Xuyên không Hài hước Lưu manh chính nghĩa

  • Thread starter Thread starter No12980
  • Ngày gửi Ngày gửi

No12980

Mỗi câu chuyện là một thế giới
Tác giả
Tham gia
23/7/26
Chủ đề
6
Bài viết
45
Được Like
174
Điểm
33
"Ta chẳng phải người tốt. Ta chỉ không thích nhìn người tốt bị người xấu bắt nạt."
ChatGPT Image 10_39_23 10 thg 8, 2026.png
 
Kiếp trước ta chuyên lừa đồ giả.
Kiếp này ta có cả gia tài để lừa... à không, để kinh doanh!
CHƯƠNG 1 — NGƯỜI CHẾT TRONG QUAN TÀI

Vào những năm giữa thế kỷ hai mươi, khi những con đường làng quê còn ngoằn ngoèo bám đầy bụi đỏ vào mùa khô và lầy lội như đầm lầy vào mùa mưa, người dân quanh vùng không ai là không biết đến Cố Tam. Hắn là một kẻ lang thang chính hiệu, không mảnh đất cắm dùi, cũng chẳng có lấy một cái căn nhà tử tế để che mưa che nắng. Thế nhưng, trái ngược với thân phận bèo dạt mây trôi ấy, Cố Tam sở hữu một cái đầu tinh nhanh đến mức kỳ lạ. Hắn sống bằng cái nghề gõ đầu thiên hạ: thu mua đồng nát, đồ cũ, đồ cổ và đủ thứ phế liệu mà người đời xem là rác rưởi vứt đi.

Nhìn cái dáng vẻ gầy gò, áo quần xơ xác đơm bằng đủ loại cúc vải khác màu của hắn, ít ai ngờ rằng đôi mắt của Cố Tam lại sắc lẹm như dao cạo. Hắn chỉ cần liếc qua một chiếc bình sứ cũ kỹ đốm men, gõ nhẹ ngón tay vào thân gốm nghe tiếng kêu bốp bốp rỗng tuếch, rồi thản nhiên buông một câu xanh rờn.

“Hai nghìn mua được. Năm nghìn bán được. Mười nghìn thì thằng ngu mới mua.”

Đó là phương châm làm ăn bất di bất dịch của hắn. Hắn không chỉ giỏi nhìn đồ mà còn cực kỳ mát tay trong việc chế tác đồ cổ giả. Nhờ đôi bàn tay khéo léo và mớ kiến thức tích lũy từ những năm tháng lăn lộn khắp các chợ phiên, Cố Tam có thể biến một cái đĩa sành mới lò ra năm ngoái thành đồ ngự dụng thời phong kiến chỉ bằng vài thủ thuật ngâm giấm, bọc bùn và phơi sương. Hắn lừa gạt không biết bao nhiêu thương nhân hợm hĩnh, nhưng ở hắn lại có một nguyên tắc sắt đá: tuyệt đối không bao giờ lừa người nghèo.

Có lần, bà cụ Tứ ở cuối làng gom góp được đống chai lọ thủy tinh sứt mẻ cùng vài miếng sắt vụn mang ra bán để lấy tiền mua thuốc cho đứa cháu đang sốt ruột gan. Đống phế liệu ấy cùng lắm chỉ đáng giá vài hào lẻ, nhưng Cố Tam nhìn gương mặt gầy gò nhăn nhúm đầy nước mắt của bà cụ liền thản nhiên móc ra mấy tờ tiền giấy mới coong, trả giá cao gấp đôi so với thực tế. Hắn còn phán một câu tào lao rằng trong đống chai lọ ấy có một cái chai mạ kim cương quý hiếm mà chỉ người trong nghề như hắn mới nhận ra.

Lại có lần, một ông nông dân hiền lành trong làng bị tên thương nhân hợm hĩnh từ trên thị trấn về ép giá, lừa mất toàn bộ số tiền bán lúa cả năm. Cố Tam nghe xong câu chuyện liền âm thầm dựng lên một cú lừa hoàn hảo. Hắn tự tay chế ra một chiếc lư hương đồng cổ giả, dàn cảnh lừa ngược lại tên thương nhân nọ lấy một khoản tiền lớn, rồi đêm đó lén nhét cọc tiền vào dưới mái tranh nhà ông nông dân.

Bởi vậy, dân trong làng mỗi khi nhắc đến Cố Tam đều vừa bĩu môi chửi hắn là loại lưu manh gian xảo, lại vừa phải gật gù thừa nhận cái tên lang thang này sống rất có nghĩa khí.

Mọi chuyện bắt đầu xáo trộn vào một buổi chiều mưa phùn gió lạnh. Cố Tam ghé vào quán rượu của lão Trương ở đầu làng để xua đi cái rét luồn vào tận xương tủy. Quán rượu của lão Trương vốn tù túng, nồng nặc mùi men nếp lên men dở và mùi khói bếp củi ám vào tường gạch mục. Cố Tam ngồi xuống chiếc ghế đẩu gập gềnh, vỗ bàn gọi liền một lúc năm bát rượu ngô bộc tuyền cay xè lưỡi cùng hai đĩa đậu phụ thối rán giòn thơm nức mũi.

Rượu ngô làng này nổi tiếng là loại rượu nặng, uống vào đến đâu biết đến đấy, nóng rát cả cõi lòng. Cố Tam nâng bát rượu thứ nhất, ừng ực nuốt trọn. Rồi bát thứ hai, bát thứ ba, bát thứ tư, cho đến bát thứ năm. Hắn vừa nhắm đậu phụ thối vừa nhấm nháp từng ngụm rượu đậm đà, tận hưởng cảm giác lâng lâng sau một ngày bươn chải. Thế nhưng, ngay khi giọt rượu cuối cùng trong bát thứ năm trôi qua cổ họng, một cảm giác tê dại kỳ lạ đột nhiên lan ra khắp cơ thể hắn. Mắt hắn hoa lên, trần nhà xiêu vẹo rồi tối sầm lại. Cố Tam đổ gục xuống bàn gỗ, ngã ngửa ra sàn đập đầu cái rụp, hoàn toàn bất tỉnh nhân sự.

Khi lão Trương hoảng hốt lay gọi mãi không thấy Cố Tam phản ứng, dân làng vội vã chạy đi mời y sĩ Bạch, vị thầy thuốc duy nhất trong vùng. Y sĩ Bạch vốn là một lão già mắt mờ chân chậm, bắt mạch thì ít mà phán bừa thì nhiều. Lão thong thả bước vào quán rượu, đưa hai ngón tay run rẩy đặt lên cổ tay lạnh ngắt của Cố Tam qua lớp áo bông dày, nghiêng đầu nghe ngóng vài giây rồi thở dài thốn thức. Lão lột kính ra, lau lau vào vạt áo rồi tuyên bố bằng một giọng buồn rầu rằng Cố Tam đã trúng độc rượu, mạch đập đã ngừng, hơi thở đã dứt, chính thức chầu trời.

Tin Cố Tam đột ngột qua đời lan ra nhanh như vết dầu loang. Ngay lập tức, Lý Đầu Trọc, một gã chuyên nghề cờ bạc và nhận vơ họ hàng trong làng, đã xuất hiện. Hắn vỗ ngực xưng mình là người thân duy nhất còn sống của Cố Tam, đứng ra nhận trách nhiệm lo liệu tang lễ. Thực chất, ai cũng biết Lý Đầu Trọc chỉ chực chờ cơ hội này để chiếm đoạt chiếc quan tài gỗ thông tốt mà Cố Tam từng mua tích trữ và đống của nả lặt vặt của hắn.

Đám người trong làng nhanh chóng bắt tay vào việc. Họ dựng lên một linh đường xơ xác ngay tại căn nhà trống của Cố Tam. Mùi hương trầm nghi ngút hòa lẫn mùi dầu hỏa tàn quạt tạo nên một không khí thảm sầu, ma mị. Người ta đặt Cố Tam vào trong chiếc quan tài gỗ thông còn nồng mùi sơn mới, đậy nắp lại nhưng chưa đóng đinh vì còn chờ giờ lành để di quan.

Giữa không gian u tối và chật hẹp ấy, Cố Tam bắt đầu hồi tỉnh.

Đầu hắn đau như búa bổ, cổ họng khô rát như có lửa đốt. Hắn chớp mắt vài lần nhưng xung quanh chỉ là một màu đen kịt, ngột ngạt đến nghẹt thở. Mùi gỗ thông hắc nồng xộc thẳng vào mũi. Hắn vươn tay ra xung quanh và hoảng hốt nhận ra tay mình đang chạm vào những vách gỗ chật hẹp. Cố Tam lập tức hiểu ra hoàn cảnh của mình. Hắn chưa chết. Có lẽ năm bát rượu ngô cùng hai đĩa đậu phụ thối đã gây ra một phản ứng dở khóc dở cười khiến tim hắn đập chậm đến mức lão y sĩ lang băm kia không thể phát hiện ra.

Đang lúc Cố Tam định cất tiếng kêu cứu thì những tiếng động bên ngoài linh đường lọt qua khe hở của nắp quan tài. Hắn nghe thấy tiếng gõ mõ tụng kinh rì rầm, tiếng khóc sụt sùi của vài người bà con xóm giềng, và đặc biệt là tiếng thì thầm gian trá của Lý Đầu Trọc ngay sát bên cạnh quan tài. Lý Đầu Trọc đang bàn xót với mấy kẻ phục dịch về việc chia trác tiền phúng viếng. Không những thế, gã còn dán mắt vào sợi dây chuyền sáng lấp lánh đang đeo trên cổ của Cố Tam. Sợi dây chuyền này thực chất là đồ giả do chính tay Cố Tam mạ đồng cực kỳ tinh xảo, nhưng trong mắt kẻ tham lam như Lý Đầu Trọc, đó lại là một khối tài sản kếch xù.

Cố Tam nghe thấy tiếng nắp quan tài bị hé ra một khe nhỏ. Bàn tay thô ráp, hôi hám của Lý Đầu Trọc luồn vào bên trong, mò mẫm quanh cổ hắn để tháo sợi dây chuyền. Cố Tam cắn răng cố nhịn. Hắn muốn xem gã diễn trò đến đâu, đồng thời cũng lo sợ nếu đột ngột mở mắt sẽ làm đám người ngoài kia phát khiếp. Thế nhưng bàn tay vụng về của Lý Đầu Trọc lại vô tình ngoắc mạnh vào mũi Cố Tam, làm trầy một mảng da rát xót. Cơn tức giận cùng cảm giác ngứa ngáy bùng phát khiến hắn không thể nhẫn nại thêm được nữa. Hắn há miệng hắt hơi một tiếng rõ to, đồng thời giơ hai tay giật mạnh lấy cổ tay thô ráp của Lý Đầu Trọc.

Một tiếng rắc khô khốc vang lên cùng tiếng gào thét thất thanh của gã anh họ hờ. Nắp quan tài bị lực mạnh đẩy văng ra sàn, bắn tung bụi gỗ. Cố Tam chầm chậm ngồi dậy từ trong chiếc lòng gỗ hẹp, tóc tai rũ rượi, hai mắt trợn ngược giữa làn khói hương nghi ngút.

Đám người đang tụng kinh lập tức dạt ra xung quanh như đàn ong vỡ tổ, mâm cúng đơm đầy đậu phụ và trái cây đổ nhào xuống đất. Lý Đầu Trọc ngã ngửa ra sau, mặt cắt không còn một giọt máu, run rẩy chỉ tay vào hắn mà ú ớ: “Ma… ma về đòi nợ!”

Cố Tam bẻ khớp tay rôm rốp, nhếch môi nhìn gã bằng ánh mắt đăm đăm: “Dây chuyền mạ đồng mà chú cũng muốn cướp, vậy còn chiếc quan tài này chú tính chia cho ai?”

Tiếng gầm nhẹ của hắn vừa dứt, không khí trong căn linh đường vốn tù túng hôi hám nay lại càng trở nên quái dị. Đám người đứng xung quanh giương mắt nhìn Cố Tam ngồi lù lù trong áo quan, gương mặt xám xịt dính đầy bụi gỗ, hai con mắt trợn ngược vì mệt mỏi. Trong đầu họ, hình ảnh những con cương thi nhảy chót vót trong truyền thuyết lập tức hiện lên một cách sinh động nhất.

Vương Đồ Tể, gã mổ lợn vạm vỡ nhất làng vốn nổi tiếng gan dạ và sở hữu chiếc dao phay sáng quắc, là người phản ứng đầu tiên. Gã rú lên một tiếng chói tai như tiếng lợn bị chọc tiết, đánh rơi cả đĩa xôi nếp xuống đất vỡ tan tành, rồi vắt chân lên cổ lao thẳng ra ngoài cửa chính. Gã vừa chạy vừa gào lớn rằng cương thi sống lại cắn người, bóng lưng lực lưỡng biến mất sau rặng tre chỉ trong chớp mắt.

Y sĩ Bạch đứng gần đó, cặp kính lão tụt xuống tận chóp mũi, run rẩy nhìn Cố Tam rồi nhìn lại đôi tay vừa bắt mạch cho hắn hồi chiều. Lão ho khan một tiếng đục ngầu, hai chân xoắn quýt vào nhau. Lão nhận ra nếu gã lang thang này không chết thật thì cái danh tiếng thầy thuốc lừng lẫy cả vùng của lão coi như tiêu tùng, còn nếu hắn là quỷ thật thì lão là người đầu tiên bị đòi mạng vì đoán sai. Không kịp nhặt lại cái hòm thuốc gỗ trân quý, lão kéo vạt áo dài lên quá gối, vội vã lách qua khe cửa tháo chạy thục mạng theo sau Vương Đồ Tể.

Trong căn phòng ngập khói hương, chỉ còn lại Lý Đầu Trọc đang quỳ sụp dưới sàn gạch. Hắn dập đầu liên tạch xuống đất, tiếng bôm bốp vang lên đều đặn như tiếng mõ tụng kinh. Hắn khóc lóc om sơm, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng xối xả vào đống tàn hương. Hắn van xin Cố Tam sống linh linh thiêng đừng bắt gã đi, gã hứa từ nay sẽ ăn chay niệm Phật, không bao giờ tơ hào một sợi tóc hay một đồng tiền giả nào của hắn nữa.

Cố Tam bước ra khỏi quan tài, phủi phủi lớp gáo dừa khô dính trên vạt áo bông rách. Hắn thong thả đi tới bàn thờ, nhặt lấy chiếc hòm gỗ đựng tiền phúng viếng mà Lý Đầu Trọc vừa ôm khăng khăng trong lòng lúc nãy. Hắn mở ra, đếm sơ qua mớ tiền giấy và tiền xu lẻ do bà con làng xóm góp lại. Nhìn số tiền này, hắn nhếch môi cười khẩy, lắc đầu trước sự tham lam của gã anh họ hờ.

Đúng lúc ấy, Tần Sương Sương, cô gái bán đậu phụ ở đầu xóm, người vốn có chút tình ý mập mờ nhưng cũng lắm hiềm xích với hắn, từ sau bức màn vải vóc ló đầu ra. Nàng một tay ôm ngực, một tay dậm chân thúng thắng. Nàng vừa giận dữ lại vừa mếu máo, đôi mắt đỏ ừng vì khóc và vì khói hương bốc vào mặt. Nàng chỉ tay vào mặt Cố Tam mà mắng rằng hắn đúng là đồ chết không nhắm mắt, báo hại nàng tốn mất năm đồng tiền để mua đĩa hương vòng và mấy xấp tiền vàng mã đến viếng. Nàng gào lên rằng năm đồng đó bằng cả tiền lời bán hai mâm đậu phụ của nàng suốt ba ngày trời.

Cố Tam thở dài một tiếng dầy cộp. Hắn thò tay vào hòm tiền phúng viếng, rút ra đúng năm đồng tiền xu sáng bóng rồi thản nhiên thảy vào lòng bàn tay nàng. Nàng ngẩn người nhìn năm đồng tiền, tiếng khóc lập tức nghẹn lại trong cổ họng. Nàng dĩ nhiên không dại gì trả lại, vội vàng nhét tọt xấp tiền vào dải yếm rồi nguýt hắn một cái dài ngoẵng trước khi quẩy váy chạy mất dạng ra khỏi linh đường.

Cố Tam kẹp chặt hòm tiền dưới nách, chỉnh lại chiếc áo bông rồi tự tin sải bước ra khỏi cửa. Hắn nghĩ bụng đêm nay sẽ dùng số tiền này để đánh một bữa chén hả hê ở quán lão Trương cho bõ những giờ phút suýt chết ngạt trong chiếc hộp gỗ thông.

Thế nhưng, vừa thò một chân qua ngưỡng cửa gỗ mục, bước chân hắn khựng lại giữa chừng.

Ngay trước sân nhà hắn, dưới ánh trăng mờ nhạt của đêm muộn, không phải là con đường làng vắng vẻ thường ngày. Đang đứng lố nhố ở đó là gần chục gã bặm trợn, tay lăm lăm gậy gộc và dao găm. Đẫn đầu đám người đó là Tên Mặt Sẹo, một gã trùm giang hồ ở chợ huyện mà ba tháng trước từng bị Cố Tam lừa mất năm mươi đồng bạc trắng bằng một chiếc lư hương đồng niken giả cổ.

Tên Mặt Sẹo giương đôi mắt vằn vện vạt máu nhìn Cố Tam. Gã nở một nụ cười tàn nhẫn, gõ nhịp chiếc gậy gỗ gụ xuống nền đất kêu lộc cộc. Gã bảo tưởng tin Cố Tam chết là thật nên kéo đám đàn em đến định san bằng cái ổ này để gỡ gạc chút đỉnh, không ngờ lại gặp lại cố nhân trong hoàn cảnh bất ngờ thế này.

Cố Tam nuốt ừng ực một ngụm nước bọt khô khốc xuống cổ họng. Hắn liếc nhìn đám tay sai to cao như hộ pháp đang siết chặt vòng vây, lại nhìn chiếc hòm tiền mỏng dính trong tay mình. Trong một khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, hắn lập tức nở một nụ cười cầu hòa vô cùng tươi tắn, rồi xoay người ngoắt một cái ba mươi sáu độ, vắt chân lên cổ lao thục mạng ngược trở lại vào bên trong căn nhà.
 
Sửa lần cuối:
“Ta không thích làm anh hùng. Làm anh hùng mệt lắm, lại chẳng được đồng nào.”
## CHƯƠNG 2 — VỪA SỐNG LẠI ĐÃ CHẠY TRỐN

Cố Tam sập mạnh cánh cửa gỗ mục xuống, thanh then cài xơ xác nảy lên một tiếng cạch chói tai. Hắn dốc hết sức bình sinh úp vai vào cánh cửa, lồng ngực phập phồng như ống thổi lò gặt. Độc rượu ngô với đậu phụ thối lúc chiều vẫn chưa tan hết, nó chạy chần chật trong cuống phổi hắn như một nhúm ớt bột bị châm lửa đốt.

