỏi:

-Nếu để mặc hắn, sau này sẽ ra sao?

Tử Trọng đáp:

-Ba năm, Soái sẽ giàu, năm năm, Soái sẽ mạnh, khi ấy Soái sẽ trở thành đối thủ lớn nhất của Vệ. Điều thần lo không phải Thương Cường, mà là Soái Vương.

Vệ Vương hỏi:

-Vì sao?

Tử Trọng nói:

-Soái Vương là một minh quân, mang tham vọng rất lớn. Trong tay hắn đã có Nguyên Hà đa mưu túc trí, nay lại được một Quốc sư như Thương Cường, giống như hổ mọc thêm cánh vậy.

Vệ Vương trầm ngâm mội hồi, hỏi Tử Trọng:

-Nếu khanh là ta thì sẽ làm gì?

Tử Trọng đáp:

-Nếu thần là chúa công, việc thứ nhất là lập tức tăng cường quốc lực, bởi chỉ có tự mạnh lên mới là kế lâu dài. Thứ hai, sai mật thám theo dõi mọi động tĩnh của Thương Cường, không để sót một cải cách nào. Thứ ba, tuyệt đối không để nước Soái có năm năm yên ổn.

Sau buổi chầu hôm ấy, Vệ Vương cứ nghĩ mãi về cái tên Thương Cường, y nhận ra cục diện Tĩnh Hải quân ngày một khó lường. Nước Vệ sẽ tuyệt đối không được giậm chân tại chỗ, nếu không các nước như Ngô và Soái sẽ lần lượt vượt qua và áp đảo Vệ một sớm một chiều.
 
Chương 92: Nước Tùy gặp biến, Nguyên Hà hiến kế gây nhiễu loạn lòng dân

c72.png


Ba năm kể từ ngày Thương Cường nắm quyền cải pháp, cục diện thiên hạ đã âm thầm thay đổi. Nước Soái vẫn là nước Soái của ngày trước, vẫn nằm giữa vòng vây của các chư hầu, vẫn không có đồng minh thực sự, vẫn là quốc gia mà nhiều nước e dè nhưng chẳng ai muốn kết giao. Con đường thông thương ra bốn phía từ lâu đã bị các nước lớn khống chế, sứ thần các nước cũng hiếm khi lui tới. Thế cô lập ấy đã kéo dài nhiều năm, từ trước cả khi Thương Cường bước vào triều đình.

Nhưng điều khiến các nước không ngờ tới là, cô lập được một quốc gia không đồng nghĩa với việc có thể làm quốc gia ấy suy yếu. Ba năm qua, nước Vệ cùng nước Tấn gần như dùng hết mọi kế sách có thể nghĩ ra. Biết nước Soái đang thiếu thợ thủ công giỏi và đáng ráo riết tìm người với bổng lộc rất cao. Vì lo sợ người gần biên giới ham tiền mà bỏ sang nước Soái làm ăn, Tấn Vương lập tức tăng bổng lộc, ban ruộng đất, mời gọi các nghệ nhân khắp vùng về nước Tấn, đồng thời bí mật ra lệnh, ai dám sang Soái sẽ bị coi là phản bội đất nước.

Nước Soái không hề đáp trả, Thương Cường chỉ cho mở rộng các xưởng thủ công trong nước, miễn thuế ba năm cho những người chịu truyền nghề, thưởng hậu hĩnh cho bất kỳ ai chế tạo được nông cụ hay binh khí tốt hơn trước. Chưa đầy hai năm, những người thợ trẻ của nước Soái đã trưởng thành, kỹ nghệ tuy chưa vượt thiên hạ nhưng đã đủ để tự cung tự cấp.

Biết nước Soái cần ngựa chiến, nước Vệ liền vét sạch ngựa tốt ở các vùng biên, dùng giá cao mua hết những đàn ngựa chuẩn bị bán cho Soái.

Nước Soái không tranh mua, Thương Cường xin Soái Vương lập ba đồng cỏ lớn, tuyển riêng một đội chuyên nuôi và chọn giống chiến mã. Y từng nói trước triều đình:

-Ngựa người khác bán, hôm nay có, mai có thể không. Ngựa mình nuôi, chậm một chút, nhưng đời đời không thiếu.

Ba năm sau, đàn chiến mã nước Soái tuy chưa nhiều bằng Vệ và Tấn, nhưng toàn bộ đều do chính nước Soái gây giống, đủ dùng cho nhu cầu trong nước và dần mở rộng thêm quy mô chăn nuôi.

Nước Vệ lại đổi kế, họ sai mật thám mang vàng bạc lẻn vào nước Soái, tìm cách mua chuộc quan lại vừa được đề bạt sau cải pháp. Nhưng điều khiến mật thám kinh ngạc là phần lớn đều bị cự tuyệt, không phải vì ai cũng là bậc quân tử, mà bởi luật pháp của Thương Cường quy định rất rõ, rằng:

-Kẻ nhận hối lộ nếu bị phát giác sẽ mất chức, đày đi biên ải, tịch thu gia sản, con cháu ba đời không được dự khảo tuyển làm quan.

Trong khi đó, chỉ cần làm tốt chức trách ba năm liên tiếp, quan lại sẽ được thăng chức, gia quyến được miễn nhiều nghĩa vụ. Không ai ngu ngốc đánh đổi tiền đồ cả một dòng họ chỉ vì vài rương vàng, mật thám của nước Vệ đành trở về tay trắng.

Không mua chuộc được quan lại, nước Vệ lại chuyển sang gieo rắc lời đồn. Khắp các nước đều lan truyền rằng Thương Cường chuyên quyền, cải pháp quá nghiêm, dân chúng oán thán, chẳng bao lâu sẽ có đại loạn. Những lời đồn ấy cuối cùng cũng truyền tới tai Soái Vương. Một hôm, Soái Vương cải trang cùng Thương Cường đi vi hành một vòng kinh thành. Chợ vẫn đông, ruộng vẫn cày, lò rèn vẫn đỏ lửa, doanh trại vẫn vang tiếng luyện quân. Đi qua mười dặm, không thấy một nơi nào có dấu hiệu náo loạn.

Soái Vương quay sang hỏi:

-Khanh có biết vì sao lời đồn không làm dân dao động không?

Thương Cường đáp:

-Vì bụng dân đang no! So với lời đồn, người dân tin vào lúa trong nhà hơn.

Một quốc gia mà người dân mỗi năm đều nhìn thấy cuộc sống khá hơn năm trước thì không dễ bị vài câu đồn đại làm lung lay. Nước Vệ vẫn chưa chịu từ bỏ, họ nhiều lần xúi giục các bộ tộc biên giới quấy phá, mong nước Soái phải dồn sức vào chiến sự mà bỏ dở cải cách. Lần nào cũng vậy, quân Soái đánh rất nhanh, không truy kích quá sâu, không tham chiến công, dẹp yên biên giới xong lập tức trở về tiếp tục sản xuất.

Nguyên Hà từng căn dặn các tướng:

-Ngoại bang muốn chúng ta mệt, vậy đừng đánh theo cách chúng muốn. Cứ để chúng hao người, hao của, còn chúng ta chỉ cần giữ nhịp để Quốc sư có thể thoải mái phát triển nước Soái.

Sau nhiều lần quấy phá không thành mà lại tổn thất rất nhiều, các bộ tộc bèn không nghe theo lời Vệ xúi giục nữa, từ bỏ việc đánh Soái.

Ba năm trôi qua, không một kế sách nào của Vệ và Tấn làm chậm được bước tiến của Soái. Ruộng đất tăng, kho lương đầy, quân đội lớn mạnh, quan lại ngày một trong sạch, người tài trong nước ngày càng nhiều. Tất cả diễn ra đều đặn như bánh xe khổng lồ đang lăn xuống dốc, muốn cản cũng không nổi.

Ba năm cải cách tưởng chừng không dài, nhưng đối với nước Soái lại là ba năm đổi thay đến mức ngay cả những lão thần sống hơn nửa đời người cũng không dám tin vào mắt mình. Ngày Thương Cường mới nhậm chức, kinh thành tuy phồn hoa nhưng chỉ gói gọn trong vài con phố chính. Ra khỏi thành không xa là những cánh đồng bỏ hoang, nhiều nơi cỏ dại mọc cao quá đầu người, mùa mưa thì úng nước, mùa hạn thì nứt nẻ. Dân nhiều nơi vẫn phải trông chờ vào ông trời ban mưa, năm được mùa thì đủ ăn, năm mất mùa lại bán ruộng, bán trâu, thậm chí bán cả con cái để đổi lấy lương thực.

Ba năm sau, cảnh tượng ấy gần như biến mất, những cánh đồng hoang năm nào đã biến thành biển lúa xanh bạt ngàn. Hàng trăm con kênh lớn nhỏ được đào nối liền với các dòng sông, dẫn nước đến từng thửa ruộng. Đê điều được gia cố bằng đá, cống điều tiết được dựng khắp nơi, khiến mùa mưa không còn ngập úng, mùa khô cũng ít khi thiếu nước.

Theo thống kê của Bộ hộ, diện tích đất canh tác của nước Soái tăng gần bốn thành, sản lượng lương thực gần gấp đôi so với trước cải cách. Các kho lương của triều đình vốn chỉ đủ dự trữ cho một năm, nay chất đầy thóc gạo đến mức phải xây thêm kho mới ở các quận huyện. Đến vụ thu hoạch, từng đoàn xe chở lương nối đuôi nhau tiến vào kinh thành, cảnh tượng kéo dài suốt nhiều ngày liền.

Điều khiến người dân tự hào nhất không phải là được mùa, mà là lần đầu tiên trong nhiều năm, giá gạo ổn định quanh năm. Không còn cảnh thương nhân đầu cơ tích trữ, cũng không còn cảnh dân nghèo chen chúc trước các kho cứu tế mỗi khi thiên tai xảy đến.

Cùng với nông nghiệp, thủ công nghiệp của nước Soái cũng thay da đổi thịt. Ở ngoại thành kinh đô, nơi trước đây chỉ có vài lò rèn nhỏ, nay đã hình thành cả một khu xưởng rộng lớn. Ban ngày, tiếng búa đập vào thép vang vọng liên hồi, ban đêm, ánh lửa từ những lò luyện đỏ rực cả một góc trời.

Nông cụ được chế tạo ngày càng tinh xảo, giúp một người có thể cày cấy nhanh hơn trước gấp nhiều lần. Binh khí cũng được tiêu chuẩn hóa, từ trường mâu, trường kiếm, khiên gỗ đến nỏ mạnh đều được sản xuất theo cùng một quy cách, giúp việc huấn luyện quân đội thuận lợi hơn hẳn.

Các mỏ sắt, mỏ đồng được khai mở liên tục. Đường vận chuyển khoáng sản được mở rộng, xe ngựa qua lại tấp nập ngày đêm. Thương Cường từng nói với Hộ bộ Thượng thư:

- Muốn quốc gia giàu thì trước hết phải khiến của cải nằm dưới lòng đất trở thành của cải trong kho.

Ba năm sau, câu nói ấy đã trở thành hiện thực, nếu như sự thay đổi trên đồng ruộng khiến dân chúng nhìn thấy bằng mắt, thì sự thay đổi trong quân đội lại khiến các nước chư hầu phải khiếp sợ. Doanh trại nước Soái được quy hoạch lại hoàn toàn. Quân lính không còn mạnh ai nấy luyện như trước mà được chia thành từng doanh, từng lữ, từng đội với chế độ huấn luyện thống nhất. Mỗi buổi sáng, tiếng trống tập trận vang lên từ lúc mặt trời chưa mọc, đến tận chiều muộn, thao trường vẫn phủ kín bụi đất bởi những hàng quân diễn luyện không ngừng.

Quân công được ghi chép công khai, thưởng phạt phân minh. Người lập công được phong thưởng ngay trước toàn quân, kẻ vi phạm quân lệnh dù là con cháu quý tộc cũng bị xử phạt không khác binh sĩ thường. Kỷ luật ấy khiến quân đội nước Soái như được thay máu.

Các tướng lĩnh nhiều lần thừa nhận rằng chỉ trong ba năm, sức chiến đấu của quân Soái đã tăng lên vượt bậc, không phải vì quân số đông hơn, mà vì mọi đơn vị đều biết phối hợp như tay chân của cùng một cơ thể.