Tiếng rần rật ngoài sân vang lên ngày một dồn dập. Tiếng đế giày nạm sắt nện rầm rập lên nền đất bùn nhão nhét, kèm theo đó là giọng oang oang giận dữ của Tên Mặt Sẹo. Hắn hiểu rõ đám giang hồ chợ huyện này. Chúng đã kéo đến thì không bao giờ có chuyện nói lý lẽ hay nhân nhượng.

Cố Tam nhìn quanh gian nhà hoang tàn, mắt đảo liên hồi như con thoi. Cánh cửa chính chắc chắn không chịu nổi quá hai cú đạp của đám vai xăm mình mổ vược kia. Hắn quyết định quay ngoắt người, vơ lấy chiếc hòm gỗ mỏng dính chứa vài đồng tiền lẻ còn sót lại, rồi cắm đầu cắm cổ lao về phía cửa sau.

Cửa sau vốn là một tấm gỗ ép giòn tan vì mối mọt. Cố Tam không buồn rút then, hắn dùng cả thân hình gầy còm lao thẳng vào. Một tiếng rắc chát chúa vang lên, tấm gỗ gãy đôi, hắn văng ra ngoài hẻm nhỏ phía sau nhà, lộn tùng phèo hai vòng trên nền đất rải xỉ than đen ngòm.

Chưa kịp phủi sạch đám muội than bám đầy mặt, Cố Tam đã nghe thấy tiếng rầm vang dội từ phía gian trên. Cánh cửa chính nhà hắn đã sập hoàn toàn. Tiếng gầm hú của Tên Mặt Sẹo vang vọng ra tận hẻm sau, hứa hẹn một trận đòn tấp nập nếu hắn lọt vào tay gã. Cố Tam không dám chần chừ một cọng tóc, lôi đôi chân ê ẩm chạy thục mạng về hướng khu chợ huyện đang họp đêm.

Khu chợ huyện họp muộn dưới những ngọn đèn dầu lạc leo lét là điểm đến lý tưởng nhất lúc này. Đám đông hỗn loạn, sạp rau rác rưởi và mùi cá thối sẽ là lá chắn tự nhiên giúp hắn cắt đuôi. Cố Tam lao ra khỏi con hẻm, đâm sầm vào mép chợ. Hắn lách qua những rổ rau muống, nhảy chốm qua đống vảy cá chép ngạt thở, miệng không ngừng la lối om sòm để mở đường.

Nhưng Tên Mặt Sẹo đâu phải kẻ vừa mới vào nghề. Gã gầm lên một tiếng, phân công sáu bảy gã đàn em tỏa ra các ngách chợ khóa chặt lối thoát. Đám lâu la với gậy gộc lăm lăm trong tay vừa chạy vừa hất văng những chiếc thúng xào xạc của thương lái, khiến cả khu chợ náo loạn như vỡ tổ. Người ta la ó, chửi rủa, rượt đuổi nhau tạo thành một mớ bùng nhùng hỗn độn.

Đám xã hội đen đuổi Cố Tam khắp chợ, không bỏ sót một ngóc ngách nào.

Cố Tam thở hắt ra từng ngụm khí nóng hổi. Hai cái bắp chân hắn căng cứng như hai thanh củi khô. Hắn vừa chạy vấp giúi giụa qua một sạp bán đậu hũ vừa ngoái đầu lại chửi đổng: “Tao vừa chết sống lại, chúng mày không thể cho tao nghỉ một ngày à?”

Tên Mặt Sẹo dẫn đầu toán người đuổi sát ngay đằng sau. Khoảng cách giữa hai bên chỉ còn chừng ba sải tay. Gã quẹt ngang vệt mồ hôi trên vết sẹo dài loằng ngoằng trên mặt, giọng đặc ken vì tức giận. Bọn chúng gào lên đòi tiền, đòi lại khoản nợ năm mươi đồng bạc trắng mà ba tháng trước Cố Tam đã lừa mất bằng cái lư hương đồng niken giả cổ.

Cố Tam lách người qua một gánh nước mắm đang gánh dở, khiến gã bán nước mắm chới với làm đổ lê lết thứ nước sóng sánh khai nồng ra đường. Hắn ngoái đầu lại hô lớn: “Ta chết rồi!”

Tên Mặt Sẹo tung một cú đạp làm văng chiếc thúng rác bên đường, đôi mắt trợn ngược phừng phừng sát khí khi thấy gã thiếu nợ vẫn chạy khỏe như trâu.

Tên cầm đầu gầm lên: “Mày đang chạy.”

Cố Tam vắt chân lên cổ nhảy tót qua một vũng nước thải màu đen ngòm, miệng cãi chày cãi cối mà không tốn lấy một nhịp thở: “Đó là linh hồn chạy.”

Cánh đàn em của Tên Mặt Sẹo nghe vậy thì càng điên tiết hơn. Một gã tay gấu giận dữ ném phăng chiếc gậy gỗ về phía lưng Cố Tam. Chiếc gậy bay sượt qua tai hắn, đập trúng vào cái mâm đồng của một bà bán bánh xèo làm vang lên tiếng boang rất to, dầu mỡ bắn tung tóa. Cố Tam giật bắn mình, bước chân càng thêm luống cuống. Hắn cắm đầu cắm cổ chạy xuyên qua chợ, xô ngã vô số gánh hàng rong trên đường đi.

Hắn rẽ ngoặt vào dãy bán gia súc ở góc chợ, nơi mùi phân bò và phân lợn bốc lên nồng nặc đến mức muốn ngạt thở.

Đúng lúc này, một bóng người trọc lốc từ trong đám đông thò ra, cắm đầu cắm cổ chạy theo ngay bên hông Cố Tam. Đó không ai khác chính là Lý Đầu Trọc. Gã anh họ hờ này vốn dĩ đã tức tối vì mất trắng khoản tiền phúng viếng, lại thấy Cố Tam ôm cái hòm tiền chạy trốn nên lòng tham nổi lên. Lý Đầu Trọc cũng tham tiền chạy theo, vừa chạy vừa ngó nghiêng cái hòm gỗ trong tay Cố Tam, hy vọng thừa cơ hỗn loạn có thể chộp lấy vài đồng gỡ gạc.

“Cố Tam! Mày đứng lại! Tiền tang lễ của mày vẫn còn trong đó đúng không? Chia cho tao một nửa!” Lý Đầu Trọc vừa thở hồng hộc vừa gào lên sát bên tai hắn.

“Cút ngay! Đồ hút máu người chết! Đang lúc nước sôi lửa bỏng mà mày còn bám theo đòi chia chác hả?” Cố Tam gầm lên.

Hai gã ghen gánh ôm nhau chạy xộc thẳng vào khu vực chuồng lợn của chợ. Đây là nơi nhốt hàng chục con lợn mái lai to như những chiếc can nhựa, vừa được lái buôn lùa từ các làng xa về chờ mổ thịt. Những chiếc chuồng tre ghép tạm bợ gãy gập gềnh, bùn đất và phân lợn ngập đến nửa mắt cá chân.

Cố Tam vốn thân hình gầy còm như con mắm thối, hắn hạ thấp trọng tâm, chui qua chuồng lợn bằng một lỗ hổng dưới gầm gỗ mục. Hắn luồn lách nhanh như một con chạch nhát bóng, thân mình trơn trượt lướt qua lớp bùn hôi hám mà không gặp chút cản trở nào.

Nhưng đám người phía sau thì không có được sự may mắn và thân hình nhỏ gọn đó.

Đám giang hồ mặt hăm hăm sát khí lao đến. Gã đàn em to cao nhất gầm lên, không buồn đi vòng mà dùng cả cái thân hình đồ sộ tông thẳng vào hàng rào tre để xông qua. Một tiếng rắc rắc vang lên, cả mảng rào tre đổ ụp xuống. Chiếc chuồng lợn bị sập hoàn toàn.

Đám giang hồ bị lợn húc đau đớn. Hơn mười con lợn mái lai đang ngủ say bị đè gãy lưng lập tức giận dữ điên cuồng. Chúng hoảng loạn kêu lên những tiếng ỉ ôi chói óc, đôi mắt ti hí chuyển sang màu đỏ ngầu. Đàn lợn tơ bị kích động xông thẳng vào đám người giang hồ đang ngã dúi dụi trên nền bùn nhão.

Một con lợn sề nặng hơn trăm cân hung tợn húc thẳng cái mõm cứng như đá vào hạ bộ của gã đàn em to con. Gã này gào lên một tiếng thấu trời xanh rồi ngã ngửa ra sau, đè lên hai gã khác. Đàn lợn được thể giẫm đạp loạn xạ, húc điên đảo vào mông, vào đùi và sườn của đám lâu la.

Lý Đầu Trọc chạy đằng sau cũng không thoát. Gã bị một con lợn đực khoang đen húc chổng ngược cái đầu trọc lốc xuống rãnh nước thải, miệng ngập đầy bùn và phân lợn, la ó om sòm nhưng chẳng ai buồn cứu.

Tên Mặt Sẹo mặc dù nhanh chân nhảy lên được cọc gỗ chuồng lợn nhưng cũng bị một con lợn xái húc trúng chân gãy gập, khiến gã loạng choạng suýt rơi ngửa. Gã giận đến mức tím tái mặt mày, vung gậy đập túi bụi vào đầu đàn lợn rồi gào lên trong cay đắng: “Đuổi! Đuổi theo nó cho tao!”

Cố Tam trèo ra khỏi khu chuồng lợn ở phía đối diện, toàn thân dính đầy thứ bùn đất hôi hám không sao tả nổi. Hắn cắm đầu cắm cổ chạy ra khỏi phạm vi khu chợ, tiến về phía dốc bờ sông.

Trước mặt hắn là một hàng rào dâm tút gai góc cao ngang ngực, ngăn cách khu chợ với con đường dẫn ra bờ sông. Không một chút chần chừ, Cố Tam nhảy qua hàng rào. Gai dâm tút cào rách một mảng áo của hắn, để lại vài vết xước rát rạt trên hông, nhưng hắn đã tiếp đất an toàn bên kia bờ.

Đám người phía sau đuổi sát, bất chấp gai nhọn đâm rách thịt da. Tên Mặt Sẹo cùng ba bốn gã đàn em còn sống sót sau trận tàn sát của đàn lợn vẫn điên cuồng trèo qua rào, mắt không rời khỏi cái lưng gầy của Cố Tam. Khoảng cách lại bị thu hẹp dần vì đôi chân Cố Tam đã bắt đầu run rẩy vì kiệt sức.

Con đường dẫn lên chiếc cầu gỗ bắc qua sông chảy xiết dốc ngược và gập gềnh sỏi đá. Chiếc cầu này vốn là cầu bắc tạm cho người dân đi lại, những thanh gỗ lót đã mục nát nhiều chỗ, hai bên tay vịn xô lệch gãy đổ từ mùa lũ năm ngoái. Dưới chân cầu, dòng nước sông mùa mưa lũ chảy cuồn cuộn, tung bọt trắng xóa trong đêm mờ tối.

Cố Tam thở không ra hơi, hai gối mỏi rừ như đeo đá. Hắn leo lên cầu, tiếng guốc gỗ rơm nệm nện lên sàn cầu kêu lên những tiếng lách cách hối hả.

Tên Mặt Sẹo đứng ở đầu cầu, thấy Cố Tam đã chạy ra đến giữa cầu thì biết hắn hết đường lui. Gã giật lấy một cục đá to bằng nắm tay từ tay gã đàn em bên cạnh.

Một tên giang hồ ném đá, xé gió bay vù vù nhắm thẳng vào sau đầu Cố Tam mà lao tới.

Nghe thấy tiếng gió rít bất thường đằng sau lưng, theo bản năng sinh tồn của một kẻ lừa đảo sừng sỏ nhiều năm, Cố Tam né được bằng cách gập người thụt đầu xuống, ngoảnh mặt né sang một bên. Cục đá to tướng bay sượt qua tai hắn trong tấc gang, đập mạnh vào thanh gỗ tay vịn phía trước làm gỗ mục bắn tung tóa.

Cố Tam thở hắt ra một hơi, trong lòng thầm mừng rỡ vì cú né tránh tài tình của mình. Hắn định quay lại nhe răng cười giễu cợt Tên Mặt Sẹo một câu cho bõ tức.

Nhưng chân trượt.

Mấy thanh gỗ sàn cầu ở mép sông vốn bám đầy mớ rêu xanh trơn trượt sau những trận mưa đêm. Lại thêm chiếc giày rơm dưới chân hắn đã bị sút đứt đỉa từ lúc chạy qua chuồng lợn. Khi Cố Tam ngoái người né đá, lực dồn về chân trái khiến gót giày rơm trượt dài trên mảng rêu mịn như mỡ.

Hắn hẫng chân hoàn toàn. Cả cơ thể mất thăng bằng ngả nghiêng ra ngoài không trung. Cố Tam giơ hai tay quơ quào vào khoảng không, mắt trợn ngược nhìn bầu trời đêm mênh mông và gương mặt ngơ ngác của Tên Mặt Sẹo xa dần.

ÙM!

Hắn rơi xuống sông, dòng nước xiết lập tức nuốt chửng thân hình gầy gò cùng chiếc hòm gỗ vào lòng nước sâu thẳm.
 
Sửa lần cuối:
“Ta tham tiền, nhưng không tham tiền của người nghèo.”
## CHƯƠNG 3 — LẦN NÀY CHẾT THẬT

Cú va chạm với mặt nước sông cuồn cuộn giội một luồng sóng lạnh ngắt thẳng vào mặt Cố Tam. Dòng nước sông đục ngầu, cuốn theo bùn cát và lá mục từ thượng nguồn đổ về sau cơn mưa lớn, tức thì nuốt chửng lấy thân hình gầy gò của hắn. Sức giật của dòng chảy cuồng nhiệt đập liên hồi vào ngực, vào lưng, khiến toàn bộ không khí trong phổi hắn bị ép văng ra ngoài thành mớ bong bóng nước trồi lên mặt sông rồi vỡ tan xác.

Cố Tam chìm nghỉm xuống độ sâu vài thước. Cái lạnh xói buốt của nước sông dường như thâm nhập qua từng lỗ lông chân, xua tan hoàn toàn dư vị uể uả còn sót lại của thứ độc tố rượu ngô phối hợp đậu phụ thối. Hắn bừng tỉnh giữa khoảng không đục ngầu, xung quanh toàn là những luồng bọt khí điên cuồng chao đảo.

Hắn cố sức bơi.

Theo bản năng sinh tồn mãnh liệt của một kẻ đã vô số lần chui rúc qua những khe hẹp của số phận, Cố Tam bắt đầu quẫy đạp. Hai chân hắn đạp cuống cuồng vào khoảng không vô định dưới nước, hai tay quạt liên tục để đẩy thân mình hướng lên phía ánh sáng lờ mờ trên mặt nước. Hắn muốn ngoi lên. Hắn cần hít một hơi thở. Chỉ cần một hơi thở thôi, hắn sẽ dùng toàn bộ vốn từ ngữ phong phú nhất của mình để chửi mắng cái mảng rêu trơn trượt trên mép cầu kia.

Nhưng cơ thể hắn đã hoàn toàn kiệt sức.

Đôi chân vừa chạy thục mạng qua mấy dãy phố, vượt qua cả một cái chuồng lợn hỗn loạn, giờ đây cứng đờ ra như hai thanh gỗ mục. Những thớ thịt ở đùi và bắp chân co rút lại thành từng búi đau nhói. Chuột rút. Cả hai chân hắn đồng loạt đình công giữa lòng sông cuồng xoáy. Cảm giác đau đởm run rẩy lan nhanh từ đầu gối lên đến hông, cướp đi mọi khả năng quẫy đạp.

Không chỉ có đôi chân, cánh tay hắn cũng trĩu nặng như đeo thêm hai tảng đá to tướng. Trận ngộ độc rượu ngô ban sáng chưa thực sự tan hết, nó giống như một lớp bùn dính chặt lấy các khớp xương của hắn. Thêm vào đó, việc ôm chặt chiếc hòm gỗ chứa toàn tiền lẻ suốt quãng đường chạy trốn đã vắt kiệt chút sức lực cuối cùng của một tên lừa đảo quanh năm chỉ biết cầm quạt giấy và đếm tiền lẻ.

Chiếc hòm gỗ trong tay hắn, vốn dĩ là thứ hắn quý hơn cả mạng sống, giờ đây lại trở thành một quả tạ kéo hắn chìm nhanh hơn. Nước sông tràn qua các khe hở của hòm gỗ, làm mớ tiền xu bên trong kêu lên những tiếng lách cách nghẹn ngào dưới nước. Cố Tam vẫn không muốn buông tay. Hắn siết chặt lấy chiếc hòm gỗ, cơ mặt nhăn nhó vì đau đớn và tiếc nuối. Tiền bạc mà hắn khó khăn lắm mới lấy lại được từ tay đám người phúng viếng, làm sao hắn có thể buông bỏ dễ dàng như vậy?

Một luồng nước xoáy bất ngờ đánh ập tới, lật úp người Cố Tam. Hắn mất phương hướng hoàn toàn. Ánh sáng lờ mờ từ mặt nước xa dần, thay vào đó là màu nâu đen tối u ám của đáy sông. Phổi hắn bắt đầu ngứa ngáy dữ dội, một phản ứng tự nhiên khi cơ thể đòi hỏi oxy. Hắn mím chặt môi, cố nén cử động co bóp của cơ hoành, nhưng lực cản của nước và sự mệt mỏi trần thế đang đè nặng lên từng tế bào.

Chiếc hòm gỗ cuối cùng cũng tuột khỏi vòng tay đã không còn chút cảm giác của hắn. Hắn chới với với theo, nhưng chiếc hòm gỗ nặng trịch đã chìm nghỉm vào bóng tối phía dưới trước, bỏ lại hắn lơ lửng giữa tầng nước lạnh ngắt.

Cố Tam chìm xuống. Mỗi giây trôi qua, cơ thể hắn lại rơi sâu hơn một thước. Áp lực nước đè lên màng nhĩ vang lên những tiếng ù ù như hàng ngàn tiếng trống trận đập liên hồi. Hắn nhìn thấy những hạt cát nhỏ mịn xoay tròn quanh mắt mình, nhìn thấy những cọng rêu sông dài lềnh bềnh lướt qua da thịt như những bàn tay ma quái đang kéo hắn xuống âm phủ.

Trong khoảnh khắc cuối cùng của sự sống, khi ranh giới giữa sinh và tử mỏng manh như một sợi tóc, tâm trí Cố Tam đột nhiên trở nên kỳ lạ. Mọi âm thanh hỗn loạn của dòng nước dường như lùi xa, nhường chỗ cho một khoảng không tĩnh lặng tuyệt đối bên trong đầu hắn.

Bộ não của hắn, vốn luôn hoạt động với tốc độ phi thường để nghĩ ra các mưu mẹo lừa người, bắt đầu tua lại những thước phim ký ức với một tốc độ chậm rãi đến kinh ngạc.

Cố Tam thấy mình không phải là một đại hiệp hay một bậc thánh nhân, nhưng hắn cũng chưa bao giờ tự nhận mình là kẻ ác tày trời. Trong cái mớ ký ức hỗn độn đang hiện ra trước mắt, hắn bất giác nhớ đến những người nghèo từng được mình giúp đỡ.

Hắn nhớ về bà cụ bán rau ở góc chợ Tây, người từng bị lũ lưu manh trấn lột toàn bộ tiền vốn. Chính Cố Tam đã dùng chiêu hoáo tráo bài, giả vờ làm một gã thầy bói phán rằng bà cụ mang vận xui truyền nhiễm, khiến lũ lưu manh sợ hãi bỏ chạy, rồi hắn âm thầm để lại vài đồng tiền xu vào giỏ rau của bà. Hắn nhớ về đứa trẻ mồ côi gầy còm ở xóm chài, kẻ từng bị hắn lừa đi gánh nước thuê cho hắn cả ngày, nhưng đến cuối ngày, hắn lại cố tình đánh rơi một hũ cơm thịt đầy ặn ngay trước mặt nó rồi giả vờ bỏ đi.

Những việc tốt nhỏ nhặt, vụng về và luôn được bọc trong cái vỏ bọc lừa lọc, gian xảo ấy, vào lúc này lại hiện lên rõ mùng một. Cố Tam tự giễu trong lòng. Hóa ra một kẻ nửa tà nửa chánh như hắn, trước khi chết cũng có những khoảnh khắc tích đức đáng giá đến thế.

Rồi hình ảnh Tần Sương Sương đột ngột xuất hiện trong tâm trí hắn.

Gương mặt đắt giá, đôi mắt sắc sảo cùng cái miệng đay nghiến đòi tiền phúng viếng của cô ta hiện lên rõ mùng một. Hắn nhớ lại dáng vẻ hung dữ của cô khi xông vào tang lễ của hắn, tay cầm sổ nợ, mắt trợn ngược đòi lại từng đồng bạc. Người phụ nữ này thật là bá đạo, ngay cả khi hắn đã nằm trong quan tài mà cô ta vẫn không chịu buông tha. Hắn nhớ về ánh mắt ngơ ngác của cô khi hắn bật dậy từ chiếc quan tài mục, nhớ cả cảm giác khi hắn trao lại xấp tiền phúng viếng cho cô.

Cố Tam thở dài một cách vô thức trong tâm tưởng. Hắn vẫn chưa kịp tìm hiểu xem tại sao một cô gái như Tần Sương Sương lại gắt gao với tiền bạc đến thế, cũng chưa kịp nhìn kỹ lại nụ cười của cô sau khi nhận đủ tiền. Hắn còn nợ cô một lời giải thích, hoặc ít nhất là một trận cãi lộn ra trò để phân định thắng thua giữa hai cái miệng dẻo quẹo nhất cái trấn nhỏ này.

Nhớ món nợ chưa trả.

Không chỉ có nợ Tần Sương Sương, hắn còn nhớ đến món nợ năm mươi đồng bạc trắng với Tên Mặt Sẹo. Hắn nhớ đến những ông chủ quán trọ, những gã bán thịt, những bà bán rượu mà hắn từng thiếu vài đồng tiền lẻ. Cố Tam là một kẻ sống bằng nghề vay mượn và lừa gạt, món nợ của hắn giăng khắp chốn. Hắn từng tự hứa với bản thân rằng, khi nào phát tài, hắn sẽ trả lại gấp đôi cho từng người một, rồi nghênh ngang đi qua mặt họ với bộ quần áo gấm vóc đắt tiền nhất. Vậy mà giờ đây, tất cả những món nợ đó sẽ trở thành những món nợ máu uổng phí dưới đáy sông này.

Và đau đớn nhất, nuối tiếc nhất đối với Cố Tam vào lúc này chính là cả trăm kế hoạch làm giàu chưa thực hiện.

Tâm trí hắn hiện lên từng trang trong cái cuốn sổ tay vô hình mà hắn đã cẩn thận ghi chép suốt mười năm qua.

Kế hoạch thứ nhất: Mở dịch vụ cho thuê chó dữ để đòi nợ thuê, thu phí theo giờ.

Kế hoạch thứ mười lăm: Biến bùn sông thành đất thánh, bán cho mớ nhà giàu ở thành đại đô làm thuốc chữa bệnh trĩ.

Kế hoạch thứ bốn mươi tám: Tổ chức cuộc thi đua lợn xuyên trấn, bán vé cá cược cho đám nhà giàu rảnh rỗi.

Kế hoạch thứ bảy mươi hai: Chế tạo ra loại rượu ngô không gây đau đầu, đặt tên là Rượu Tiên Tam Cố.

Kế hoạch thứ chín mươi chín: Mở một cái tang lễ giả quy mô lớn, thu tiền phúng viếng của toàn bộ hào phú trong vùng rồi ôm tiền bỏ trốn sang nước khác...

Tất cả những ý tưởng thiên tài ấy, những kế hoạch có thể giúp hắn trở thành phú hộ giàu nhất vùng, giờ đây đang theo những bọt khí bọt nước mà tan biến vào lòng sông lạnh giá. Không một kế hoạch nào được thực hiện. Không một đồng tiền vàng nào được chạm vào tay hắn. Hắn chết đi như một kẻ trắng tay, một kẻ thất bại thảm hại vừa mới chui ra khỏi quan tài được chưa đầy một canh giờ!

Sự bất công này làm cho Cố Tam thấy lồng ngực mình như muốn nổ tung.

Sự ngột ngạt chạm đỉnh điểm. Cơ thể Cố Tam không thể chịu đựng thêm được nữa. Môi hắn tự động mở ra dưới áp lực của sinh lý. Luồng không khí cuối cùng trong phổi hắn thoát ra ngoài thành một chuỗi bọt khí lớn, bay vút lên mặt nước. Ngay lập tức, nước sông đục ngầu và lạnh ngắt tràn xộc vào miệng, vào mũi, chui tọt vào khí quản của hắn.

Cảm giác xé rách đau đớn lan ra khắp lồng ngực. Hắn ho sặc sụa dưới nước, nhưng mỗi lần ho lại chỉ khiến nước sông tràn vào nhiều hơn. Phổi hắn ngập tràn nước. Cảm giác bỏng rát lan từ cổ họng xuống tận tâm can.

Trong cơn đau đớn tột cùng và sự uất hận dâng trào đến đỉnh điểm, Cố Tam dùng chút tàn lực cuối cùng của linh hồn mình, gầm lên một câu chửi rủa trong tâm trí.

“Ông trời... chơi ta à?”

Câu chửi ấy không thể phát ra thành tiếng, chỉ biến thành vài bọt nước nhỏ nhoi vỡ tan trên mặt dòng sông dữ dội.

Tại sao lại là hắn? Tại sao lại cho hắn tỉnh lại trong quan tài, cho hắn hy vọng về một cuộc sống mới, cho hắn lấy lại được tiền lẻ, rồi lại đẩy hắn xuống dòng sông lũ này vì một mảng rêu trơn trượt? Nếu đã muốn hắn chết, tại sao không để hắn chết luôn vì trận ngộ độc rượu ngô và đậu phụ thối cho xong? Tại sao phải bày ra cái trò đùa quái ác này để hành hạ hắn?

Không có lời đáp lại nào từ bầu trời đêm u ám. Chỉ có tiếng nước chảy xiết ù ù và cái lạnh chết chóc đang đóng băng từng mạch máu trong cơ thể hắn.

Bóng tối bao trùm.

Màu nâu đục của nước sông dần biến thành màu đen tuyền. Ánh sáng lờ mờ từ mặt nước hoàn toàn biến mất. Cảm giác đau đớn xé rách ở lồng ngực bắt đầu mờ nhạt đi, thay vào đó là một sự tê dại dễ chịu đến kỳ lạ. Đôi tay, đôi chân của hắn không còn cảm giác. Trái tim hắn, vốn đang đập những nhịp điên cuồng trối trọc, bắt đầu chậm lại.

Một nhịp.

Hai nhịp.

Rồi dừng hẳn.

Cơ thể Cố Tam thả chìm tự do xuống đáy sông, chìm sâu vào lớp bùn mềm mại dưới đáy dòng chảy. Đôi mắt hắn khép lại hoàn toàn, khuôn mặt trở nên bình thản một cách xa lạ, không còn vẻ gian xảo, không còn sự nhăn nhó thường ngày.

Cố Tam chết thật.

Không có cái quan tài gỗ mục nào để hắn bật nắp chui ra nữa.

Không có y sĩ Bạch nào đến chẩn đoán sai để hắn có cơ hội sống lại.

Không có thần y nào xuất hiện trên bờ sông để vớt hắn lên và hô hấp nhân tạo.

Không có cứu sống.

Không có lần thứ hai xảy ra phép màu.

Thân xác hắn nằm bất động dưới lớp bùn sông lạnh ngắt, bị mớ rêu trôi dạt phủ lên như một tấm khăn trải giường của cái chết. Dòng nước lũ vẫn cuồn cuộn chảy qua phía trên, cuốn trôi đi tất cả những vết tích của cuộc rượt đuổi náo loạn, cuốn trôi đi chiếc hòm gỗ chứa những đồng tiền lẻ, và cuốn trôi cả sinh mạng của một tên lừa đảo khét tiếng xóm chợ.

Mọi thứ dường như đã kết thúc. Thế giới trần gian đã xóa tên Cố Tam khỏi danh sách những kẻ còn hít thở khí trời. Tên Mặt Sẹo trên cầu sẽ trở về với sự tức giận vì mất mối nợ. Tần Sương Sương sẽ tiếp tục cuộc sống đòi nợ thuê đầy khắc nghiệt. Lý Đầu Trọc sẽ tiếc nuối chiếc dây chuyền giả bị mất. Và người ta sẽ sớm quên đi gã Cố Tam từng sống lại rồi lại chết mất xác dưới lòng sông.

Nhưng linh hồn hắn không biến mất.

Giữa khoảng không tối đen như mực dưới đáy sông, nơi thân xác Cố Tam đang nằm bất động trong lớp bùn lạnh, một luồng ánh sáng mờ mịt bắt đầu tách ra từ lồng ngực đã ngừng đập của hắn.

Luồng ánh sáng ấy không có hình dạng rõ ràng, nhẹ hẫng như một làn khói mỏng, từ từ trôi lên khỏi cái xác xơ xác. Linh hồn của Cố Tam lơ lửng giữa dòng nước xoáy, nhưng kỳ lạ thay, dòng nước xiết có thể cuốn phăng cả những tảng đá lớn lại không thể làm lay chuyển làn khói tinh thần ấy dù chỉ một chút. Hắn không còn cảm thấy cái lạnh buốt giá của nước sông, không còn thấy sự đau đớn xé rách ở lồng ngực, và cũng không còn cảm giác thèm hít thở.

Ý thức của Cố Tam vẫn còn nguyên vẹn. Hắn cúi xuống, nhìn thấy chính thân xác của mình đang nằm chìm trong bùn lầy phía dưới. Cái xác trông thật thảm hại, quần áo tả tơi, tóc tai rũ rượi, một bên giày rơm đã mất tiêu.

Linh hồn Cố Tam ngơ ngác chớp chớp đôi mắt hư vô của mình. Hắn thử đưa tay lên nhìn, nhưng chỉ thấy một bàn tay mờ ảo bằng ánh sáng xám. Hắn thử cất tiếng chửi thề, nhưng không có âm thanh nào vang ra, chỉ có sự rung động nhẹ nhàng trong không gian tâm linh.

Hắn đã chết, đó là điều chắc chắn. Thân xác hắn đã hỏng hoàn toàn, trái tim đã ngừng đập, phổi đã ngập nước. Nhưng tại sao ý thức của hắn vẫn còn đây? Tại sao hắn vẫn có thể suy nghĩ, vẫn có thể nhớ đến những món nợ, vẫn có thể tức giận vì cái chết vô lý của mình?

Linh hồn Cố Tam bắt đầu trôi ngược lên phía trên, xuyên qua tầng nước sông đục ngầu mà không gặp bất kỳ lực cản nào. Hắn nhô lên khỏi mặt nước, lơ lửng giữa không trung đêm tối lạnh lẽo.

Xung quanh hắn, cơn mưa đêm đã bắt đầu tạnh hẳn. Mặt sông vẫn cuồn cuộn chảy, tiếng nước réo rắt trong đêm nghe thật cô quạnh. Phía trên cầu gỗ, Tên Mặt Sẹo và đám đàn em đã bỏ đi từ lâu, chỉ còn lại vài thanh gỗ gãy nát nằm trơ trọi dưới ánh trăng mờ nhạt vừa nhô ra khỏi đám mây đen.

Cố Tam xoay tròn linh hồn mình giữa không trung, nhìn xuống xóm chợ xa xa đang chìm trong bóng tối. Hắn nhận ra rằng mình đã hoàn toàn thoát khỏi ràng buộc của thể xác trần tồi. Hắn không còn là Cố Tam bằng xương bằng thịt, không còn phải lo chạy trốn đám đòi nợ, không còn phải lo ngộ độc ăn uống hay bị dị nghị bởi người đời.

Nhưng cuộc hành trình của hắn rõ ràng vẫn chưa dừng lại ở đây, vì làn khói linh hồn ấy không hề tan biến vào hư không, cũng không có hắc bạch vô thường nào xuất hiện để xiềng xích hắn xuống âm phủ. Luồng ánh sáng xám bao bọc lấy linh hồn hắn bắt đầu phát ra những tia sáng kỳ lạ, nhấp nháy liên hồi giữa đêm đen trống trải.

Linh hồn hắn bắt đầu bị một lực hút vô hình từ xa kéo đi, lướt nhẹ trên mặt nước sông, hướng về một nơi hoàn toàn xa lạ mà hắn chưa từng đặt chân đến. Cố Tam giật mình, cố gắng níu giữ khoảng không xung quanh nhưng vô ích. Lực hút ngày càng mạnh mẽ hơn, cuốn lấy ý thức của hắn lao đi trong bóng đêm với một tốc độ xé gió, bỏ lại đằng sau dòng sông sâu, bỏ lại trấn nhỏ và toàn bộ quá khứ gập gềnh của một kiếp người.
 
Sửa lần cuối:
CHƯƠNG 4 — THẾ GIỚI KHÔNG CÓ ĐIỆN

Cảm giác ngột ngạt khi nước sông tràn vào phổi vẫn còn đọng lại đâu đó trong tiềm thức của Cố Tam, khiến cổ họng hắn khô khốc và cay xè. Hắn co giật nhẹ một cái, hai mắt đột nhiên mở bừng ra.

Không có bóng tối mù mịt dưới đáy sông. Không có thứ bùn lầy tanh hôi bao phủ lấy thân thể. Ánh sáng vàng nhạt từ một ô cửa sổ rọi vào khiến Cố Tam phải nheo mắt lại, mất vài giây mới thích nghi được với không gian xung quanh.

Cố Tam chớp mắt liên tục. Hắn hít vào một hơi thật sâu, ngực phập phồng. Không có nước tràn vào, chỉ có một mùi hương kỳ lạ xộc vào mũi. Đó là sự kết hợp giữa mùi gỗ mộc, mùi trầm hương thoang thoảng và chút mùi thuốc bắc đắng ngắt.

Hắn cử động các ngón tay. Mút tay hắn chạm vào một bề mặt cứng cáp và thô ráp. Cố Tam chầm chậm quay đầu sang bên cạnh, lòng bàn tay bắt đầu mần mò xung quanh để xác định xem mình đang ở cái chốn quỷ quái nào.

Hắn nằm trên một chiếc giường. Nhưng đây tuyệt đối không phải chiếc giường nệm cao su êm ái hay chiếc giường lò xo trong các nhà nghỉ bình dân. Cố Tam xoay người, sống lưng chạm vào mặt phản thô cứng. Chiếc giường này được đóng hoàn toàn bằng gỗ gồ ghề, không có lấy một chiếc nệm dầy dặn. Hắn giơ tay sờ xuống phía dưới, chỉ thấy một tấm chiếu cạp mép bằng vải bố dệt sơ sài.

Cố Tam vội vã nắm lấy mép chăn đang đắp trên người. Hắn giơ tấm chăn lên trước mặt, hai ngón tay miết nhẹ vào thớ vải. Nó thô, dày và có vẻ như được dệt từ bông tự nhiên chưa qua xử lý kỹ lưỡng. Không có cảm giác mềm mại của chất liệu sợi tổng hợp, cũng chẳng có hoa văn in máy hiện đại. Nó đơn điệu một màu xanh thẫm ngả xám, mép chăn còn được khâu tay bằng những đường chỉ to bản, vụng về.

Cố Tam nhíu mày, trống ngực bắt đầu đập liên hồi. Hắn bật chống tay ngồi dậy, quay sang bên cạnh giường. Ở đó đặt một chiếc bàn trà nho nhỏ. Hắn nhoài người ra, tay quờ quạng sờ lên mặt bàn.

Mặt bàn bằng gỗ lim bóng lộn nhưng để lại những vết hằn của thời gian. Trên bàn không có ly thủy tinh, không có bình nước nhựa. Chỉ có một chiếc ấm gốm da chuối và hai chiếc chén hạt ngô tróc men ở vành. Cố Tam miết mạnh ngón tay lên mặt bàn, cố tìm kiếm một cảm giác quen thuộc nào đó nhưng đáp lại hắn chỉ là độ nhám của thớ gỗ cổ xưa.

Hắn nhảy tót ra khỏi giường. Chân trần chạm xuống sàn nhà khiến hắn giật mình thu chân lại. Sàn nhà không hề lát gạch hoa, không lát gỗ công nghiệp, lại càng không phải sàn bê tông. Đó là lớp gạch nung đỏ màu đất nướng, xám xịt và lạnh ngắt.

Cố Tam lao tới bức tường gần nhất. Hắn giơ hai tay ra, sờ soạng khắp bề mặt tường. Tường nhà được trát bằng vôi vữa thô sơ, có chỗ còn bong tróc để lộ ra những viên gạch nung thủ công lệch xệch. Hắn sờ từ trên xuống dưới, miết bàn tay dọc theo các mép tường, điên cuồng tìm kiếm một thứ.

Không có ổ cắm điện nào cả.

Cố Tam nuốt nước bọt, trán bắt đầu rịn ra một tầng mồ hôi hột. Hắn ngẩng đầu nhìn lên trần nhà. Những thanh xà ngang bằng gỗ tròn để trần, phía trên là lớp mái ngói đất nung màu đỏ gạch. Không hề có một bóng đèn tuýp. Không có đèn tròn. Không có bất kỳ sợi dây điện nào chạy ngoằn ngoèo trên tường hay trần nhà.

Một không gian hoàn toàn trống rỗng về mặt công nghệ.

Cố Tam bắt đầu cảm thấy lạnh sống lưng. Hắn đưa tay lên ngực tự đấm mạnh một cái để kiểm tra xem mình có đang mơ hay không. Cơn đau nhói ở lồng ngực chân thật đến mức khiến hắn phải ho sặc sụa. Hắn quay mòng mòng giữa căn phòng rộng lớn nhưng trống trải, hai mắt đảo quanh như một con thú bị dồn vào đường cùng.