Quan trường cũng đổi khác, những nha môn vốn nổi tiếng trì trệ nay sáng đèn từ tinh mơ. Quan lại không còn ngồi chờ dân đến cầu xin, mà chủ động xuống các thôn ấp kiểm tra ruộng đất, thống kê hộ khẩu, giải quyết tranh chấp. Không ít người từng giữ chức lớn nhưng bất tài bị bãi miễn. Ngược lại, nhiều viên lại nhỏ xuất thân bình dân nhờ làm việc xuất sắc mà liên tục được cất nhắc. Điều ấy khiến cả triều đình hình thành một bầu không khí chưa từng có, muốn giữ chức, phải làm được việc. Muốn thăng chức, phải có công lao, dòng dõi không còn là tấm bùa che chở cho sự bất tài.

Ngay cả dân chúng cũng cảm nhận được sự thay đổi ấy, chợ búa đông đúc hơn, đường sá được mở rộng, cầu đá thay dần cầu gỗ, xe ngựa qua lại không dứt.

Ban đêm, nhiều phố lớn vẫn sáng đèn vì các xưởng thủ công làm việc đến khuya. Từ biên giới trở về, nhiều thương nhân các nước có dịp đi qua đều kinh ngạc trước sự nhộn nhịp ấy. Có người thốt lên:

-Ba năm trước đến nước Soái, ngoài kinh thành còn thấy tiêu điều, ba năm sau quay lại, đi đến đâu cũng thấy người làm việc. Không thấy ai nhàn rỗi, không thấy ai chỉ ngồi than nghèo.

Thanh niên nước Soái không còn xem việc nhập ngũ là nghĩa vụ nặng nề, mà coi đó là con đường lập thân. Nông dân không còn sợ khai hoang vì biết ruộng mở đến đâu, triều đình công nhận đến đó. Quan lại không còn xem chức tước là đặc ân ban phát, mà là trách nhiệm phải gánh vác.

Ngay cả trẻ nhỏ trong các thôn xóm cũng truyền miệng câu nói mà người lớn thường nhắc:

-Có sức thì cày, có tài thì làm quan, có gan thì lập công.

Ba năm cải cách không chỉ khiến nước Soái giàu hơn, mạnh hơn hay đông quân hơn, điều lớn nhất mà Thương Cường mang lại là một tinh thần mới cho cả quốc gia. Từ quân vương, bá quan cho đến thứ dân đều tin rằng chỉ cần chịu lao động, chịu lập công và tuân theo pháp luật thì ai cũng có cơ hội đổi thay số phận.

Chính niềm tin ấy đã biến nước Soái từ một quốc gia bị cô lập thành một cường quốc đang từng bước vươn lên bằng chính nội lực của mình. Người đời sau khi nhắc đến ba năm cải cách ấy đều nói rằng:

"Thương Cường không chỉ thay đổi phép nước, ông đã thay đổi vận nước".

Nhắc đến nước Tùy, nằm ở phía đông bắc giáp ranh với nước Soái, năm ấy có một biến loạn rất lớn, bắt nguồn từ sự việc của Thế tử Kha.

Thế tử Kha là con trai duy nhất của Tùy Vương. Từ thuở lọt lòng đã được cưng chiều hết mực, hễ muốn gì thì được nấy, phạm lỗi cũng chẳng ai dám quở trách. Trong cung, cung nữ thái giám đều sợ oai Thế tử, ngoài triều thì văn võ bá quan nể mặt Tùy Vương, chẳng ai dám can gián.

Lớn lên, Kha càng thêm ngang ngược, ban ngày cưỡi ngựa phóng như bay giữa phố xá, xô ngã người đi đường cũng chỉ quẳng vài đồng bạc rồi bỏ đi. Ban đêm tụ tập bè đảng ăn chơi, say rượu đánh người, cướp đoạt đồ vật quý hiếm, nhìn thấy cô gái nào có dung mạo xinh đẹp liền tìm mọi cách ép về phủ.

Quan lại địa phương ai cũng biết chuyện, nhưng mỗi lần đơn kiện được dâng lên đều bị người của phủ Thế tử chặn lại. Kẻ dám nói thẳng thì bị giáng chức, người cương trực hơn thì bị vu cho tội tham ô, cuối cùng chỉ còn biết ngậm miệng mà sống.

Bi kịch lớn nhất xảy ra vào mùa thu năm ấy, ở phủ thành phía nam nước Tùy có một thương nhân buôn gỗ nổi tiếng tên là Bảo Đức. Ông vốn xuất thân nghèo khó, nhờ cần cù mà gây dựng nên gia sản. Điều khiến người đời kính trọng không phải của cải, mà là tấm lòng nhân hậu của ông. Mỗi năm Bảo Đức đều mở kho phát gạo cứu đói, dựng cầu sửa đường, bỏ tiền chuộc thân cho những người bị bán làm nô lệ. Dân chúng trong vùng nhắc đến Bảo gia đều hết lời khen ngợi.

Ông chỉ có một người con gái là Bảo Ngọc. Bảo Ngọc nổi tiếng dung mạo đoan trang, cử chỉ dịu dàng, lại thông hiểu lễ nghĩa. Không ít công tử quyền quý ngỏ ý cầu thân nhưng nàng đều khéo léo từ chối, chỉ mong phụ giúp cha chăm nom việc làm ăn.

Trong một lần dự tiệc ở tửu lầu lớn nhất phủ thành, Bảo Ngọc chẳng may gặp Thế tử Kha. Kha vừa nhìn đã nổi lòng tà niệm. Hắn liên tục sai người mang rượu quý, châu báu đến lấy lòng nhưng đều bị Bảo Ngọc nhã nhặn khước từ. Thế tử chẳng những không biết xấu hổ, trái lại càng thêm hiếu thắng.

Đến lúc men rượu bốc lên, Kha cười lớn, bước thẳng sang bàn của Bảo Ngọc, nói giọng lè nhè:

-Khắp nước Tùy này, còn có nữ nhân nào dám từ chối bổn Thế tử sao?

Nói rồi hắn đưa tay giữ lấy cổ tay nàng, Bảo Ngọc vội vàng vùng ra, lui lại mấy bước. Kha vẫn không chịu buông tha, liên tiếp ép sát, định ôm chầm lấy nàng giữa tửu lầu đông người. Bảo Ngọc vừa giận vừa sợ, cố sức chống cự. Trong lúc giằng co, nàng lùi đến lan can tầng hai.