Hắn ngước mắt nhìn lên bốn góc tường một lần nữa, hy vọng tìm thấy dù chỉ là một chiếc quạt trần ba cánh gỉ sét hay một chiếc quạt treo tường nhựa bạc màu. Không có gì cả. Chỉ có vài mảng màng nhện giăng tơ lơ lửng ở góc xà nhà, đu đưa nhẹ nhàng theo làn gió lùa qua khe cửa.

Cố Tam giơ hai tay lên tự vò đầu bứt tóc. Hắn thò tay xuống hông, vỗ bôm bốp vào bộ quần áo đang mặc trên người. Thay vì chiếc quần đùi và chiếc áo phông lấm lem bùn đất lúc chạy trốn đám nợ nần, trên người hắn lúc này là một bộ đồ rộng thùng thình bằng vải thô, ống tay dài thượt và không hề có túi.

Hắn cuống quít lục lọi khắp người. Hắn thò tay vào trong nếp áo, lục sục xung quanh thắt lưng, thậm chí còn sờ cả xuống ống quần.

Không có điện thoại.

Chiếc điện thoại thông minh vỏ nhựa tróc sơn, màn hình nứt một đường dài mà hắn vẫn dùng hằng ngày đã hoàn toàn biến mất. Không có cảm giác nặng đè của khối kim loại trong túi. Không có âm thanh thông báo. Không có sóng mạng.

Cố Tam đứng chết dí ở giữa phòng, hai tay vẫn giữ nguyên tư thế vỗ vỗ vào hông. Đầu óc hắn quay mòng mòng như chong chóng. Chuyện quỷ gì đang xảy ra thế này? Hắn nhớ rõ ràng mình đã chìm xuống đáy sông, bị chiếc hòm gỗ đè chặt, khí quản bị nước sông lấp đầy rồi cơ mà? Chẳng lẽ có ai đó đã vớt hắn lên, đưa hắn vào một khu nghỉ dưỡng sinh thái phong cách hoài cổ để chữa trị? Nhưng khu nghỉ dưỡng nào lại tiết kiệm đến mức không thèm lắp một cái ổ cắm điện hay một cái bóng đèn tròn?

Đúng lúc Cố Tam đang chìm trong hàng vạn câu hỏi không có lời đáp, cánh cửa gỗ dày nặng phát ra tiếng kẹt nhẹ. Cánh cửa mở hé ra một khoảng trống, và một cái đầu thò vào.

Đó là một thiếu niên khoảng mười lăm, mười sáu tuổi. Cậu ta mặc một chiếc áo ngắn tay màu xám xịt, đầu quấn một mảnh vải thô cùng màu, tay ôm một chiếc chậu đồng bốc khói nghi ngút. Thấy Cố Tam đang đứng ngơ ngác giữa phòng, mắt trố lên như mắt trâu, cậu ta liền vội vã đẩy cửa bước hẳn vào trong, vẻ mặt mừng rỡ reo lên:

“Thiếu gia! Cậu tỉnh rồi sao?”

Tiếng gọi vang lên rõ mùng một khiến Cố Tam giật bắn mình. Hắn xoay người lại, trợn tròn mắt nhìn gã thiếu niên trước mặt. Thiếu gia? Ai là thiếu gia?

Cố Tam không quan tâm đến cái danh xưng kỳ quặc đó. Hắn nhảy lao tới như một con mãnh thú nhịn đói lâu ngày, hai tay chộp chặt lấy hai vai của gã hầu trẻ tuổi làm nước trong chậu đồng sánh sánh ra ngoài, bắn tung xó nhà.

“Điện thoại đâu?” Cố Tam gầm lên, giọng run rẩy đầy hoảng loạn.

Gã hầu tròn mắt nhìn Cố Tam, đôi mày cau lại thành một đường nhăn nhúm. Cậu ta nghiêng đầu, hai vành tai vểnh lên như thể không nghe rõ hoặc không hiểu thứ ngôn ngữ mà người đối diện vừa phát ra. Cậu ta ngập ngừng lặp lại từng âm tiết một cách khó khăn:

“Điện... thoại?”

“Ừ! Điện thoại!” Cố Tam lắc mạnh vai gã hầu, mắt tóe lửa. “Cái hình chữ nhật, có màn hình sáng sáng, bấm bấm vào là gọi được ấy! Điện thoại của tôi đâu rồi? Ai cầm của tôi rồi?”

Gã hầu nuốt nước bọt ùng ục, khuôn mặt ngơ ngác đến mức trông vô cùng ngốc nghếch. Cậu ta lắc đầu quầy quậy, tay vẫn cố giữ chặt chậu nước ấm:

“Cậu... cậu nói cái gì vậy thiếu gia? Điện thoại là cái thứ đồ chơi gì của mấy ông thầy pháp sao? Trong phủ làm gì có thứ đó?”

Cố Tam cảm thấy tim mình rơi hẫng một nhịp. Hắn buông vai gã hầu ra, giơ hai tay lên không trung mô tả hình dáng một cái hộp.

“Không có điện thoại thì... Tivi? Tivi đâu?” Cố Tam gào lên.

Gã hầu chớp mắt liên hồi. Sự hoảng sợ bắt đầu xuất hiện trong mắt cậu ta. Cậu ta lùi lại nửa bước, nhìn Cố Tam từ trên xuống dưới như thể đang nhìn một kẻ vừa bị ma nhập sau cơn sốt mê sảng. Cậu ta mấp máy môi, giọng run rẩy trả lời:

“Tivi... Tivi là gì thưa thiếu gia? Có ăn được không?”

Một luồng khí lạnh chạy dọc từ thắt lưng lên thẳng đỉnh đầu Cố Tam. Tivi là gì? Có ăn được không? Cái câu hỏi ngây ngô đến mức ngớ ngẩn đó như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt hắn, làm tan biến toàn bộ những hy vọng mong manh cuối cùng về một khu nghỉ dưỡng hay một bệnh viện cao cấp.

Cố Tam không buồn giải thích thêm một lời nào nữa. Hắn hất văng cánh tay của gã hầu đang có ý định tiến lại gần gãi đầu gãi tai. Hắn quay lưng lại, bóp chặt trán rồi lao thẳng ra phía cửa phòng.

“Thiếu gia! Cậu đi đâu đấy? Cậu vừa mới tỉnh lại, bác sĩ dặn không được đi lại nhiều mà!” Tiếng gã hầu thất thanh gào lên phía sau lưng, nhưng Cố Tam đã hoàn toàn ngó lơ.

Hắn lao ra khỏi cánh cửa gỗ.

Ánh sáng mặt trời chói chang đập thẳng vào mắt khiến Cố Tam phải giơ tay lên che ngang mặt. Khi mắt hắn đã dần thích nghi với ánh sáng bên ngoài, toàn bộ khung cảnh hiện ra trước mắt khiến toàn thân hắn đóng băng ngay lập tức.

Không có con đường rải nhựa phẳng lì. Không có những cột đèn cao áp vươn cao lên bầu trời. Không có tiếng gầm hú của động cơ xe máy, càng không có tiếng còi xe ô tô inh ỏi quen thuộc của phố xá.

Cố Tam bước từng bước chậm chạp ra khỏi khoảng sân rộng lát gạch. Hắn tiến dần về phía cổng lớn đang mở rộng, dẫn ra một con đường lớn bên ngoài.

Một chiếc xe ngựa chạy ngang qua cổng phủ. Hai con ngựa thồ màu nâu sẫm đang lững thững kéo theo một chiếc xe bằng gỗ bốn bánh lớn. Bánh xe bằng gỗ bị bọc một lớp sắt thô kẹp chặt, mỗi lần lăn qua những hố nhỏ trên mặt đường lại phát ra tiếng rôm rốp gãy gọn. Tên tài xế ngồi phía trên mặc một chiếc áo vải thô nhuộm màu nâu guốc, tay cầm chiếc roi da dài thi thoảng lại vút nhẹ vào không khí phát ra tiếng chát chúa.

Cố Tam ngơ ngác nhìn theo chiếc xe ngựa cho đến khi nó chạy xa dần, để lại một luồng bụi đất mù mịt bốc lên không trung.

Hắn nuốt khô một ngụm nước bọt, bước hẳn ra khỏi ngưỡng cửa cổng lớn, đứng ngay bên hông đường.

Xung quanh hắn là một khung cảnh náo nhiệt nhưng hoàn toàn xa lạ. Những người đàn ông đi lại trên đường đều để tóc dài, một số búi gọn trên đỉnh đầu bằng những chiếc ghim gỗ, một số khác lại quấn khăn vải thô màu xám hoặc đen. Họ mặc những bộ cổ phục rộng thùng thình, vạt áo chéo qua ngực, chân đi giày vải dệt hoặc dép rơm sơ sài.

Những người phụ nữ gánh hàng hai bên đường thì mặc váy dài quét đất, tóc búi cao sau đầu, trên tay xách những chiếc giỏ mây thô kệch. Không một ai mặc quần jeans. Không một ai mặc áo phông. Không một ai đeo tai nghe hay cầm trên tay một thiết bị điện tử nào.

Cố Tam hạ thấp tầm mắt xuống dưới chân mình.

Mặt đường hoàn toàn là đường đất. Đúng nghĩa là một con đường đất đỏ pha lẫn đá dăm. Những vết bánh xe khắc sâu xuống mặt đường tạo thành những rãnh dài nhấp nhổm. Mỗi khi có người đi qua hoặc một cơn gió nhẹ thổi qua, bụi bẩn lại bốc lên cuồn cuộn, xộc thẳng vào mũi hắn mùi đất xát, mùi phân ngựa và mùi mồ hôi nồng nặc của đoàn người đi lại.

Cố Tam nhìn sang bên cạnh. Một sạp hàng bán bánh bao nóng hổi đang bốc khói ngút ngàn. Gã bán hàng có bộ râu kẽm vểnh lên, đang đếm từng đồng tiền nhỏ xíu đưa cho khách.

Đó không phải là những tờ tiền giấy polymer đủ màu sắc. Đó lại càng không phải là những cú quét mã QR thanh toán nhanh gọn trên màn hình điện thoại.

Gã bán hàng cầm trên tay một xâu tiền đồng. Những đồng tiền kim loại màu xám xanh, tròn xoe, ở giữa có một cái lỗ hình vuông nhỏ. Gã tuột từng đồng tiền ra khỏi sợi dây thừng mảnh, gạt vào một chiếc hộp gỗ đặt bên dưới bàn. Tiếng kim loại va vào nhau phát ra những tiếng lách cách, lách cách vô cùng đanh gọn.

Cố Tam giơ hai tay lên trước mặt mình. Hắn nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay. Đôi bàn tay này mịn màng hơn, trắng trẻo hơn đôi bàn tay thô ráp đầy vết sẹo của hắn trước đây. Hắn đưa tay lên sờ lên đầu mình. Mái tóc ngắn ngủn quen thuộc đã biến mất, thay vào đó là một búi tóc dài được buộc gọn gàng bằng một dải lụa mềm mại.

Hắn cúi đầu nhìn xuống bộ đồ trên người. Lớp vải lụa màu xanh nhạt mềm mại ôm lấy cơ thể hắn, những đường thêu gấm tỉ mỉ ở cổ tay và vạt áo chứng tỏ chủ nhân của thân xác này có một vị thế không hề nhỏ.

Một cơn gió nhẹ thổi qua, làm tung bay vạt áo dài của Cố Tam. Bụi đất từ con đường thô ráp cuốn lên, bám vào gấu chiếc áo lụa đắt tiền.

Cố Tam đứng chết lặng giữa dòng người qua lại náo nhiệt. Hắn giống như một pho tượng đá bị bỏ quên giữa một thế giới hoàn toàn xa lạ. Người ta đi qua đi lại, thi thoảng lại ngoái đầu nhìn gã thanh niên mặc gấm vóc đắt tiền nhưng lại đứng ngơ ngác như kẻ mất trí ngay trước cổng đại phủ.

Mọi thứ xung quanh hắn từ hơi thở, mùi vị, âm thanh cho đến cảm giác tiếp xúc đều chân thật đến mức đáng sợ. Không có một kỹ xảo điện ảnh nào có thể dựng nên một khung cảnh sống động và quy mô đến thế này. Không có một giấc mơ nào lại kéo dài và chi tiết đến từng thớ vải, từng vết nứt trên đồng tiền đồng như thế này.

Mọi manh mối, mọi bằng chứng đều chỉ về một thực tế duy nhất, một thực tế mà Cố Tam chưa bao giờ nghĩ mình sẽ gặp phải trong cuộc đời bươn chải đầy cay đắng của mình.

Hắn đã chết dưới đáy sông. Linh hồn hắn đã rời khỏi cái xác cũ. Và giờ đây, hắn đang tồn tại trong một thân xác mới, ở một thời đại hoàn toàn mới, nơi mà điện năng hay sóng từ vẫn còn là những khái niệm chưa từng tồn tại trong tư tưởng của con người.

Cố Tam từ từ nhắm mắt lại. Hắn hít một hơi thật sâu, nén toàn bộ sự bàng hoàng, kinh ngạc và cả sự tuyệt vọng đang cuộn trào trong lồng ngực xuống. Sau đó, hắn mở mắt ra, nhìn chằm chằm vào xâu tiền đồng đang phát ra tiếng lách cách ở sạp bánh bao đối diện.

Một lúc sau, khóe miệng Cố Tam giật giật hai cái. Hắn giơ tay lên tự vỗ mạnh vào mặt mình một cái bốp, rồi buột miệng thốt lên một câu bằng tất cả sự cay đắng và bất lực của mình:

“Đậu má...”

Hắn dừng lại một chút, quay đầu nhìn lại căn nhà gỗ thô sơ phía sau lưng rồi lắc đầu lia lịa:

“Mình xuyên không thật rồi.”
 
Sửa lần cuối:
CHƯƠNG 5 — TA TRỞ THÀNH PHÁ GIA CHI TỬ
Sau cái tát đau điếng tự giáng vào mặt mình, Cố Tam vẫn đứng ngẩn ngơ bên thềm cửa gỗ, đôi mắt dán chặt vào khung cảnh nhộn nhịp trước mặt. Khói nghi ngút từ xửng hấp bánh bao tỏa ra thơm phức, tiếng người rao bán vải vóc, tiếng xâu tiền đồng lách cách chạm vào nhau, tất cả đều chân thực đến mức làm lồng ngực hắn phập phồng liên tục. Hắn hít một hơi thật sâu, luồng không khí thoang thoảng mùi vôi vữa, mùi phân ngựa và mùi dầu mỡ lập tức tràn ngập khoang mũi. Đây không phải là một giấc mơ. Hắn quả thực đã sống lại, nhưng là sống trong một thế giới hoàn toàn khác biệt.

Cố Tam quay người đi ngược vào trong sân. Cánh cổng gỗ lim dày dặn, cao vượt đầu người từ từ được hắn khép lại, che khuất dần những tiếng ồn ào náo nhiệt của con phố cổ đại bên ngoài. Hắn tựa lưng vào cánh cổng gỗ, hai tay ôm lấy đầu. Đúng lúc này, một luồng ký ức xa lạ nhưng vô cùng rõ ràng bắt đầu cuồn cuộn chảy ra từ trong sâu thẳm bộ não, giống như một đập nước bị phá vỡ, đè nén lên từng tế bào thần kinh của hắn.

Cố Tam ôm đầu, rên nhẹ một tiếng rồi từ từ ngồi bệt xuống khoảng sân gạch phẳng lì. Ký ức của người sở hữu thân xác này bắt đầu hiện lên sắc nét như một bộ phim truyền hình quay chậm.

Thân xác này tên là Cố Minh, vừa tròn mười tám tuổi.

Cha của gã tên là Cố Viễn Sơn, một thương nhân có tiếng trong vùng, tính tình nghiêm nghị, quản lý gia nghiệp vô cùng mát tay. Mẹ của gã là Lâm thị, một người phụ nữ xuất thân từ gia đình lễ giáo, hiền lành, thương con đến mức vô điều kiện.

Gia cảnh nhà họ Cố không phải dạng vừa. Họ sở hữu hàng chục mẫu ruộng phiêu nhiêu ở ngoại thành, hai cửa hàng kinh doanh tơ lụa và trà tẩu ngay giữa trung tâm thị trấn, cùng một căn đại viện năm gian rộng rãi có người hầu kẻ hạ ra vào nấp nập. Nói một cách ngắn gọn, đây là một gia đình giàu có bậc nhất ở cái trấn nhỏ này.

Nếu Cố Tam ở kiếp trước là một gã mồ côi lăn lộn từ đáy xã hội, đến cái ăn cái mặc cũng phải vắt óc suy tính từng đồng, thì Cố Minh ở kiếp này chính là người sinh ra đã ở vạch đích. Hắn không cần làm gì cũng có cơm ngon áo đẹp, có tiền tiêu không hết, có gia nhân vái chào mỗi khi bước ra khỏi cửa.

Thế nhưng, đời không như là mơ. Cố Minh nguyên bản lại là một tên phá gia chi tử chính hiệu.

Qua những mảng ký ức tràn về, Cố Tam không khỏi lắc đầu ngao ngán trước "thành tích" bất hảo của tên nguyên chủ này. Mới mười tám tuổi đầu, Cố Minh đã thu thập đủ bộ kỹ năng của một kẻ phá hoại gia tài chuyên nghiệp. Uống rượu thì phải chọn loại rượu nếp lâu năm đắt tiền nhất, nhưng uống vào là quậy phá. Đánh bạc thì có mặt ở khắp các sòng bài lớn nhỏ trong trấn, thua tiền nhiều đến mức các chủ sòng chỉ cần thấy mặt gã là tươi cười nghênh đón như đón thần tài. Chưa dừng lại ở đó, gã còn cực kỳ thích gây chuyện, đánh nhau với đám công tử bột khác trong vùng, mỗi lần đập phá quán xá hay làm người ta bị thương là cha gã lại phải mang tiền đi bồi thường, xin lỗi sưng cả mặt.

Ông Cố Viễn Sơn đã không ít lần dùng gậy tộc đập gãy cả mấy khúc gỗ trên lưng gã, thậm chí dọa gạch tên gã ra khỏi gia phả, đuổi ra khỏi nhà. Bà Lâm thị thì khóc hết nước mắt, ăn chay niệm Phật cầu mong đứa con trai duy nhất biết quay đầu là bờ. Thế nhưng Cố Minh vẫn chứng nào tật nấy, ngày càng ngông cuồng bạo ngược. Nguyên nhân khiến gã bất tỉnh nhân sự rồi bỏ mạng để Cố Tam chiếm xác cũng cực kỳ vớ vẩn, đó là gã đã cá cược uống liền năm hòe rượu mạnh với đám bạn nhậu giữa trời nắng chang chang, dẫn đến đứt mạch máu não mà chết ngay trên giường ngủ.