Chỉ nghe một tiếng kêu thất thanh, thân người mảnh mai mất thăng bằng, ngã nhào xuống nền đá. Tiếng va chạm khô khốc vang lên.Máu đỏ loang thành một vệt dài, đến khi mọi người chạy xuống thì Bảo Ngọc đã tắt thở. Lúc ấy trời vừa chập tối, khách khứa đã thưa dần. Chỉ còn vài người tận mắt chứng kiến cảnh tượng ấy, ai nấy đều kinh hãi nhưng không dám lên tiếng. Người của Thế tử lập tức phong tỏa tửu lầu, xua đuổi tất cả những ai có mặt.

Ngay trong đêm, toàn bộ vụ việc bị triều đình bưng bít, những người chứng kiến bị ép điểm chỉ vào lời khai rằng Bảo Ngọc vì trượt chân nên tự ngã. Có người không chịu thì bị bắt giam với tội danh "vu khống hoàng thất", có người sáng hôm sau liền bỏ cả gia đình trốn khỏi phủ thành.

Bảo Đức ôm thi thể con gái khóc cạn nước mắt, ông bán bớt gia sản, nhiều lần dâng đơn lên phủ doãn, mong triều đình trả lại công bằng cho con gái. Lần thứ nhất, phủ doãn phán rằng Bảo Ngọc say rượu nên vô ý ngã lầu. Lần thứ hai, lại đổi lời rằng nàng vì chuyện riêng mà tự gieo mình. Lần thứ ba, thứ tư rồi đến lần thứ năm, kết luận vẫn chỉ có một:

"Bảo Ngọc tự vẫn, vụ án khép lại."

Bảo Đức quỳ ngoài công đường suốt ba ngày ba đêm, dập đầu đến nỗi trán rớm máu, nhưng đổi lại chỉ là cánh cổng nha môn đóng chặt. Khắp phủ thành, ai nấy đều thương xót, người ta nhớ đến những cây cầu Bảo Đức từng dựng, những bao gạo ông từng phát, những đứa trẻ mồ côi được ông cưu mang. Một người hiền hậu như vậy, cuối cùng ngay cả công lý cho con gái cũng không đòi nổi.

Từ đó, lời oán than lan khắp nước Tùy, người dân không còn chỉ oán Thế tử Kha nữa, họ bắt đầu oán cả triều đình. Trong các quán trà, ngoài bến sông, giữa chợ phiên, đâu đâu cũng vang lên những tiếng thì thầm:

-Nếu người nghèo giết người thì phải đền mạng, nếu Thế tử giết người thì gọi là ngoài ý muốn.

-Luật pháp chỉ trị được dân đen, không trị được kẻ mang huyết thống vương thất.

Không ai biết rằng, chính vụ án của Bảo Ngọc đã trở thành giọt nước làm tràn ly. Lòng dân vốn đã chất chứa bao oán hận nay càng sôi sục. Chỉ cần một người dám đứng lên hô một tiếng, hàng vạn người sẽ hưởng ứng.

Đó cũng chính là ngọn lửa đầu tiên, âm thầm cháy dưới nền móng của vương triều Tùy, báo hiệu một cơn biến loạn chưa từng có đang lặng lẽ kéo đến.

Tin tức về cái chết của Bảo Ngọc cùng làn sóng phẫn nộ của dân chúng nước Tùy chẳng mấy chốc đã theo những lái buôn, khách thương và mật thám truyền sang nước Soái.

Mạng lưới mật thám của nước Soái vốn cài cắm khắp các nước chư hầu, từ quán rượu, bến cảng cho đến phủ nha. Chỉ trong vòng hơn mười ngày, mọi diễn biến từ vụ án của Bảo Ngọc, sự bao che của triều đình Tùy, cho đến nỗi oán hận của bá tánh đều được ghi chép cẩn thận rồi cấp tốc đưa về vương đô.

Đọc xong mật báo, Soái Vương khẽ gõ ngón tay lên long án, ánh mắt sáng lên. Soái Vương vốn đã nhiều năm ôm chí thôn tính nước Tùy. Chỉ vì thời cơ chưa chín muồi, nếu mạo hiểm xuất binh thì dù thắng cũng tổn thất nặng nề. Nay nước Tùy tự sinh nội loạn, chẳng khác nào trời cao ban cho một thời cơ hiếm có.

Ngay hôm sau, Soái Vương triệu tập văn võ bá quan vào nghị sự.

Soái Vương trầm giọng:

-Nước Tùy lòng dân đang ly tán, theo các khanh, đây có phải thời cơ để đánh Tùy hay chưa?

Hứa Chung bước ra trước, nói:

-Bẩm chúa công, quân Soái mấy năm nay liên tục chỉnh đốn binh mã, huấn luyện tinh nhuệ. Hiện có hơn hai mươi vạn quân chính quy, chiến mã sung túc, khí giới đầy đủ. Chỉ cần chúa công hạ lệnh, thần nguyện làm tiên phong, trong một năm bình định nước Tùy.

Lời vừa dứt, tiếng phụ họa vang lên khắp triều. Thừa tướng Nguyên Hà cũng bước ra, cúi mình tâu:

- Chúa công, thần cũng cho rằng nên đánh, nhưng đánh lúc này vẫn chưa phải thượng sách. Cây lớn muốn đốn, không nhất thiết phải dùng búa trước, hãy để chính gốc rễ của nó tự mục nát.

Soái Vương hỏi:

-Khanh có diệu kế gì?

Nguyên Hà đáp:

-Dân Tùy vốn đã oán triều đình vì vụ án của Bảo Ngọc, nhưng oán hận mới chỉ là ngọn lửa âm ỉ. Muốn khiến một nước tự sụp đổ, phải biến ngọn lửa ấy thành biển lửa. Năm xưa Lê Cung từng dùng kế ly gián, khiến nước Yên cũng từng rơi vào biến loạn, nay ta nên học theo kế sách ấy.

Đại thần Tư Văn hỏi:

-Chẳng phải nước Đinh cuối cùng vẫn bị Vệ đánh chiếm sao, Thừa tướng nói học theo là vì cớ gì?