Cố Tam đứng dậy, phủi sạch bụi bẩn bám trên tạt áo bằng lụa mềm mại. Hắn bước chậm rãi qua dãy hành lang chạm khắc tinh xảo, đi về phía gian phòng ngủ rộng lớn của nguyên chủ.

Khi đẩy cánh cửa phòng ra, Cố Tam không khỏi tặc lưỡi. Căn phòng rộng gấp ba lần cái chòi lá xiêu quẹo của hắn ở kiếp trước, nhưng bên trong lại như một cái ổ chuột cao cấp. Quần áo lụa là đắt tiền vứt lăn lóc trên sàn, những bình rượu rỗng nằm lăn lóc dưới gầm bàn, vài chiếc quạt xếp đắt tiền bị gãy nan vứt trong góc tường.

Cố Tam bắt tay vào việc kiểm tra tài sản. Hắn lục lọi từng chiếc rương gỗ gụ, bới tung các ngăn kéo bàn trang điểm và thậm chí lục soát cả những chiếc túi gấm dắt ở lưng quần.

Kết quả kiểm tra khiến Cố Tam phải hít một hơi khí lạnh.

Chỉ riêng tiền mặt còn sót lại trong phòng gã, gồm vài thỏi bạc vụn và hai xâu tiền đồng nặng trịch, đã đủ cho một gia đình bình thường sống khỏe mạnh trong cả năm trời. Đó là chưa kể đến đống quần áo bằng lụa tơ tằm, chiếc bội ngọc thạch treo ở thắt lưng, và hàng đống đồ cổ, tranh ảnh trang trí quanh phòng. Mặc dù Cố Minh đã phá tán không ít, nhưng nền tảng của nhà họ Cố vẫn vô cùng vững chắc.

Cố Tam ngồi xuống chiếc ghế gụ chạm rồng, hai tay bưng lấy hũ trà đã nguội lạnh trên bàn. Hắn đưa mắt nhìn xung quanh căn phòng sang trọng, rồi nhìn xuống đôi bàn tay mịn màng, không một vết chai sạn của thân xác mới. Một cảm xúc kỳ lạ, vừa buồn cười vừa phấn kích, bắt đầu trào dâng trong lòng hắn.

Ở kiếp trước, hắn là một kẻ lăn lộn bươn chải, đầu óc linh hoạt, đầy ắp những ý tưởng kinh doanh và sự nhạy bén với thị trường. Thế nhưng, hắn lại thiếu mất điều kiện tiên quyết nhất, đó là vốn. Hắn phải tích góp từng đồng tiền lẻ, chắt chiu từng củ khoai, tô bún, để rồi cuối cùng bỏ mạng dưới đáy sông lũ xiết chỉ vì tiếc một hòm tiền đồng nhỏ bé.

Còn ở kiếp này thì sao? Hắn sở hữu một gia tài đồ sộ, có sẵn cửa hàng, có ruộng đất, có gia nhân, có quyền lực ở cái trấn nhỏ này. Quan trọng nhất là, hắn đang mang trên mình một cái danh tiếng không thể tuyệt vời hơn, đó là tên phá gia chi tử khét tiếng.

Một gã phá gia chi tử thì có lợi ích gì?

Cố Tam vỗ đùi một cái đốp, tự mình trả lời câu hỏi trong đầu. Lợi ích lớn nhất chính là sự tự do. Khi người ta đã coi bạn là một kẻ phá hoại, một gã điên gàn dở, thì bất kỳ hành động kỳ quặc hay khác người nào của bạn cũng sẽ không khiến ai nghi ngờ. Bạn làm ăn thất bại? Người ta sẽ bảo đó là chuyện bình thường của tên phá gia. Bạn nghĩ ra những ý tưởng kinh doanh kỳ dị? Người ta sẽ nghĩ đó chỉ là trò ngông cuồng mới của tên công tử bột. Không ai kỳ vọng ở hắn, không ai gông cuồng đòi hỏi hắn phải làm một bậc quân tử giữ gìn lễ giáo.

Cố Tam lập tức kết luận trong đầu, sự cay đắng của kiếp trước hoàn toàn bị thay thế bởi niềm vui sướng tột cùng.

Đời trước ta có đầu óc nhưng không có vốn. Đời này ta có vốn mà lại có sẵn cái danh phá gia. Quá tuyệt.

Khóe miệng Cố Tam cong lên thành một nụ cười ranh mãnh. Hắn đứng phắt dậy, xoa xoa hai bàn tay vào nhau. Máu kinh doanh trong người hắn, thứ vốn đã bị sự nghèo khó ở kiếp trước vùi lấp dưới đáy sông, nay lại bùng cháy mãnh liệt hơn bao giờ hết. Hắn quyết định rồi. Hắn sẽ tận dụng triệt để những lợi thế của thời hiện đại, kết hợp với nguồn vốn kế xù và cái danh tiếng phá gia này để làm giàu, để biến nhà họ Cố từ một gia đình giàu có ở địa phương trở thành một đế chế thương mại thực sự.

Hắn muốn tận hưởng cảm giác của một phú thương thực thụ, ăn ngon mặc đẹp, tiêu tiền không cần nhìn giá, chứ quyết không để bản thân rơi vào cảnh túng thiếu như kiếp trước nữa.

Hắn tràn đầy quyết tâm bước ra khỏi phòng, chuẩn bị bắt tay vào việc khảo sát toàn bộ gia sản để lên kế hoạch kinh doanh. Hắn đi qua khoảng sân giữa, hướng về phía gian nhà bếp và khu vực kho bãi phía sau.

Thế nhưng, khi vừa bước qua cánh cổng ngách dẫn ra khu vực sân sau, bước chân của Cố Tam đột ngột khựng lại.

Trước mặt hắn, ngay góc sân sau gần gian bếp, là một đống đồ đạc hỗn độn đang được một tên gia nhân trẻ tuổi thu gom. Đống đồ này bao gồm những vò rượu gốm đã vỡ, những bao tải đay cũ rách bám đầy nấm mốc, một đống mạt cưa, vỏ cây khô, cùng hàng loạt những mảnh gỗ vụn và sắt gỉ được dọn dẹp ra từ các kho chứa đồ cũ của phủ.

Tên gia nhân trẻ tuổi thấy Cố Minh đi tới thì giật bắn người. Y vội vàng buông chiếc chổi xơ dừa xuống, mặt mày tái dại, hai tay chắp lại cúi gập người run rẩy. Trong ký ức của y, mỗi lần thiếu gia Cố Minh đi ngang qua mà gặp gia nhân đang làm việc là sẽ tìm cớ gây chuyện, nhẹ thì chửi mắng, nặng thì đá cho vài đạp.

"Thiếu... thiếu gia," tên gia nhân lắp bắp, giọng run rẩy như cầy sấy. "Nô tài đang dọn dẹp đống rác rưởi này để mang ra bãi rác ngoài trấn đổ đi ạ. Xin thiếu gia bớt giận, nô tài sẽ dọn xong ngay lập tức!"

Cố Tam không trả lời. Hắn hoàn toàn lờ đi sự sợ hãi của tên gia nhân.

Đôi mắt của Cố Tam dán chặt vào đống rác rưởi ngoài sân.

Trong mắt tên gia nhân và người dân thời này, đó chỉ là một đống chất thải hôi hám, vô giá trị, cần phải đem vứt bỏ càng xa càng tốt. Nhưng trong mắt của Cố Tam, một kẻ từng sống ở thế giới hiện đại và từng lăn lộn từ đống rác để kiếm sống, đống đồ này lại hoàn toàn khác.

Những vò rượu vỡ kia vẫn còn bám đầy cặn rượu nếp lên men lên tới đỉnh điểm, thứ mà người ta có thể dùng để cất màng men hoặc chế tạo giấm cao cấp. Những bao tải đay cũ rách kia có thể xé ra làm nguyên liệu sợi. Đống mạt cưa và vỏ cây khô kết hợp với chất thải sinh hoạt có thể ủ thành loại phân bón vi sinh cực kỳ tốt cho cây trồng. Còn đống sắt gỉ kia, ở thời đại công cụ kim loại còn đắt đỏ này, chỉ cần nung chảy lại là có thể đúc thành hàng tá thứ đồ dùng nhỏ lẻ.

Hai mắt Cố Tam sáng lên lấp lánh, giống như một gã đào vàng vừa nhìn thấy một mỏ vàng lộ thiên. Hắn bước nhanh tới trước đống rác, cúi xuống nhặt một mảnh vò gốm lên ngửi thử, rồi lại bốc một nắm mạt cưa lên xoa xoa trong lòng bàn tay.

Tên gia nhân nhìn thấy cảnh tượng đó thì trợn tròn mắt, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập. Y thầm nghĩ trong đầu, thiếu gia nhà mình sau khi tỉnh dậy chắc chắn đã bị ma nhập hoặc hóa dại thật rồi. Người bình thường ai lại đi bốc rác lên ngửi rồi cười hốt hoảng như thế kia?

Cố Tam đứng thẳng người lên, giơ tay ra ngắt lời khi thấy tên gia nhân định quỳ xuống van xin. Hắn nhìn đống rác ngoài sân, rồi nhìn tên gia nhân đang sợ hãi, khóe miệng nhếch lên thành một nụ cười đầy bí hiểm.

"Khoan," Cố Tam cất giọng, âm thanh vang lên đầy vẻ quả quyết. "Cái này bán được tiền."

Tên gia nhân ngơ ngác ngẩng đầu lên, không tin vào tai mình, trố mắt nhìn vị công tử phá gia chi tử nổi tiếng nhất cái trấn này đang chằm chằm nhìn vào đống rác rưởi với sự thèm thuồng không giấu giếm.
 
Sửa lần cuối:
CHƯƠNG 6 — CHA TA MUỐN ĐÁNH TA

Tên gia nhân A Đồng đứng chôn chân tại chỗ, đôi mắt trố ra to như hai chén hạt nêm, nhìn chằm chằm vào vị đại thiếu gia nhà mình. Y cố gắng tiêu hóa câu nói vừa rồi của Cố Tam nhưng bất lực. Bán rác? Lấy rác rưởi ra để đổi lấy bạc trắng? Trong cái trấn này, từ đứa trẻ ranh ba tuổi cho đến mấy ông lão móm mém tám mươi, ai mà không biết Cố Minh thiếu gia là tay phá gia chi tử số một, tiêu tiền như nước chảy, vứt bạc qua cửa sổ không tiếc tay? Vậy mà bây giờ, sau khi suýt chết đuối dưới lòng sông, người này lại vớt một đống vỏ gốm vỡ, mạt cưa mục và sắt gỉ lên rồi phán một câu xanh rờn rằng cái này bán được tiền.

A Đồng nuốt một ngụm nước bọt ừng ực, gáy lạnh ngắt. Y thầm nghĩ trong đầu, xong rồi, thiếu gia không những phá gia mà giờ còn bị úp nước vô đầu đến mức hóa dại. Nếu để lão gia biết thiếu gia đang ở ngoài sân sau bốc rác ngửi ngửi rồi cười hì hì, chắc chắn tấm lưng của y cũng sẽ bị đánh cho nát tươm. Không được, y phải đi báo cho lão gia ngay lập tức.

Cố Tam hoàn toàn không quan tâm đến suy nghĩ trong đầu tên gia nhân. Hắn cúi xuống, cẩn thận phủi phủi lớp mạt cưa bám trên tay, lòng tràn ngập sự hứng khởi của một kẻ vừa phát hiện ra mỏ vàng. Đối với người hiện đại như hắn, khái niệm kinh tế tuần hoàn và tái chế tài nguyên là điều quá đỗi bình thường. Đống mạt cưa kia nếu đem trộn với phân gia súc và ủ lên men sẽ tạo thành loại phân bón vi sinh giàu dinh dưỡng tuyệt vời cho cây trồng, thứ mà nông dân thế giới này đang thèm khát mà không biết làm sao có được. Đống vò gốm vỡ có thể nghiền nát ra làm phụ gia gốm sứ hoặc làm vật liệu lót nền. Còn đống sắt gỉ kia? Chỉ cần một lò nung nhiệt độ cao và chút thợ kim hoàn mát tay, hắn có thể đúc thành hàng tá thứ đồ gia dụng nhỏ lẻ để bán với giá gấp mười lần.

Đúng là một kho báu bỏ đi. Cố Tam mỉm cười xoa xoa hai tay vào nhau. Hắn nhẩm tính trong đầu, chỉ cần một số vốn nhỏ để thu gom toàn bộ rác thải sinh hoạt và phế liệu trong khắp cái trấn này, hắn sẽ dựng lên một hệ thống thu gom tái chế khép kín. Bán rác cho người cần rác, biến đồ bỏ đi thành hàng hóa đắt giá. Đây chính là con đường làm giàu chân chính, không cần vốn lớn mà lợi nhuận lại cực kỳ khổng lồ.

Hắn còn đang mải mê vẽ ra viễn cảnh trở thành đại gia tái chế phế liệu của cái thế giới cổ đại này thì phía sau lưng đã vang lên tiếng bước chân dồn dập.

"Thiếu gia, lão gia mời ngài qua chính đường ngay lập tức," một giọng nói già nua nhưng đầy uy nghiêm vang lên.

Cố Tam quay đầu lại. Người vừa lên tiếng là Phúc bá, quản gia lâu năm của Cố gia. Phúc bá đứng đó với bộ đồ gấm màu xám tro, gương mặt vuông vức hằn sâu những vết chân chim, hai tay chắp sau lưng, ánh mắt nhìn Cố Tam vừa có sự kính trọng lại vừa chứa đựng sự mệt mỏi không giấu giếm. Phía sau Phúc bá, tên gia nhân A Đồng đang khúm núm núp đầu ra nhìn, mặt cắt không còn một giọt máu.

"Ồ, cha ta tìm ta sao?" Cố Tam phủi tay, thản nhiên hỏi.

"Lão gia và phu nhân đã chờ ngài từ lâu. Xin thiếu gia mau chóng bước qua," Phúc bá nghiêng người làm động tác mời, nhưng ánh mắt lão khi thoáng liếc qua đống rác dưới chân Cố Tam lại giật giật vài cái. Lão thở nhẹ một hơi, dường như đang cố nén sự thở dài vào trong lòng.

Cố Tam gật đầu. Hắn cũng muốn gặp lại hai vị phụ huynh của cái thân xác này. Muốn làm ăn lớn thì phải có vốn, mà vốn ở đâu ra? Tất nhiên là từ cái túi tiền không đáy của người cha giàu có rồi. Hắn chỉnh lại nếp áo gấm trên người, bước đi với dáng vẻ tự tin của một doanh nhân sắp bước vào phiên đàm phán triệu đô.

Chính đường của Cố gia được xây dựng vô cùng uy nghi và lộng lẫy. Mái đao cong vút, những cột gỗ lim to bằng vòng tay người ôm được lau chùi bóng loáng. Trên vách tường treo những bức thủy mặc đắt giá, giữa phòng đặt một chiếc sập gụ khảm xà cừ óng ánh. Không khí trong phòng lúc này lại vô cùng nặng nề và ngột ngạt.

Trên ghế chủ tọa, một người đàn ông trung niên tầm năm mươi tuổi đang ngồi tựa lưng. Ông có gương mặt vuông vức, bộ râu dài chau chuốt tỉ mỉ, đôi mắt sắc bén nhưng lúc này lại hằn lên những tia máu đỏ vì mệt mỏi và lo âu. Đó chính là Cố Viễn Sơn, người đứng đầu Cố gia, thương gia giàu có nổi tiếng khắp vùng. Ngồi bên cạnh ông là Cố phu nhân, một người phụ nữ ăn mặc sang trọng nhưng gương mặt gầy gộc, đôi mắt húp nặng vì vừa trải qua một trận khóc lóc thảm thiết.

Từ khi nghe tin đứa con trai duy nhất bị rơi xuống sông chết đuối, Cố phu nhân đã khóc đến xỉu lên xỉu xuống mấy lần. Cố Viễn Sơn dù ngoài mặt luôn mắng chửi đứa con phá gia chi tử này là đồ nghiệt súc, đồ bỏ đi, nhưng trong lòng lại lo lắng đến mức vắt óc suy nghĩ, bỏ ra hàng đống tiền thuê người mò lặn suốt mấy ngày đêm. Khi thấy Cố Tam bằng xương bằng thịt tỉnh lại, hai vợ chồng mừng rỡ đến mức suýt thì thắp hương tạ ơn trời đất. Thế nhưng, niềm vui chưa kéo dài được bao lâu thì tên gia nhân A Đồng đã chạy xộc vào báo rằng thiếu gia tỉnh dậy có biểu hiện điên khùng, đi ngửi rác ngoài sân sau và lảm nhảm chuyện làm giàu.

Cố Tam bước vào chính đường, đôi mắt đảo qua một lượt quan sát căn phòng. Hắn chắp tay, bắt chước tư thế trong mấy bộ phim cổ trang mà hắn từng xem trên ti vi, nghiêng người chào: "Cha, mẹ, con đã đến rồi."

Cố phu nhân nhìn thấy con trai thì nước mắt lại chực trào ra. Bà rút chiếc khăn tay bằng lụa thêu hoa ra chấm chấm góc mắt, giọng run run: "Minh nhi, con của ta... Con thực sự không sao rồi chứ? Có thấy trong người chỗ nào không khỏe không? Đã gọi thầy thuốc đến bắt mạch lại chưa?"

"Mẹ yên tâm, con khỏe như trâu ấy mà," Cố Tam đáp, nở một nụ cười rạng rỡ. "Chút nước sông đó làm sao dìm chết con được."

Cố Viễn Sơn hắng giọng một tiếng thật mạnh, xua tan không khí ủ rũ trong phòng. Ông đặt tách trà sứ trong tay xuống bàn gụ, phát ra một tiếng kịch khe khẽ. Đôi mắt sắc bén của ông đăm đắm nhìn đứa con trai. Ông nhận ra có điều gì đó rất khác ở Cố Minh ngày hôm nay. Bình thường, mỗi lần đứng trước mặt ông, đứa con này luôn khúm núm, lén lút, ánh mắt đảo liên hồi vì sợ bị mắng hoặc sợ bị phát hiện chuyện vừa thua sạch tiền ở sòng bạc. Nhưng hôm nay, ánh mắt của Cố Tam lại trong trẻo, thẳng thắn, thậm chí còn tràn đầy một thứ năng lượng kỳ lạ mà ông chưa từng thấy bao giờ.

Chẳng lẽ trải qua một lần chạm mặt với Diêm Vương, đứa nhỏ này đã thực sự tỉnh ngộ?

Cố Viễn Sơn hít một hơi thật sâu, nén lại sự xúc động đang cuồn cuộn trong lòng. Ông vuốt nhẹ chòm râu, cố giữ cho giọng nói của mình có vẻ nghiêm nghị nhưng lại không giấu nổi một chút ân cần, kỳ vọng.

Cố Viễn Sơn hỏi con trai: “Con tỉnh rồi thì định làm gì?”

Câu hỏi vang lên trong gian phòng rộng lớn. Cố phu nhân nín thở nhìn con. Phúc bá đứng bên cạnh cũng dời ánh mắt về phía Cố Tam. Ngay cả mấy đứa nữ tì đứng dâng trà ngoài cửa cũng ghé mắt nhìn vào. Mọi người đều đang chờ đợi một câu trả lời. Có lẽ thiếu gia sẽ nói muốn đi bái Phật tạ ơn, hoặc hứa từ nay sẽ không lui tới chốn lầu xanh sòng bạc nữa, hay ít nhất là muốn tĩnh dưỡng một thời gian.

Cố Tam không cần suy nghĩ đến nửa giây. Hắn đứng thẳng lưng, ngực ưỡn ra, đôi mắt sáng rực lên như hai ngọn đèn dầu, cất giọng vô cùng dứt khoát và tự tin.

Cố Tam: “Kiếm tiền.”

Hai chữ ngắn gọn, súc tích, vang lên tròn trịa giữa chính đường.

Cố Viễn Sơn ngơ ngác mất một nhịp. Ông chớp chớp mắt, dường như không tin vào tai mình. Đứa con trai quanh năm suốt tháng chỉ biết tiêu tiền, chỉ biết mang văn tự đất đai của gia tộc đi gá nợ, hôm nay tỉnh dậy lại thốt ra hai chữ kiếm tiền?

Cha mừng.

Một làn sóng vui sướng dạt dào bùng nổ trong lòng Cố Viễn Sơn. Gương mặt nghiêm nghị cố gồng bấy lâu nay lập tức tan chảy. Chòm râu của ông rung rung vì nụ cười rạng rỡ không thể che giấu. Trời Phật ơi! Tổ tiên Cố gia hiển linh rồi! Đứa con phá gia chi tử của ông cuối cùng cũng đã biết suy nghĩ, biết tu tâm dưỡng tính, biết chịu trách nhiệm với gia tộc rồi! Trận ngã sông này không những không lấy đi tính mạng của nó, mà còn rửa sạch cái tính ham chơi lười biếng của nó rồi!

Cố phu nhân ở bên cạnh cũng mừng rỡ đến mức vỗ tay bôm bốp, chiếc khăn lụa trong tay rơi xuống đất lúc nào không hay. Bà nhìn chồng rồi lại nhìn con, đôi mắt đẫm lệ giờ đây ngập tràn sự hãnh hãnh.

"Tốt! Tốt lắm!" Cố Viễn Sơn đập mạnh tay xuống đùi, cười ha hả. "Khá lắm con trai của ta! Trải qua một kiếp nạn mà biết suy nghĩ như vậy, quả không quý là dòng máu của Cố gia chúng ta! Nói đi, con muốn làm gì? Nhà ta có sẵn mười mấy tiệm vải ở trung tâm trấn, năm trang trại ở phía bắc, hay là con muốn mở một thương hội mới? Chỉ cần con lên tiếng, cha sẽ cấp cho con mười vạn lượng bạc làm vốn!"

Cố Tam nhìn phản ứng thái quá của cha mẹ mình thì trong lòng thầm nghĩ, đúng là nhà giàu có khác, mở miệng ra là mười vạn lượng bạc. Nhưng hắn là ai chứ? Hắn là một doanh nhân có đầu óc hiện đại, làm sao có thể đi theo lối mòn buôn vải bán tơ lụa tẻ nhạt của thế giới này được? Hắn phải làm cái gì đó mang tính đột phá, chiếm lĩnh thị trường ngách, tạo ra một đế chế hoàn toàn mới.

Cố Tam thản nhiên phẩy tay, xua xua ý nghĩ mười vạn lượng bạc của cha mình đi, rồi thốt ra câu tiếp theo: “Con định mua rác.”

Không gian trong chính đường đột ngột khựng lại.

Cơn gió nhẹ thổi qua cửa sổ làm lay động bức rèm lụa, nhưng không ai trong phòng còn thở mạnh.

Nụ cười trên mặt Cố Viễn Sơn đông cứng lại ngay lập tức. Khớp cơ trên mặt ông giật giật. Bàn tay đang vuốt râu dừng khựng giữa chừng, giật đứt luôn ba sợi râu cằm đắt giá nhưng ông thậm chí còn không cảm thấy đau. Ông trố mắt nhìn đứa con trai trước mặt, bộ não giàu kinh nghiệm thương trường mười mấy năm của ông hoàn toàn ngưng trệ, không thể tiêu hóa nổi cụm từ con định mua rác vừa phát ra từ cái miệng xinh đẹp của đứa con trai.

Cha im lặng.

Cố phu nhân bên cạnh ngơ ngác nhìn con, rồi lại nhìn sang chồng. Bà thấy sắc mặt chồng mình chuyển từ đỏ sang xanh, rồi từ xanh sang xám xịt. Bà quay sang nhìn Cố Tam, thấy hắn vẫn đứng đó với gương mặt tự hào, thản nhiên như thể vừa tuyên bố mình sắp đi thi trạng nguyên. Một cơn choáng váng xông thẳng lên não Cố phu nhân. Đột nhiên, mắt bà trợn ngược lên, hai tay buông thõng, đầu gục xuống tựa vào thành ghế.

Mẹ ngất.

"Phu nhân! Phu nhân người sao vậy!" Đám nữ tì hoảng hốt nháo nhào xông tới. Người thì quạt lia lịa, người thì bóp huyệt nhân trung, người vội vàng móc trong ngực ra hũ dầu gió thoa lên thái dương bà. Chốn chính đường vốn dĩ đang trang nghiêm lập tức biến thành một mảnh hỗn loạn.

Giữa tiếng nháo nhào của đám gia nhân, Phúc bá đứng bên cạnh sập gụ khẽ nhắm mắt lại. Lão đưa bàn tay gầy guộc lên vuốt trán, lồng ngực phập phồng dữ dội. Lão quay mặt nhìn ra ngoài khoảng sân nắng gắt, buông một tiếng thở ngắn chán nản.

Phúc bá thở dài.

Lão đã theo hầu Cố lão gia từ thời hai bàn tay trắng lập nghiệp, chứng kiến biết bao sóng gió thương trường, nhưng chưa bao giờ lão cảm thấy bất lực như lúc này. Đứa trẻ này thực sự đã cứu không nổi nữa rồi. Ngã xuống sông không chết, nhưng đầu óc lại bị nước sông tràn vào đóng thành băng mất rồi.

Cố Tam ngơ ngác đứng nhìn toàn bộ khung cảnh chaos trước mắt. Hắn gãi gãi đầu, trong lòng dấy lên một sự chấm hỏi cực kỳ to lớn. Tại sao mọi người lại phản ứng như thế? Kinh tế tuần hoàn là tương lai của nhân loại cơ mà! Rác thải chính là tài nguyên đặt sai vị trí! Chẳng lẽ lũ người cổ đại này lại u mê, mù tạt đến mức không nhận ra tiềm năng thương mại khổng lồ của ngành quản lý phế liệu sao?

Cố Tam không hiểu.

Hắn nhíu mày, nhìn cha mình với ánh mắt vô cùng chân thành và vô tội.

Cố Tam: “Mua rác thì có gì sai?”

"Bốp!"

Cố Viễn Sơn đập mạnh bàn tay xuống bàn trà. Lần này chiếc tách sứ đắt tiền không chỉ nhảy chồm chồm nữa mà vỡ đôi, nước trà nóng sánh bắn tung tóe lên tà áo gấm của ông. Ngực ông phập phồng như cái ống thổi lửa trong lò đúc sắt, hai thái dương nổi đầy những đường gân xanh ngoằn ngoèo. Sát khí cuồn cuộn bùng lên từ trên người vị thương gia vốn dĩ luôn điềm tĩnh này.

Ông chỉ tay vào mặt Cố Tam, giọng nói run lên vì tức giận đến cực điểm.

Cha: “Nhà ta có tiền, con đi mua rác?”

Gia tộc nhà họ Cố ở cái trấn này là bậc danh gia vọng tộc, tiền bạc chất cao như núi, đi đến đâu người ta cũng phải cúi đầu chào một tiếng Cố lão gia, Cố thiếu gia. Vậy mà bây giờ, đứa con duy nhất của ông, người sắp thừa kế toàn bộ sản nghiệp Cố gia, lại muốn cầm tiền đi thu gom rác rưởi của cả trấn? Chuyện này mà đồn ra ngoài thì mặt mũi Cố Viễn Sơn ông còn biết giấu vào đâu? Người ta sẽ nói Cố gia giàu xổi đến mức con trai bị hóa dại đi nhặt rác!

Cố Tam nhìn thấy vẻ giận dữ của cha nhưng vẫn không chịu lùi bước. Với tư cách là một người xuyên không mang theo tri thức hiện đại, hắn cảm thấy mình có nghĩa vụ phải khai sáng cho người cha cổ đại bướng bỉnh này. Hắn khoanh tay trước ngực, hất cằm lên, cất giọng đầy tính lý luận kinh tế học.

Cố Tam: “Có tiền càng phải mua rác.”

"Đó mới là đỉnh cao của kinh doanh!" Cố Tam bồi thêm một câu, định bụng sẽ thuyết minh một bài thuyết trình dài ba mươi phút về quy trình ủ phân vi sinh và luyện kim tái chế. "Cha có biết rác chính là..."

Tuy nhiên, hắn chưa kịp nói hết câu thì Cố Viễn Sơn đã hoàn toàn mất đi chút lý trí cuối cùng.

Giọt nước đã làm tràn ly, mà đây không phải là giọt nước thường, đây là một gáo nước lạnh buốt giá dội thẳng vào đầu Cố Viễn Sơn. Ông không muốn nghe thêm bất kỳ một chữ nào phát ra từ cái miệng nghiệt súc đó nữa. Não của đứa con này không phải bị ngấm nước sông, mà là đã bị thối rữa hoàn toàn rồi! Gia pháp! Hôm nay nếu không dùng gia pháp đánh chết đứa nghiệt tử này thì ông không phải là Cố Viễn Sơn!

Gương mặt Cố Viễn Sơn đỏ gay như gấc chín. Ông ngoảnh đầu nhìn quanh chính đường để tìm vũ khí. Ánh mắt ông dừng lại ở chiếc gậy gia pháp bằng gỗ nẹp đồng dày cộp, to bằng cổ tay thiếu niên, vốn dĩ được dựng trang trọng ở bên cạnh sập gụ để răn đe gia nhân.

Cha cầm gậy.

Cố Viễn Sơn bước tới, một tay chộp lấy chiếc gậy gia pháp, rút ra một tiếng rít khô khốc. Ông vung chiếc gậy lên không trung, tạo thành một tiếng gió rít vun vút.

"Cố Minh! Đồ nghiệt súc! Hôm nay ta không đánh gãy chân con thì ta không mang họ Cố nữa!" Cố Viễn Sơn gầm lên một tiếng chấn động cả căn nhà gụ, đôi mắt đỏ ngầu gầm ghừ xông tới.

Cố Tam giật bắn mình. Hắn nhìn chiếc gậy gỗ nẹp đồng to chà bành đang giơ cao trên không trung, lại nhìn thấy sát khí ngút trời trên mặt cha mình, bộ não hiện đại của hắn lập tức đưa ra phân tích rủi ro trong vòng không phẩy một giây: chỉ số sát thương của khúc gỗ đó là vô cực, còn khả năng chống chịu của cơ thể này là bằng không.

Châm ngôn của một doanh nhân thành đạt là biết rút lui đúng lúc. Cố Tam lập tức vứt bỏ hoàn toàn vẻ cao ngạo của một nhà kinh tế học, xoay người vắt chân lên cổ chạy thục mạng ra phía cửa.

“Đứng lại! Đồ nghiệt tử, hôm nay ta không đánh gãy chân con thì ta không làm gia trưởng nữa!” Cố Viễn Sơn gầm lên, tay xách chiếc gậy nặng trịch đuổi theo phía sau.

Gia nhân trong nhà hoảng loạn né tránh như bầy ong vỡ tổ. Cố Tam vừa né tránh chiếc gậy vung sượt qua bờ vai, vừa cắm đầu vọt qua cổng chính, gào lớn vọng lại: “Cha cứ nóng nảy thế làm gì! Chờ con dùng đống rác đó làm ra kim loại tái chế, lúc ấy cha có năn nỉ xin góp vốn con cũng không cho đâu!”

Chiếc gậy gỗ giáng mạnh xuống cánh cửa cổng tạo thành một tiếng chát vang dội. Cố Tam thở hắt ra một hơi, tiếp tục cắm đầu lao thẳng ra con phố sầm uất nhất của trấn. Hắn siết chặt nắm tay, hạ quyết tâm bằng mọi giá phải tìm ra nguồn vốn đầu tư ban đầu trước khi bị cha mình bắt về đánh gãy chân.
 
CHƯƠNG 7 — GÃ QUẢN GIA THỤT KÉT

Đám bụi mờ bốc lên từ khúc đường đất sau trận cuồng phong đuổi đánh của Cố Viễn Sơn cuối cùng cũng lắng xuống. Cố Tam đứng tựa lưng vào một gốc cây hòe già ở góc ngoặt con phố chính, ngực phập phồng thở dốc, hai tay chống gối. Hắn ngoái đầu nhìn lại phía cổng Cố gia đã xa tắp, trong lòng không hề có nửa điểm sợ hãi hay tủi thân, ngược lại ánh mắt còn sáng quắc lên như một con cáo vừa ngửi thấy mùi thịt tươi.

Chiếc gậy gỗ của ông cha già tuy suýt chút nữa đập gãy xương sống hắn, nhưng nó cũng khẳng định một điều: trong ngôi nhà đó, nếu muốn có tiếng nói và có tiền để bắt đầu dự án thu gom tái chế rác thải, hắn không thể đi con đường đường đường chính chính.

Muốn có vốn, trước hết phải dọn sạch những kẻ đang âm thầm rút ruột cái nhà này.

Sáng hôm nay, khi vừa tỉnh dậy trong thân xác này và bắt đầu đi lượn quanh các dãy nhà kho, Cố Tam đã nhạy bén nhận ra những điểm bất thường vô lý. Phúc bá, vị quản gia gắn bó với Cố gia hơn hai mươi năm, tưởng chừng là tấm gương trung thần mẫu mực, lại chính là một kẻ sâu mọt đục khoét cực kỳ tinh vi. Với bộ óc của một kẻ từng lăn lộn từ gầm cầu lên đến chủ lò mổ đồ cũ kiếp trước, Cố Tam chỉ cần lướt qua mấy con số là biết ngay đâu là thật, đâu là giả.

Nhưng lúc đó, hắn không hề tố cáo. Hắn không ngốc đến mức chạy đến trước mặt Cố Viễn Sơn gào lên rằng vị quản gia già mà ông tin tưởng nhất đang thụt két. Hắn giả ngu. Hắn tiếp tục đóng vai một tên công tử phá gia chi tử ngơ ngác, chỉ biết ăn chơi và nói những lời điên rồ về rác thải, khiến Phúc bá chủ quan đến mức tưởng rằng vị thiếu gia này hoàn toàn là một kẻ bỏ đi, không còn chút khả năng đe dọa nào.

Nhờ sự chủ quan đó của Phúc bá, Cố Tam đã âm thầm tiếp cận phòng sổ sách. Hắn tận dụng khoảng thời gian ngắn ngủi buổi trưa để đối chiếu tỉ mỉ bốn khoản tiền lớn nhất của gia tộc.

Khoản thứ nhất là tiền thuê ruộng từ mấy trăm hộ dân ngoại thành. Con số ghi trong sổ sách luôn thấp hơn thực tế hai phần mười với lý do thiên tai mất mùa.

Khoản thứ hai là tiền bán lúa thu hoạch từ các điền trang. Giá bán ghi lại thấp hơn giá thị trường tự do ít nhất năm văn mỗi cân.

Khoản thứ ba là tiền kho, tức là chi phí bảo quản và đền bù hao hụt do ẩm mốc, chuột bọ. Mức hao hụt mà Phúc bá báo cáo lên tới một phần mười toàn bộ sản lượng, một con số vô lý đến mức ngay cả những kẻ buôn lúa gà mờ nhất cũng không thể chấp nhận.

Khoản thứ tư chính là tiền mua vật liệu sửa chữa kho bãi, nơi tiền công và tiền gỗ luôn được nâng lên gấp đôi.

Bốn khoản tiền đó cộng lại tạo thành một khoảng chênh lệch khổng lồ lên tới hàng ngàn lượng bạc mỗi năm. Tất cả những con số này đã nằm trọn trong đầu Cố Tam. Nhưng muốn hạ gục một con cáo già như Phúc bá, chỉ có sổ sách là chưa đủ. Hắn cần bắt được quả tang, cần một bằng chứng không thể chối cãi khiến lão không thể giở trò chối tội.

Và đêm nay chính là thời điểm thích hợp nhất. Theo tính toán của Cố Tam, hôm nay là ngày cuối tháng, thời điểm các kho lương ngoại thành kiểm kê và xuất hàng cho thương lái. Phúc bá nhất định phải ra tay để lấp liếm khoản chênh lệch lúa mốc trong sổ sách.

⁂

Màn đêm buông xuống che phủ toàn bộ trấn nhỏ. Tiếng gõ mõ điểm canh hai của người gác đêm vang lên đều đặn rồi chìm nghỉm vào không gian tĩnh mịch.

Cố Tam nép mình trong bóng tối đằng sau cánh cửa phụ của Cố gia. Hắn đã thay bộ y phục gấm vóc đắt tiền bằng một bộ quần áo thô màu xám tro dính đầy vết than bụi, khuôn mặt quết một vệt bồ hóng đen lem luốc. Hắn kiên nhẫn chờ đợi như một con thú săn mồi đang ẩn nấp trong bụi rậm.

Đúng như dự đoán, một bóng người gầy guộc, lưng hơi còng nhẹ từ từ lẻn ra từ khu nhà riêng của quản gia. Kẻ đó xách theo một chiếc đèn lồng nhỏ bọc vải đen, chỉ để lộ một quầng sáng mờ nhạt dưới chân, nhẹ nhàng lướt qua cánh cổng hông đã được mở sẵn từ trước.

Là Phúc bá.

Cố Tam mỉm cười xảo quyệt, lặng lẽ bước ra khỏi bóng râm, giữ một khoảng cách chừng ba mươi bước chân và lén bám theo.

Đường phố đêm khuya vắng ngắt không một bóng người. Phúc bá di chuyển rất nhanh và cảnh giác, thỉnh thoảng lại dừng bước quay đầu nhìn quanh. Nhưng Cố Tam vốn là bậc thầy về lăn lộn trên đường phố từ kiếp trước. Hắn biết cách tận dụng từng góc tường, từng bãi rác, từng chiếc xe ngựa bỏ hoang để che giấu thân hình. Mỗi lần Phúc bá ngoái lại, Cố Tam đã hòa làm một với bóng tối, đến cả hơi thở cũng được thu lại cực kỳ êm ái.