Nguyên Hà đáp:

-Kế sách của Lê Cung rất hay, thế nhưng kế đó áp dụng cho một nước không có sự biến loạn thật sự, chỉ thành gây ra phản tác dụng. Nhưng nếu kế sách ấy dùng cho nước Tùy, tất công hiệu gấp trăm lần!

Soái Vương hứng thú, hỏi:

-Khanh nói tiếp đi!

Nguyên Hà thưa:

-Thần xin cho mật thám trà trộn vào dân gian nước Tùy. Ban ngày giả làm thương nhân, phu khuân vác, học trò, đạo sĩ, ban đêm bí mật kích động dân chúng. Chúng sẽ loan truyền rằng triều đình coi mạng dân như cỏ rác, rằng quan lại đều cấu kết với Thế tử Kha, rằng nếu không đứng lên thì đời đời con cháu cũng phải chịu áp bức. Lại ngấm ngầm xúi giục đập phá nha môn, cướp kho lương, đốt phủ quan và hô hào khởi loạn. Đến khi trong ngoài nước Tùy đều rối ren, quân Soái chỉ cần lấy danh nghĩa dẹp loạn, cứu lê dân mà tiến quân.

Nghe xong, Soái Vương bật cười lớn.

-Hay! Diệu kế! Đúng là thượng sách không đánh mà thắng.

Ít lâu sau, từng toán mật thám nước Soái bí mật vượt biên, có kẻ giả làm người bán thuốc rong, có kẻ khoác áo nhà sư đi khất thực, có kẻ trà trộn vào các đoàn lái buôn, các phường thợ và bến sông. Họ không cầm đao kiếm, thứ họ mang theo là những lời đồn.

Khắp nơi đều xuất hiện những tiếng nói giống hệt nhau:

-Con gái Bảo gia chết oan mà không ai đòi được công bằng!

-Hôm nay là Bảo Ngọc, ngày mai có thể là con gái nhà ngươi.

-Quan phủ chỉ biết bảo vệ quyền quý.

-Muốn có công lý thì phải tự mình đứng lên.

Những lời ấy như từng giọt dầu rơi vào đống than hồng. Vốn dĩ người dân nước Tùy đã chất chứa bất bình từ lâu. Nay có kẻ đứng ra hô hào, người này kéo người kia, chẳng mấy chốc đám người tức giận ngày một đông.

Ban đầu chỉ vài chục người tụ tập trước nha môn, ít ngày sau thành vài trăm, rồi vài nghìn. Chỉ trong hơn một tháng, nhiều phủ huyện đồng loạt nổi dậy. Đám đông kéo đến công đường, đập nát trống kêu oan, phá cổng nha môn, ném đá vào dinh thự quan lại. Có nơi kho lương bị cướp sạch, xe thuế bị lật đổ giữa đường, tiếng hô "trả lại công bằng cho Bảo Ngọc!", "diệt trừ gian thần!", "trừng trị Thế tử Kha!" vang lên khắp các phố chợ.

Quan binh địa phương nhiều nơi không dám ngăn cản. Có người còn lặng lẽ cởi bỏ giáp trụ, hòa vào dòng người, bởi ngay trong hàng ngũ của họ cũng có không ít kẻ từng chịu cảnh hà hiếp của bọn quyền quý. Chẳng bao lâu, số người tham gia bạo loạn đã lên đến mấy vạn.

Khói lửa bốc lên từ nhiều phủ huyện, tiếng trống báo động vang suốt ngày đêm. Những con đường từng tấp nập xe ngựa nay chỉ còn gạch đá ngổn ngang. Cửa hiệu đóng kín, chợ búa tan hoang, xác xe cháy nằm la liệt. Dân chúng vừa hò hét, vừa đập phá, cơn giận tích tụ bao năm như được dịp bùng phát không gì ngăn nổi.

Người đời khi ấy đều bàng hoàng, chẳng ai ngờ rằng một vụ án tưởng như chỉ liên quan đến một cô gái lại có thể châm ngòi cho cơn sóng dữ cuốn khắp nước Tùy. Cũng không ai biết, ẩn sau đám đông phẫn nộ ấy là những bàn tay vô hình của mật thám nước Soái, đang từng bước lái cơn dân biến đi đúng hướng mà triều đình Soái đã định sẵn.
 
Chương 93: Triều đình Tùy đàn áp dân chúng, Nguyên Hà nguyện ra tiền tuyến

c93.png


Triều đình nước Tùy rốt cuộc cũng không thể ngồi yên nhìn dân chúng nổi loạn. Nhưng thay vì nhìn lại những điều khiến lòng dân oán hận, triều đình lại chọn cách đơn giản và tàn bạo nhất, đó là dùng đao kiếm để bắt dân phải im tiếng.

Lệnh từ kinh thành truyền xuống các châu phủ, yêu cầu lập tức trấn áp tất cả những kẻ tụ dân làm loạn, phỉ báng triều đình và kích động dân chúng. Quân lính được điều động đến các phủ huyện, mang theo giáo dài, cung nỏ và gông cùm. Những con đường vốn đã hỗn loạn nay càng trở nên đáng sợ. Hễ thấy một đám đông tụ tập, quan binh lập tức xông tới giải tán. Kẻ chống cự bị đánh chết tại chỗ, người bỏ chạy bị truy bắt. Nhiều nơi, quan phủ còn đặt ra lệnh giới nghiêm, quá giờ mà vẫn còn ngoài đường thì bị bắt giữ như loạn dân, các cuộc bắt bớ diễn ra ngày một dữ dội.

Ai bị cho là đầu têu bạo loạn, bất kể có thật sự tham gia hay không, đều bị giải về nha môn. Có người bị khép vào tội phản nghịch rồi xử chém giữa chợ để thị uy, có người bị kết án đi đày đến những vùng biên viễn xa xôi, có kẻ chỉ vì từng đứng trong đám đông hôm trước, hôm sau đã bị quan binh xông vào nhà bắt đi.

Trong các nhà lao, quan lại ngày đêm tra hỏi tù nhân:

-Ai xúi ngươi nổi loạn?

-Ai đứng sau?

-Ai thường xuyên nói xấu triều đình?

-Ai từng tham gia đập phá nha môn?

-Ai chứa chấp loạn đảng?

Chỉ cần một người khai ra một cái tên, người mang cái tên ấy lập tức bị bắt. Đến lượt người đó lại bị ép phải khai thêm người khác. Cứ như vậy, một sợi dây oan nghiệt nối từ người này sang người khác, từ một gia đình sang cả một thôn xóm. Có những người vốn chẳng biết gì về chuyện bạo loạn, nhưng chỉ vì hàng xóm bị bắt mà bị kéo vào vòng lao lý, Có người chỉ từng đứng ngoài đường xem đám đông, cũng bị quan phủ quy thành đồng đảng. Có người vì sợ hãi không chịu nhận tội, bị đánh đến mê man rồi cuối cùng đành phải ký vào bản cung đã được viết sẵn. Những tiếng khóc bắt đầu xuất hiện khắp nước Tùy.

Trong một ngôi làng nọ, quân lính đến lúc trời vừa sáng. Họ phá cửa từng nhà, lục soát từng gian bếp, từng kho thóc, bắt đi những người bị tố giác là có lời chống đối triều đình. Một bà lão quỳ dưới đất van xin rằng con trai mình chỉ là người làm ruộng, quanh năm chưa từng bước chân tới phủ thành, nhưng chẳng ai nghe, người con bị trói giải đi. Bà lão chạy theo đến tận đầu làng, vừa khóc vừa gọi tên con. Đáp lại bà chỉ là tiếng vó ngựa và tiếng xiềng sắt va vào nhau.

Ở những phủ thành lớn, cảnh tượng còn thảm khốc hơn. Cổng chợ dựng lên những cọc gỗ, quan binh áp giải từng đoàn người ra giữa phố để xét xử. Những bản án được đọc vội vàng, nhiều khi người bị kết tội còn chưa kịp hiểu mình đã phạm phải tội gì, có người bị xử chém, có người bị đóng gông đưa đi đày. Gia quyến của họ cũng bị quan phủ theo dõi, tài sản bị niêm phong, nhà cửa trở nên lạnh lẽo chỉ sau một đêm.

Dân chúng vốn đã sợ hãi, nay càng không dám nói chuyện. Quán trà im tiếng, chợ búa im tiếng, ngay cả trong những bữa cơm gia đình, người ta cũng không dám nhắc đến chuyện triều đình.

Có người đang nói giữa chừng bỗng nhìn ra cửa rồi hạ thấp giọng:

-Thôi... đừng nói nữa.

Bởi chẳng ai biết người ngồi bên cạnh mình có phải tai mắt của quan phủ hay không, nỗi sợ len vào từng ngõ ngách. Người dân bắt đầu đóng cửa từ sớm, không dám tụ tập đông người, không dám bàn chuyện chính sự. Nhưng càng đàn áp, lòng người lại càng căm phẫn. Bởi mỗi nhát đao của quan binh không làm người dân quên đi cái chết của Bảo Ngọc, mà chỉ khiến họ nhớ rõ hơn rằng triều đình đã đứng về phía kẻ có quyền thế.

Nhà Bảo Đức từ một gia đình được người người kính trọng, chỉ trong thời gian ngắn đã bị cuốn vào vòng xoáy oan nghiệt của triều đình Tùy. Sau cái chết của Bảo Ngọc, Bảo Đức gần như mất hết tinh thần. Người con gái duy nhất, niềm hy vọng lớn nhất của ông, chết một cách oan khuất, vậy mà quan phủ chẳng những không xét lại vụ án, còn hết lần này đến lần khác buộc gia đình phải chấp nhận rằng nàng tự vẫn. Nhưng Bảo Đức không chịu khuất phục, ông đem từng tờ đơn kiện, từng lời khai của những người chứng kiến, từng chứng cứ mà gia đình có được đến nha môn. Ông bán dần những tài sản có giá trị để thuê người viết đơn, nhờ người chạy đường quan, mong có ngày được gặp một vị quan thanh liêm có thể nghe cho mình một lời.

Nhưng ông càng kêu oan, triều đình càng coi ông là cái gai phải nhổ bỏ. Cửa hàng buôn gỗ của Bảo gia vốn làm ăn phát đạt, thuyền bè ngày ngày xuôi ngược trên sông, kho gỗ lúc nào cũng đầy ắp. Từ phương bắc đến phương nam, những thương đội từng tìm đến Bảo gia nay lần lượt tránh xa. Không phải họ không muốn làm ăn, mà chẳng ai muốn dây vào một gia đình đã bị triều đình để mắt.

Quan phủ liên tiếp gây khó dễ, giấy thông hành bị giữ, hàng hóa bị khám xét, thuyền vận chuyển bị viện cớ kiểm tra rồi lưu lại nhiều ngày, khách mua gỗ bị cảnh cáo không được giao dịch với Bảo gia. Chỉ trong vài tháng, những mối làm ăn gây dựng suốt mấy chục năm lần lượt tan vỡ. Những người làm thuê cũng chẳng còn việc để làm, có người phải trở về quê, có người dắt cả gia đình đi nơi khác kiếm sống. Những con thuyền từng tấp nập trước bến Bảo gia dần biến mất, kho gỗ ngày một trống rỗng.

Rồi một ngày, quan binh kéo đến. Một tờ công văn được đọc giữa sân, cáo buộc Bảo Đức có hành vi kích động dân chúng, phỉ báng triều đình, cấu kết loạn đảng. Ngay lập tức, gia sản Bảo gia bị niêm phong, kho gỗ bị tịch thu, thuyền bè bị sung công, cửa hàng đóng cửa. Nhà cửa, ruộng đất, tiền bạc và những thứ tài sản mà cả đời Bảo Đức gây dựng đều bị quan phủ lấy đi.

Người trong gia đình bị lục soát từng phòng, những rương hòm chứa đồ gia truyền bị mở tung. Những vật dụng mà Bảo Ngọc từng dùng khi còn sống cũng bị quan binh thu gom chẳng chút thương tình. Đến cuối ngày, căn nhà từng rộng lớn và ấm cúng chỉ còn lại những gian phòng trống rỗng.

Gia đình Bảo Đức cũng từ đó ly tán, người vợ vốn đã đau đớn vì mất con nay bị bệnh tật hành hạ, phải nương nhờ họ hàng ở một vùng xa. Người con trai bị bắt đi thẩm vấn, rồi bị áp giải đến nơi khác. Những người thân thích sợ liên lụy nên cũng lần lượt tránh mặt.