Đi qua hết con phố chính, Phúc bá hướng thẳng ra khu vực ngoại thành phía tây. Nơi này giáp sông, không khí ẩm ướt và xộc lên mùi bùn tanh cùng mùi lương thực lên men. Đó là dãy kho lương thực lớn nhất của Cố gia, nơi lưu trữ hàng ngàn bao lúa được thu gom từ các trang điền lân cận.

Phúc bá dừng lại trước một gian kho nằm hẻo lánh nhất, sát bờ sông. Lão gõ nhẹ lên cánh cửa gỗ ba tiếng ngắn, hai tiếng dài.

Cánh cửa kho khẽ mở ra một khe hẹp, ánh đèn dầu từ bên trong hắt ra một vệt sáng vàng võ. Phúc bá nhanh chóng lách người chui vào trong, cánh cửa lập tức khép lại.

Cố Tam nép sát vào bức tường đất ẩm ướt của kho lương. Hắn đảo mắt nhìn quanh, phát hiện ra một ô cửa sổ nhỏ dùng để thông gió ở mảng tường phía sau. Nhẹ nhàng nhón chân, Cố Tam leo lên một đống thùng gỗ mục xếp chồng bên cạnh, áp tai sát vào khe hở của ô cửa sổ, nín thở nhìn vào bên trong.

Bên trong gian kho rộng lớn, mấy ngọn đèn dầu treo trên cột gỗ chiếu sáng một khoảng không gian ngập tràn những bao tải chất cao như núi. Mùi mốc nồng nặc xộc thẳng vào mũi Cố Tam.

Giữa kho, Phúc bá đang đứng đối diện với một người đàn ông trung niên béo múp xụp, mặc áo gấm tay ngắn, trên cổ đeo một chuỗi hạt ngọc to bản. Đó là Trần thương lái, một kẻ chuyên thu mua lương thực kém chất lượng có tiếng trong vùng.

“Tất cả số lúa tốt của đợt thu hoạch này đã được chuyển ra thuyền đằng sau sông chưa?” Phúc bá hạ thấp giọng, ánh mắt lóe lên sự gian xảo khác hẳn vẻ hiền lành mẫu mực thường ngày.

Kẻ béo múp cười khè khè, vỗ vỗ vào cái bụng phệ: “Phúc quản gia cứ yên tâm. Năm mươi bao lúa hạng nhất đã lên thuyền xong xuôi. Ta đã cho người chở hàng trăm bao lúa mục, mốc xanh mốc đỏ từ kho của ta thế vào đúng vị trí đó rồi. Bảo đảm với ông, nhìn bên ngoài không ai phát hiện ra đâu.”

Phúc bá vuốt chòm râu dê, gật đầu hài lòng: “Tốt. Lão gia nhà ta chỉ biết đọc sách thánh hiền, chẳng bao giờ bước chân đến cái kho hôi hám này. Còn tên tiểu tử phá gia chi tử kia thì lại càng là một đứa ngu dốt, suốt ngày chỉ biết phá tiền. Lần này ta báo cáo kho bị ngập nước mưa làm hư hỏng năm mươi bao lúa, phải tiêu hủy và bán tống bán tháo với giá sắt vụn. Số tiền bán lúa tốt cho ngươi, chúng ta cứ theo lệ cũ mà chia năm năm.”

Trần thương lái hếch mũi cười lớn: “Phúc lão huynh đúng là cao tay. Cứ cái đà này, chẳng mấy mà ông tích góp đủ tiền mua trọn cái điền trang phía nam rồi.”

Cố Tam đứng bên ngoài ô cửa sổ, khóe miệng giật giật. Hắn thầm nghĩ trong lòng, đúng là một kịch bản tham nhũng kinh điển của thời đại phong kiến, vừa đơn giản vừa thô bạo nhưng lại cực kỳ hiệu quả nếu chủ nhà là một kẻ ngốc. Tên quản gia này không chỉ ăn chặn tiền chênh lệch trên sổ sách, mà còn trực tiếp tráo đổi tài sản thật thành đồ phế thải để đút túi riêng.

Tuy nhiên, nếu chỉ xông vào lúc này, Phúc bá hoàn toàn có thể chối tội, đổ thừa cho Trần thương lái tự ý đột nhập hoặc chối phắt việc mình có liên quan đến con thuyền ngoài sông. Cố Tam cần một tờ giấy trắng mực đen, một bằng chứng do chính tay Phúc bá xác nhận.

Hắn khẽ mỉm cười, một kế hoạch lưu manh nảy ra trong đầu. Cố Tam nhảy nhẹ xuống khỏi đống thùng gỗ, kéo chiếc khăn vải đen lên che kín nửa dưới khuôn mặt, chỉ để lộ hai mắt. Hắn phủi phủi bụi trên áo, lấy từ trong túi ra một tờ giấy tờ đã chuẩn bị sẵn từ chiều cùng một thỏi mực khô và một cây cọ nhỏ.

Hắn hít một hơi sâu, tiến về phía cửa chính của kho lương. Hắn không gõ cửa theo tín hiệu, mà ra sức đạp mạnh một phát vào cánh cửa gỗ mục.

Rầm!

Cánh cửa kho nẩy mạnh, tiếng then cài kêu lên ken két. Bên trong lập tức vang lên tiếng la hốt hoảng và tiếng binh khí rút ra khỏi vỏ.

Cố Tam không đợi người bên trong mở cửa, hắn tự tay đẩy mạnh cánh cửa bước vào, tay lăm lăm cầm một thanh gỗ to bộc lộ vẻ hung hãn. Hắn hạ thấp giọng, giả làm một giọng nói ồm ồm, khàn đục của một kẻ đao búa ngoài giang hồ: “Ai là kẻ đứng đầu ở đây? Bước ra đây cho gia gia!”

Phúc bá và Trần thương lái giật bắn người. Mấy tên gia nhân chở hàng của Trần thương lái lập tức rút dao ngắn ra bảo vệ chủ nhân.

“Ngươi… ngươi là ai? Sao dám xông vào kho lương của Cố gia đêm khuya thế này?” Phúc bá tái mặt, chỉ tay vào Cố Tam, giọng nói có phần run rẩy nhưng vẫn cố tỏ ra uy nghiêm.

Cố Tam khoanh tay trước ngực, ánh mắt lưu manh lướt qua những bao lúa mốc rồi dừng lại trên mặt Phúc bá. Hắn hất hàm, giọng điệu ngạo mạn: “Ta là ai không quan trọng. Quan trọng là ta đại diện cho đại ca của khu vực bến sông này. Các người lén lút vận chuyển lương thực giả, tráo đổi hàng hóa trên địa bàn của chúng ta mà không đóng phí bảo kê, lại còn muốn êm chuyện sao?”

Trần thương lái nghe vậy thì nhíu mày, thì thào với Phúc bá: “Là đám lưu manh bến tàu. Đám này rất dai dẳng và liều mạng.”

Phúc bá cố nén sợ hãi, bước lên một bước: “Ngươi bớt nhảm nhí đi! Ta là quản gia của Cố gia, đây là việc nội bộ của Cố gia chúng ta. Ngươi mau cút đi, nếu không ta báo quan bắt ngươi!”

“Báo quan?” Cố Tam bật cười ha hả, tiếng cười vang vọng khắp gian kho u tối khiến kẻ khác phải rợn người. “Ông già, ông định báo quan bảo rằng ông đang lén tráo lúa tốt của chủ nhà thành lúa mốc để bán chui à? Ông nghĩ quan phủ sẽ bắt ta trước hay bắt cái gậy đập gãy lưng ông trước?”

Lời nói của Cố Tam như một gáo nước lạnh dội thẳng vào đầu Phúc bá. Lão quản gia sững người, mồ hôi hột bắt đầu rịn ra trên trán. Lão không ngờ tên lưu manh này lại biết rõ ngọn ngành câu chuyện đến vậy.

Cố Tam bước tiến thêm hai bước, cố ý thả thanh gỗ trong tay xuống sàn tạo nên một tiếng thồm thộp đe dọa. Hắn ghé sát mặt vào Phúc bá, cất giọng lạnh tanh: “Ta không quan tâm các người làm ăn phi pháp thế nào. Nhưng đã đi qua bến này thì phải có luật. Toàn bộ số lúa mốc này, ta sẽ thu mua lại với giá sắt vụn để đưa về làm thức ăn cho gia súc. Còn số tiền chênh lệch năm mươi lượng bạc mà các người vừa giao dịch, ta phải lấy một nửa làm tiền bịt miệng.”

Trần thương lái lập tức giận dữ: “Ngươi ăn cướp đấy à? Số lúa mốc này làm sao bán được giá đó? Với lại tiền chúng ta đã chia đâu!”

“Không đưa?” Cố Tam nhướng mày, quay người làm bộ dạng bước ra ngoài cửa. “Được thôi. Mấy huynh đệ của ta đang đứng ngoài cửa, chỉ cần ta hú lên một tiếng, toàn bộ dân làng và bảo an của trấn sẽ kéo đến đây xem cảnh Phúc quản gia uy phong lẫm liệt tráo lúa đêm khuya.”

“Đứng lại!” Phúc bá hoảng hốt gào lên. Lão không thể để chuyện này lộ ra ngoài. Nếu Cố Viễn Sơn biết chuyện, lão không chỉ mất hết danh tiếng và tài sản tích góp bao năm mà còn phải ngồi tù đến chết.

Phúc bá cắn răng, nuốt ngụm nước bọt cay đắng: “Được… ta đồng ý ép giá số lúa mốc này cho ngươi. Ta sẽ bán cho ngươi năm mươi bao lúa hỏng này với giá cực rẻ để ngươi chở đi ngay lập tức. Nhưng ngươi phải hứa giữ kín miệng!”

Cố Tam quay lại, ánh mắt lóe lên sự tinh quái: “Nói miệng không bằng chứng. Ta là người làm ăn đàng hoàng. Ngươi phải viết cho ta một tờ biên nhận, ghi rõ ngươi là quản gia Cố gia, tự nguyện bán năm mươi bao lúa bị mốc hư hỏng này với giá năm văn một bao để lấp liếm khoản tiền chênh lệch, và đã nhận đủ tiền đền bù hao hụt từ bên thu mua.”

Phúc bá nghe đến đây thì khựng lại, cảm thấy có điều gì đó sai sai: “Tại sao lại phải ghi rõ lấp liếm tiền chênh lệch?”

Cố Tam hừ lạnh, giọng điệu đầy sự gian xảo của một kẻ giang hồ: “Để làm bằng chứng chứ sao! Nhỡ đâu mai này ông giật dây cho quan phủ nói ta ăn trộm lúa của Cố gia thì sao? Có tờ giấy này ghi rõ ông tự tay bán lúa mốc và nhận tiền đền bù để lấp sổ sách, chúng ta là người trên cùng một thuyền. Ông không dám tố ta, ta cũng chẳng rảnh tố ông. Cả hai cùng an toàn!”

Phúc bá suy nghĩ nhanh trong đầu. Lão nhận thấy lập luận của tên lưu manh này hoàn toàn có lý theo kiểu tư duy của giới giang hồ xám xịt. Để giữ an toàn cho bản thân, việc để lại một điểm yếu tương đương cho đối phương là điều thường thấy trong các vụ giao dịch ngầm. Hơn nữa, lúc này đêm đã muộn, lão chỉ muốn tống khứ tên lưu manh này đi càng nhanh càng tốt trước khi có biến cố khác xảy ra.

“Được! Đưa giấy mực đây!” Phúc bá dậm chân nói.

Cố Tam lập tức rút tờ giấy và cây cọ đã chuẩn bị sẵn ra, trải lên một bao lúa. Phúc bá giật lấy cây cọ, nhanh chóng viết những dòng chữ xác nhận theo đúng lời Cố Tam đọc, cuối cùng không quên ấn dấu tay và ký rõ tên Phúc quản gia của Cố gia.

Khi Phúc bá vừa đặt cây cọ xuống, Cố Tam nhanh như chớp giật lấy tờ giấy, thổi nhẹ cho mực mau khô rồi cẩn thận gấp lại, nhét chặt vào trong ngực áo. Hắn nhìn dòng chữ viết tay rõ ràng cùng dấu vân tay màu đỏ tươi của Phúc bá, nụ cười trên môi càng lúc càng rộng.

“Tốt lắm, Phúc quản gia. Sự hợp tác của ông thật là vui vẻ,” Cố Tam cất giọng bình thản, nhưng lần này hắn đã trở lại bằng chính giọng nói thật của mình.

Phúc bá giật bắn người, đôi mắt lão trợn ngược lên khi nghe thấy giọng nói quen thuộc đó: “Ngươi… cái giọng này…”

Cố Tam từ từ đưa tay lên, tháo chiếc khăn vải đen che mặt xuống, nở một nụ cười rạng rỡ và vô cùng thân thiện: “Phúc bá, lâu rồi không gặp. Mới có nửa ngày mà hình như lão quên mất mặt vị thiếu gia phá gia chi tử này rồi sao?”

Toàn bộ gian kho trong khoảnh khắc đó chìm vào một sự im lặng chết chóc.

Phúc bá như bị một tia sét đánh thẳng vào đỉnh đầu. Lão lùi lại ba bước, hai chân run rẩy không trụ vững, suýt chút nữa thì ngã ngửa vào đống bao lúa mốc. Lão chỉ tay vào mặt Cố Tam, đôi môi run mần mút không thốt nên lời: “Thiếu… Thiếu gia?! Ngươi… sao lại là ngươi?”

Trần thương lái cũng bàng hoàng không kém, gào lên: “Phúc quản gia, chuyện này là thế nào? Không phải ông nói tên thiếu gia này là một kẻ ngu đần sao?”

“Ta… ta làm sao biết được!” Phúc bá gào lên trong hốt hoảng. Lão nhận ra mình đã rơi hoàn toàn vào một cái bẫy được giăng ra cực kỳ công phu. Tờ giấy lão vừa ký không phải là giấy thế chấp giang hồ, mà chính là tờ giấy tự thú không thể chối cãi!

Phúc bá lập tức hóa điên, gầm lên với đám gia nhân: “Bắt nó lại! Mau giật lại tờ giấy đó! Không thể để nó sống sót rời khỏi đây!”

Mấy tên gia nhân cùng Trần thương lái lập tức vung dao, hung hãn lao về phía Cố Tam.

Cố Tam không hề nao núng, thậm chí còn không buồn nhúc nhích. Hắn thong thả đếm nhẩm trong đầu: “Ba… hai… một…”

Rầm!

Cánh cửa kho lương thực một lần nữa bị đập phá dữ dội, nhưng lần này không phải do một cú đạp nhẹ, mà là do lực va chạm của hàng chục người. Cánh cửa gỗ ngã văng ra sàn, bụi bay mù mạt.

Cùng lúc đó, hàng chục ngọn đuốc sáng rực như ban ngày đồng loạt rọi thẳng vào bên trong gian kho u tối. Bánh xe ngựa và tiếng bước chân dồn dập vang lên rầm rộ, bao vây toàn bộ khu vực bờ sông.

“Động tay động chân xem nào! Kẻ nào dám động đến một sợi tóc của con ta?”

Một tiếng gầm thét xé tan màn đêm vang lên từ phía cửa. Cố Viễn Sơn, tay cầm một thanh kiếm tuốt khỏi vỏ, sắc mặt sắt lại vì giận dữ, dẫn đầu hơn hai mươi gia nhân Cố gia cùng đội bảo an trang bị gậy gộc đầy đủ ập vào bên trong.

Đám người của Trần thương lái và Phúc bá đờ đẫn tại chỗ, vũ khí trong tay rơi rải rác xuống đất. Sự xuất hiện bất ngờ và quy mô của lực lượng Cố gia khiến chúng hoàn toàn mất đi khả năng phản kháng.

Thì ra, trước khi lén bám theo Phúc bá, Cố Tam đã nhét một bức thư tay dưới tách trà trong phòng làm việc của cha mình, dặn ông đúng giờ canh hai phải dẫn toàn bộ người làm đến kho lương ngoại thành để bắt sâu mọt. Cố Viễn Sơn ban đầu nửa tin nửa ngờ, nhưng vì lo lắng cho con trai và sự tò mò về những con số chênh lệch mà Cố Tam từng nói, ông đã quyết định dẫn người đến.

Cố Viễn Sơn bước nhanh vào giữa kho. Ánh mắt ông lướt qua những bao lúa mốc xanh mốc đỏ bị rách vỏ, nhìn sang con thuyền đang đậu lén lút ngoài bờ sông, và cuối cùng dừng lại trên khuôn mặt tái nhợt không còn một giọt máu của Phúc bá.

“Phúc quản gia… ngươi thật sự làm ra những chuyện này sao?” Cố Viễn Sơn cất giọng trầm thấp, chứa đựng một sự thất vọng và phẫn nộ tột cùng. Vị quản gia mà ông coi như người nhà, người đã quản lý tài sản cho Cố gia suốt mười mấy năm qua, lại là kẻ rút ruột gia tộc một cách tàn nhẫn nhất.

Phúc bá quỳ gối gục xuống sàn nhà, thân thể run giật liên hồi: “Lão gia… lão gia bớt giận! Lão nô bị kẻ xấu xúi giục… lão nô bị oan!”

“Oan?” Cố Tam thong thả bước đến bên cạnh Cố Viễn Sơn, rút từ trong ngực áo ra tờ giấy còn thơm phức mùi mực. Hắn giơ tờ giấy lên trước mặt cha mình, thản nhiên nói: “Cha xem này, chữ ký tươi rói, dấu vân tay còn chưa khô. Bằng chứng đền bù hao hụt và tráo lúa mốc lấp liếm sổ sách do chính tay ông ta tự viết ra đấy.”

Cố Viễn Sơn giật lấy tờ giấy, mắt lướt qua từng dòng chữ. Càng đọc, cơ mặt ông càng giật mạnh. Tờ giấy ghi rõ từng con số chênh lệch, từng phương thức tráo đổi lúa tốt thành lúa hỏng, trùng khớp hoàn toàn với những báo cáo hao hụt mà Phúc bá đã đệ trình cho ông trong suốt ba năm qua.

Cố Viễn Sơn tức đến mức ngực phập phồng dữ dội, thanh kiếm trong tay run lên bần bật. Ông chĩa thẳng mũi kiếm vào mặt Phúc bá, giọng nghẹn lại vì phẫn nộ: “Mang ơn Cố gia ta mười mấy năm qua, vậy mà ngươi coi lòng tin của ta như cỏ rác! Người đâu, trói sạch đám sâu mọt này lại cho ta, giải lên quan phủ ngay trong đêm!”

Đội bảo an Cố gia lập tức xông vào, nhanh như cắt trói gô Phúc bá cùng Trần thương lái và đám tay chân lại. Tiếng khóc lóc van xin tha mạng của Phúc bá vang lên thảm thiết, nhưng Cố Viễn Sơn chỉ dứt khoát quay lưng, không buồn nhìn lại lấy một lần.

Xong xuôi, ông quay sang nhìn đứa con trai vốn bị mình xem là kẻ phá gia chi tử. Trong mắt ông lúc này vừa có sự kinh ngạc, vừa có sự hãnh diện khó giấu.