Bảo Đức, từ một thương nhân giàu có được người dân kính trọng, trở thành một người không nhà, không của, không còn bất cứ chỗ dựa nào. Nhưng triều đình vẫn chưa chịu dừng lại, đối với họ, Bảo Đức còn sống ngày nào thì cái chết của Bảo Ngọc vẫn còn có người nhắc đến ngày ấy. Vì vậy, triều đình Tùy phải khiến ông trở thành một kẻ có tội, cuối cùng, Bảo Đức bị giải ra công đường.

Ông quỳ giữa sân, thân hình tiều tụy sau những ngày tháng trong lao ngục. Vị thương nhân từng có hàng trăm người dưới quyền nay chỉ còn một bộ áo cũ trên người. Quan phủ đọc bản án, những lời buộc tội nối tiếp nhau, nhưng chẳng có lời nào nói đến Bảo Ngọc. Không một câu hỏi về việc vì sao nàng chết, không một lời nhắc đến những người từng chứng kiến, không một lần xét hỏi Thế tử Kha, chỉ có một kết luận đã được định sẵn, Bảo Đức là kẻ gây loạn, ông bị kết tội chém đầu.

Ngày hành hình, người dân trong vùng kéo đến rất đông, họ đến để nhìn người mà họ từng kính trọng lần cuối. Bảo Đức bị áp giải ra ngõ chợ, nơi vốn là chỗ buôn bán đông đúc nhất phủ thành. Quan phủ muốn biến nơi ấy thành chỗ thị uy, muốn cho dân chúng thấy rằng bất cứ ai chống lại triều đình đều sẽ có kết cục như vậy.

Nhưng cảnh tượng trước mắt lại khiến lòng người đau xót, những người từng được Bảo Đức cứu giúp đứng lẫn trong đám đông, có người cúi đầu khóc, có người nghiến răng không dám nói một lời. Một bà lão từng được ông phát gạo trong năm mất mùa quỳ xuống đất, hai tay chắp trước ngực. Một người phu từng được Bảo gia cho việc làm đứng chết lặng bên đường. Những người ấy đều hiểu rằng người sắp chết trước mắt họ không phải một tên phản loạn, ông chỉ là một người cha đã cố đòi lại công bằng cho con gái mình.

Trước giờ hành hình, Bảo Đức không xin tha mạng, ông chỉ ngẩng đầu nhìn đám đông. Một lúc lâu, ông mới cất tiếng:

-Ông trời... ông quả không có mắt!

Giọng nói yếu ớt nhưng vang lên giữa ngõ chợ:

-Con gái ta bị chết oan!!!

Quan binh lập tức quát lớn, không cho ông nói thêm, nhưng rất nhiều người nghe thấy lời trăn trối cuối cùng ấy.

Bảo Đức bị hành hình, sau đó, triều đình còn cho bêu đầu ông tại nơi ngõ chợ để thị uy, hòng khiến dân chúng khiếp sợ. Nhưng chính việc ấy lại trở thành một vết sẹo không thể xóa trong lòng người Tùy, bởi từ ngày hôm đó, mỗi khi đi ngang qua khu chợ ấy, người dân lại nhớ đến Bảo Đức. Nhớ đến người thương nhân hiền hậu từng giúp đỡ họ, nhớ đến cô gái Bảo Ngọc chết oan, nhớ đến một gia đình chỉ vì đòi công lý mà tan cửa nát nhà, và nhớ đến một triều đình đã có thể dùng quyền lực biến người bị hại thành tội nhân.

Một tay che trời, triều đình có thể biến trắng thành đen, biến người bị hại thành kẻ có tội, biến kẻ gây ra tai họa thành người vô can. Trong kinh thành, Thế tử Kha vẫn sống trong phủ đệ nguy nga, hắn vẫn ăn ngon, mặc đẹp, vẫn có người hầu kẻ hạ, không một sợi tóc trên đầu hắn bị động đến. Còn ngoài kia, những người dân vô tội đang phải chịu cảnh tù ngục, ly tán, mất cha, mất con. Sự tương phản ấy khiến lòng dân càng thêm tuyệt vọng, nhưng cũng chính trong những ngày tháng đen tối ấy, một thứ khác bắt đầu hình thành.

Đó là sự căm phẫn, ban đầu người ta sợ triều đình, sau đó người ta oán triều đình. Rồi dần dần, người ta bắt đầu nghĩ rằng nếu cả triều đình đều đứng về phía kẻ ác, thì muốn sống được, muốn đòi lại công bằng, chỉ còn một cách duy nhất, đó là đứng lên chống lại nó.

Triều đình Tùy tưởng rằng những cuộc chém giết sẽ khiến thiên hạ khiếp sợ mà quy phục, nhưng họ không hiểu rằng có những nỗi đau càng bị đè nén thì càng tích tụ sâu hơn. Máu đổ xuống mặt đất có thể khiến một con phố im tiếng trong một ngày, nhưng không thể khiến hàng vạn người quên đi những gì họ đã chứng kiến.

Và từ chính những nhà lao tối tăm, những gia đình tan nát, những tiếng khóc bị ép phải câm lặng ấy, một cơn bão lớn hơn đang âm thầm hình thành. Nước Tùy tưởng rằng mình đang dẹp loạn, nhưng thực ra, chính những nhát đao của triều đình đang từng ngày nuôi lớn cuộc loạn.

Đám mật thám của nước Soái vô số người bị chém và bắt đi vì tội cố ý gieo rắc phản loạn. Hơn hai mươi người sang nước Tùy nay chỉ còn lại ba người vẫn đang ẩn náu. Họ bàn với nhau rằng phải cử một người về báo tin cho Soái Vương, sau đó hai người còn lại sẽ ẩn mình chờ tiếp viện đến, tạm thời không kích động nữa.

Vài ngày sau, mật thám báo tin về, Soái Vương lập tức cho truyền văn võ bá quan vào nghị sự. Soái Vương mở đầu:

-Tình hình bên nước Tùy hiện rất cam go, triều đình đàn áp dân chúng thô bạo, khiến mật thám của ta cũng liên lụy mà chết gần hết. Cứ đà này dân chúng nước Tùy chẳng mấy sẽ bị đem hết ra xử, chẳng còn chút ý chí nào để phản kháng được nữa, như vậy sẽ hỏng việc ta. Các khanh có cao kiến gì thì tâu ngay để ứng phó.

Huy Cẩn đáp:

-Thần không ngờ triều đình nước Tùy vì bao che cho Thế tử Kha mà đàn áp kinh thiên động địa như vậy. Chúa công nói rất phải, chúng ta phải lập tức can thiệp vào tình hình này, tránh để ngọn lửa oán hận của dân Tùy qua đi.

Nguyên Hà nói:

-Mật thám của ta hy sinh không hề uổng phí, họ đã khiến lòng dân Tùy ngày càng oán hận một cách sâu sắc. Thế nhưng triều đình Tùy ra tay lần này quyết liệt như vậy, chứng tỏ họ đã có nhiều kinh nghiệm trong việc áp chế dân chúng. Nếu ta không ra tay can thiệp, e rằng tinh thần dân Tùy sẽ ngày một rệu rã, lo giữ mạng hơn là đồng lòng chống triều đình. Thần nghĩ ra một cách, có thể khiến xoay chuyển tình thế nước Tùy, nhưng có đôi chút mạo hiểm.

Soái Vương tò mò:

-Khanh cứ nói, ta là người ưa thích mạo hiểm!

Nguyên Hà đáp:

-Chúng ta vẫn dùng kế cũ, nhưng đổi lại sẽ cử đi những người giỏi nhất!

Hứa Chung hỏi:

-Ý Thừa tướng nói đến những người giỏi nhất là ai?

Nguyên Hà đáp:

-Một văn thần dùng tài chí và lý lẽ liên kết được lòng dân Tùy, một võ tướng võ nghệ phi phàm, có thể lấy một địch trăm để bảo vệ và dẫn đầu loạn dân!

Soái Vương nói:

-Ý đó quả rất hay! Có điều việc lần này rất mạo hiểm, các khanh ai muốn xung phong thì đứng ra phía trước, nếu sự việc thành nhất định ta sẽ trọng thưởng xứng đáng!

Ngay lập tức, văn thần Huy Cẩn và võ tướng Hổ Uy đồng thanh:

-Thần nguyện xung phong!

Soái Vương mừng:

-Được, vậy trọng trách này sẽ giao cho hai khanh đảm nhận!

Nguyên Hà can:

-Không được, hai người họ tuyệt đối không thể đi!

Soái Vương hỏi:

-Vì cớ gì?

Nguyên Hà đáp:

-Huy Cẩn tuy có tài trí nhưng lời nói chưa đủ thuyết phục, Hổ Uy tuy dũng mãnh nhưng tính cách bộc trực, dễ bứt dây động rừng. Nếu chúa công cử họ đi thì vừa không được việc nước Tùy, mà ta lại mất đi hai đại thần uổng phí!

Soái Vương hỏi:

-Vậy ý khanh muốn tiến cử ai?

Nguyên Hà đáp:

-Thần nguyện xin đi!

Tất cả mọi người trong điện đều kinh ngạc trước câu trả lời của Nguyên Hà. Soái Vương đập bàn đứng dậy, nói:

-Không được, tuyệt đối không được! Khanh là cánh tay phải của ta, ai đời lại cử tướng quốc của mình đi làm nhiệm vụ ấy!

Các quan cũng đồng tình, cho là phải. Nguyên Hà nét mặt vẫn điềm tĩnh, đáp:

-Kể từ sau lần chết hụt ở hẻm Tàng Nguyệt, thần vốn đã coi tính mạng của mình nhẹ tựa lông hồng. Thần tự ứng cử mình, đều vì công lẫn tư cả, xin chúa công minh xét!

Soái Vương cau mày:

-Công tư như thế nào?

Nguyên Hà đáp:

-Xét về công, thần là người phù hợp nhất cho nhiệm vụ lần này. Thần có đủ tài trí, am hiểu bản tính con người và có sức thuyết phục đám đông rất lớn. Xét về tư, thần vẫn còn áy náy những thất bại ở Diễn Châu trong quá khứ, trong lòng luôn muốn lập công chuộc tội. Cơ hội lần này quả là hiếm có, giúp thần được thỏa lòng mong ước bấy lâu nay, đó chính là đóng góp công lao cho nước Soái.

Soái Vương quay mặt lại, hai tay để sau lưng, lặng thinh không đáp. Các quan cũng yên lặng chờ quyết định của Soái Vương.

Suy nghĩ một hồi, Soái Vương nói:

-Thôi được, nhưng phải cử một võ tướng đủ tài nghệ bảo vệ cho khanh!

Nguyên Hà quay sang nhìn Hứa Chung, Hứa Chung lập tức hiểu ý, bước ra nói:

-Thần nguyện đi theo bảo vệ Thừa tướng!

Soái Vương phẩy tay, nói:

-Cả ngươi cũng vậy sao?

Hứa Chung đáp:

-Bẩm chúa công, thần đi lần này thỏa mãn cả công lẫn tư, không ai khác thích hợp hơn ạ!

Soái Vương cười:

-Giỏi, giờ các ngươi thay nhau nói đến công tư với ta sao! Thôi được, nói!

Hứa Chung thưa:

-Xét về công, thần đủ dũng mãnh để đối đầu quân Tùy, có thể địch vài trăm tên dễ như bỡn. Thần cũng không phải là kiểu người nóng vội mà hỏng việc. Xét về tư, thần và Thừa tướng có mối thâm giao sâu đậm, nếu ngài ấy có mệnh hệ gì thần cũng không thể an tâm được, chi bằng đi theo bảo vệ ngài thì hơn!

Soái Vương gật đầu, tuy ngoài mặt tỏ ra không hài lòng nhưng trong tâm rất mãn nguyện vì có hai đại thần, một người là Thừa tướng, một người là Nguyên soái, đều không ngại hiểm nguy và trung thành với nước Soái như vậy. Soái Vương nói:

-Thôi được, chuẩn tấu! Ta giao trọng trách này cho hai khanh, tuyệt đối không được làm hỏng việc!

Nguyên Hà và Hứa Chung đồng thanh:

-Tuân mệnh!
 
Back
Top