“Con… làm sao lại gài được cái bẫy tinh vi thế này?” ông hắng giọng hỏi.

Cố Tam phủi phủi vạt áo dính chút bụi bẩn, tủm tỉm cười: “Thì con đã bảo với cha rồi, con đi thu gom đồ cũ cũng là có tính toán cả đấy thôi.”

Hắn liếc mắt nhìn ra phía dòng sông tối mịt. Trong tờ biên nhận lúc nãy, ngoài dấu vân tay của Phúc bá, hắn còn nhìn thấy một vết mực in chìm mang biểu tượng của Triệu gia. Phúc bá và Trần thương lái chỉ là những con cờ tiên phong, kẻ thực sự đứng sau giật dây rút ruột Cố gia không ai khác chính là Triệu Thiên Hào.

Cố Tam nhếch môi cười thầm. Bàn cờ này, hắn mới chỉ vừa hạ xuống nước đi đầu tiên, liệu gã thương nhân giàu nhất vùng đó có đỡ nổi trò quái chiêu tiếp theo của hắn hay không?
 
Sửa lần cuối:
CHƯƠNG 8 — PHIÊN CHỢ ĐẦU TIÊN
Nắng sớm rọi xuống khu Đông Thị náo nhiệt nhất thành kinh, biến những giọt sương đêm còn đọng trên mái ngói thành hàng ngàn đốm sáng lấp lánh. Mới canh hai giờ Tỵ, tiếng rao hàng, tiếng mặc cả, tiếng xe ngựa nghiến trên đường đá cùng mùi thơm của bánh bao hấp đã hòa quyện thành một khúc ca hỗn độn nhưng tràn đầy sức sống.

Ngay giữa dòng người qua lại tấp nập ấy, Cố Tam thong dong bước đi. Hắn mặc bộ y phục bằng lụa lam nhạt vô cùng đắt tiền, trên eo đeo miếng ngọc bội trắng trong suốt, dáng vẻ chẳng khác nào một vị công tử nhà giàu đi thưởng ngoạn phong cảnh. Nhưng khác với vẻ sang trọng bên ngoài, trong túi áo hắn lúc này chỉ có vỏn vẹn một lượng bạc lẻ cùng năm trăm đồng tiền đồng, vốn là số tiền thưởng ít ỏi mà Cố Viễn Sơn bấm bụng ném cho sau khi vụ án Phúc bá bị phanh phui. Đối với một thiếu gia từng tiêu tiền như nước như Cố Minh ngày trước, năm trăm đồng tiền đồng này chẳng đủ để trả tiền trà ở Túy Hồng Lâu. Thế nhưng trong mắt Cố Tam, đây lại là số vốn khởi nghiệp vô cùng đắt giá.

Hắn lướt qua những sạp hàng bán lụa là gấm vóc, bỏ qua những tiệm trang sức kim ngân lộng lẫy, cũng chẳng hề ngó ngàng đến những gian hàng đồ cổ đắt đỏ. Điểm đến của Cố Tam là góc tây bắc của chợ, nơi tập trung những sạp hàng phế liệu, đồ cũ và đống rác thải sinh hoạt của thành phố.

Hắn dừng lại trước sạp hàng của một lão già râu tóc bạc phơ, nơi chất đống vô số đồ đồng cũ kỹ đã xỉn màu. Nhiều cái lư hương, ấm trà, mâm đồng bị sứt quai, thủng đáy, hoặc phủ một lớp gỉ xanh phèn trông vô cùng gớm ghiếc.

Cố Tam ngồi xổm xuống, không hề ngần ngại ngửi mùi kim loại hoen gỉ, tay nhặt từng chiếc mâm đồng thủng và ấm trà sứt vòi lên xem xét độ dầy mỏng. Lão chủ sạp giương mắt nhìn vị công tử lụa là trước mặt, tưởng hắn bị điên hoặc nhìn nhầm gian hàng.

"Công tử à," lão già e hèm một tiếng, "đây toàn là đồ nung lại làm phế liệu thôi, không phải đồ cổ đâu mà xem."

"Ta biết," Cố Tam thản nhiên đáp. "Lão bán hết đống này bao nhiêu?"

Lão chủ sạp chớp mắt, nhẩm tính một hồi rồi xòe ba ngón tay. "Toàn bộ chỗ này nặng khoảng mười cân đồng phế, nếu công tử thích thì ta lấy ba mươi đồng tiền."

"Hai mươi lăm đồng, không bán ta đi sạp khác," Cố Tam trả giá chuẩn xác như một bà nội trợ lành nghề.

Lão già ngớ người, vội vàng gật đầu đồng ý. Cố Tam móc tiền trả, bảo lão gom hết đống đồ đồng cũ vào một chiếc bao tải nhỏ.

Tiếp đó, hắn bước sang sạp đồ sắt cũ của một gã thợ rèn giải nghệ. Tại đây, những con dao làm bếp cùn vỡ lưỡi, dao găm hoen gỉ nặng nề bị vứt xó nằm chỏng gọng. Người ta thường bán chúng cho lò rèn để nấu lại, nhưng giá trị thu về chẳng đáng là bao. Cố Tam lựa ra mười con dao cùn có chất thép còn tương đối tốt, chỉ bị hoen gỉ bề mặt hoặc mẻ chút đỉnh ở lưỡi. Gã thợ rèn nhìn hắn như nhìn một kẻ ngốc, hỉ hả thu về mười lăm đồng tiền cho đống sắt vụn mà bình thường gã định vứt đi.

Không dừng lại ở đó, Cố Tam dẫn người mang bao tải tiến về phía xưởng gỗ ở cuối phố. Mùi gỗ mùn cưa ngạt ngào xộc vào mũi. Bên cạnh xưởng gỗ là một đống gỗ vụn khổng lồ, bao gồm những mảnh dăm gỗ mun, gỗ hương, gỗ cẩm lai còn thừa sau khi thợ đóng bàn ghế cho các gia đình quyền quý. Đối với xưởng gỗ, đống gỗ vụn này chỉ có một tác dụng duy nhất là làm củi đốt.

Cố Tam nhặt vài khối gỗ vụn lên, vuốt ve vân gỗ mịn màng. Hắn lập tức nhận ra đây toàn là loại gỗ quý hiếm, nếu biết cách tận dụng thì giá trị không thể coi thường.

"Ông chủ, đống củi gỗ vụn này bán thế nào?" Cố Tam chỉ tay vào đống phế liệu.

Tên thợ mộc béo mầm cười ngất. "Công tử tôn quý thế này mà lại đi mua củi đốt sao? Muốn lấy bao nhiêu cứ dọn giúp ta, trả năm mươi đồng tiền là lấy được cả đống lớn đó."

Cố Tam gật đầu, vứt ra năm mươi đồng tiền đồng, chọn lấy những mảnh gỗ vuông vắn, vân đẹp nhất nhét đầy vào hai cái bao tải lớn.

Sát bên xưởng gỗ là một gian hàng gốm sứ. Ở đây có một chiếc giỏ lớn chứa đầy bình sứ nứt, bát đĩa sứt mẻ do quá trình vận chuyển bị va đập. Trong thời đại này, sứ nứt bị xem là điềm xui xẻo, chỉ có người nghèo rớt mùng mồng mới bấm bụng mua về dùng tạm, còn kẻ có tiền thì tuyệt đối không bao giờ chạm vào. Cố Tam đảo mắt qua, chọn ra năm chiếc bình sứ hoa xanh có dáng rất đẹp, dù trên thân có vài đường nứt như màng nhện hoặc vỡ mất một miếng nhỏ ở miệng bình. Hắn bỏ ra ba mươi đồng tiền để dọn sạch năm chiếc bình sứ nứt đó trước sự ngơ ngác của người bán hàng.

Chưa dừng lại ở đó, Cố Tam tiếp tục mò mẫm đến khu thu gom phế liệu kim loại. Hắn mua thêm một đống sắt vụn gồm vòng đai xe ngựa gãy, đinh sắt gỉ, dây xích cũ với giá mười đồng tiền.

Cuối cùng, hắn ghé vào tiệm may lớn nhất Đông Thị. Sau nhà tiệm may là những sọt rác chứa đầy vải rách, vụn lụa, vải gấm tơ tằm đủ màu sắc cắt thừa. Những mảnh vải nhỏ này không đủ để may lấy một cái cổ áo, thường bị coi là đồ bỏ đi. Cố Tam trả cho người học việc ở tiệm may mười đồng tiền để ôm trọn hai bao vải rách to đùng.

Hành động kỳ quặc của vị thiếu gia nhà giàu nhanh chóng thu hút sự chú ý của đám đông xung quanh. Mọi người xúm lại chỉ trỏ, cười nhạo.

"Kìa, đó chẳng phải là Cố Minh, tên phá gia chi tử nổi tiếng của Cố gia sao?"

"Đúng là hắn rồi! Trời ơi, hắn đang làm cái gì vậy? Mang tiền đi mua một đống rác rưởi về nhà à?"

"Chắc là ăn chơi lêu lổng đến mức phát điên rồi! Hết đồ mua lại đi mua dao cùn, bình nứt với vải rách. Đúng là làm trò cười cho thiên hạ!"

Những lời đàm tiếu, giễu kẹt vang lên khắp một góc chợ. Những người bán hàng vừa cầm tiền của Cố Tam vừa bịt miệng cười thầm, tự chúc mừng mình hôm nay gặp được một kẻ ngốc đại gia để bòn rút.

Cố Tam hoàn toàn phớt lờ những ánh mắt khinh bỉ và tiếng cười nhạo chung quanh. Hắn bỏ ra mười đồng tiền thuê một góc gian hàng trống ngay giữa tâm điểm chợ Đông Thị, đồng thời mua thêm một ít dấm chua, muối hột, bột đá mịn, keo nhựa cây, một ít bột nhũ vàng rẻ tiền và vài công cụ mài dũa đơn giản.

Hắn xắn tay áo lụa lên, ngồi xuống trước bàn gỗ, bắt đầu công đoạn biến rác thải thành vàng.

Đầu tiên là đống đồ đồng cũ gỉ xanh. Cố Tam trộn dấm chua với muối hột và bột đá mịn thành một thứ dung dịch tẩy rửa tự chế. Hắn bôi hỗn hợp này lên lớp gỉ xanh phèn của chiếc mâm đồng và ấm trà, dùng giẻ lau chà xát mạnh mẽ. Lớp gỉ xanh bị axit nhẹ trong dấm và tính ăn mòn của muối đánh tan nhanh chóng. Tiếp đó, hắn dùng bột đá mài bóng bề mặt kim loại. Chỉ trong chưa đầy một tuần trà, chiếc ấm trà đồng tưởng chừng như phế thải đã biến mất, thay vào đó là một chiếc ấm đồng ánh lên sắc vàng cam ấm áp, bóng loáng như mới sản xuất từ xưởng đúc.

Đám đông xung quanh bắt đầu ngừng cười. Mấy lão bán đồ cũ mắt trợn ngược lên vì kinh ngạc.

Không để người ta kịp định hình, Cố Tam bắt đầu xử lý đống dao cùn. Hắn ngâm lưỡi dao hoen gỉ vào chậu dấm để làm mềm lớp gỉ sắt, sau đó đặt lên đá mài chà xát theo góc độ chuẩn xác mà hắn từng học được trong các video hướng dẫn sinh tồn ở thế giới hiện đại. Lớp gỉ dính trên bề mặt bị đánh bay, để lộ ra chất thép sáng quắc. Hắn tiếp tục dùng đá mài mịn đánh bóng lưỡi dao đến mức có thể soi gương được. Phần cán dao bằng gỗ bị mục vỡ, Cố Tam dùng những mảnh vải rách rực rỡ màu sắc quấn lại theo kỹ thuật quấn dây kiếm tinh tế, vừa êm tay vừa tạo nên một vẻ ngoài vô cùng độc đáo và hiện đại.

Tiếp theo là năm chiếc bình sứ nứt. Đây mới là tuyệt kỹ thực sự của Cố Tam. Hắn nhớ lại nghệ thuật Kintsugi của người Nhật Bản, kỹ thuật dùng vàng để hàn gắn những vết nứt gốm sứ, biến khuyết điểm thành nghệ thuật độc đản. Hắn trộn keo nhựa cây với bột nhũ vàng rực rỡ, cẩn thận miết từng đường keo vào các vết nứt trên thân bình sứ. Sau khi keo khô, những đường nứt chằng chịt vốn làm chiếc bình mất giá trị lại biến thành những đường gân vàng óng ánh như tia sét chạy dọc thân gốm trắng, tạo nên một vẻ đẹp kiêu sa, cổ kính và đầy tính nghệ thuật.

Đối với đống gỗ vụn, Cố Tam dùng con dao vừa mài sắc lẹm gọt đẽo nhanh gọn. Hắn gọt những mảnh gỗ hương quý giá thành từng chiếc gác bút nhỏ nhắn, những chiếc lược gỗ mịn màng và những hộp đố trí tuệ Lỗ Ban khóa ghép không cần dùng đinh. Mùi gỗ hương thơm phức tỏa ra ngột ngạt khắp một vùng.

Những mảnh vải rách còn lại, hắn phân loại theo màu sắc. Dùng dây sắt vụn được uốn nắn khéo léo làm khung, hắn bọc lụa rách bên ngoài tạo thành những chiếc túi thơm nhỏ nhắn hình hoa sen, bên trong nhét một ít mùn cưa gỗ hương còn thừa.

Chỉ trong vòng hai canh giờ, trước mắt đám đông dân chúng Đông Thị, một đống rác rưởi phế thải đã biến mất hoàn toàn. Thay vào đó là một sạp hàng lộng lẫy bao gồm đồ đồng bóng loáng, dao làm bếp sắc bén với cán quấn dây thời trang, bình sứ dát vàng độc lạ, đồ mỹ nghệ gỗ hương thơm phức và những chiếc túi thơm bằng lụa tinh tế.

Mọi người xung quanh chết lặng. Không khí giễu kẹt ban nãy biến mất không một dấu vết, chỉ còn lại những tiếng hít sâu đầy bàng hoàng.

Cố Tam phủi tay, đứng dậy hắng giọng một cái, bắt đầu cất tiếng rao bằng chất giọng sảng khoái.

"Hàng độc nhất vô nhị đây! Ấm đồng hoàng gia sáng bóng, dao bếp siêu sắc chém sắt như chém chuối, bình sứ hoa xanh gân vàng nghệ thuật phong thủy, túi thơm gỗ hương xua đuổi tà khí! Số lượng có hạn, ai nhanh tay thì còn, ai chậm tay thì mất!"

Lời rao vừa cất lên, đám đông lập tức bùng nổ.

Một gã đầu bếp của một tửu lâu lớn chen vào đầu tiên. Gã nhìn chằm chằm vào con dao bếp bóng lộn, dùng ngón tay thử độ sắc của lưỡi dao rồi trầm ồ lên một tiếng. "Con dao này thép tốt quá! Cán cầm lại rất bám tay. Công tử bán bao nhiêu?"

"Bốn trăm đồng tiền," Cố Tam thản nhiên hét giá.

Vốn dĩ con dao cùn này hắn mua với giá một đồng nửa, tiền công mài và ít vải rách chẳng tốn bao nhiêu. Gã đầu bếp không chút đắn đo, móc ngay ra bốn trăm đồng tiền nhét vào tay Cố Tam, hồ hởi ôm con dao chạy về như vơ được báu vật.

Tiếp đó, một vị văn nhân ăn mặc chỉnh tề tiến lại gần, mắt dán chặt vào chiếc bình sứ nứt được gắn keo vàng. Hắn vuốt ve những đường gân vàng chạy trên nền sứ xanh, giọng run run vì xúc động. "Đường gân vàng này... nét đẹp này thật là tự nhiên, ẩn chứa đạo lý phế tích trùng sinh! Đây đúng là kiệt tác nghệ thuật! Công tử, chiếc bình này bán thế nào?"

Cố Tam chớp mắt, nở nụ cười thương gia tiêu chuẩn. "Vị huynh đài này thật có con mắt tinh đời. Đây là kỹ thuật dát vàng Phượng Hoàng Tái Sinh truyền từ đời cụ tổ nhà ta. Chiếc bình này giá mười lượng bạc!"

Đám đông xung quanh suýt nữa thì ngất xỉu. Mười lượng bạc! Mười lượng bạc đủ cho một gia đình bình thường sống phủ phê cả năm trời!

Thế nhưng vị văn nhân kia lại không hề do dự. Hắn lập tức tháo túi tiền trên eo, móc ra một thỏi bạc mười lượng đặt mạnh lên bàn. "Mua! Ta mua! Nhờ công tử gói lại cẩn thận giúp ta!"

Sự việc diễn ra nhanh đến mức khiến những người đứng xem không tin vào mắt mình.

Tiếp theo đó là một làn sóng tranh mua dội đến. Các bà nội trợ chen nhau mua sạch năm chiếc ấm đồng với giá hai lượng bạc một chiếc. Mấy vị công tử phong lưu đến mua sạch đống hộp đố gỗ hương và túi thơm lụa với giá vài trăm đồng một món. Ngay cả đống đinh sắt vụn cũng được Cố Tam rèn nắn lại thành những chiếc móc treo đồ nghệ thuật và bán sạch bách.

Chưa đầy nửa canh giờ sau, sạp hàng của Cố Tam hoàn toàn trống trơn.

Hắn ngồi trên chiếc ghế gỗ, thong thả lấy một chiếc khăn sạch lau tay, sau đó trút toàn bộ tiền bạc thu được ra bàn để đếm.

Tổng số vốn ban đầu hắn bỏ ra để mua đống phế liệu và dụng cụ là khoảng hai trăm đồng tiền. Tổng số tiền thu về lúc này bao gồm hai mươi lăm lượng bạc trắng cùng hơn ba ngàn đồng tiền đồng!

Lãi gấp hơn một trăm lần!

Xung quanh gian hàng, hàng chục thương nhân buôn bán đồ cũ, thợ rèn, thợ mộc và cả những thương lái lớn trong khu chợ Đông Thị đang đứng ngây người như những pho tượng đá. Lão già bán đồ đồng cũ nuốt nước bọt ừng ực, đôi mắt đỏ ngầu vì tiếc nuối. Tên thợ mộc béo mầm đập đầu vào cột gian hàng tự chửi rủa bản thân vì đã bán đống gỗ hương quý giá với giá củi đốt. Gã thợ rèn thì nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay mình, cảm thấy mấy chục năm rèn sắt của mình hoàn toàn sống hoài sống phí.

Thương nhân khắp khu chợ bắt đầu thì thầm bàn tán, ánh mắt nhìn Cố Tam đã hoàn toàn thay đổi. Không còn là sự khinh bỉ dành cho một tên phá gia chi tử, mà là sự khiếp sợ và thèm thuồng trước một thiên tài kinh doanh có khả năng biến rác thành vàng.

Một vài chủ tiệm buôn lớn ở hàng đầu khu chợ bắt đầu liếc nhìn nhau, trong mắt lóe lên những tia sáng tính toán. Họ nhận ra rằng, trật tự buôn bán ở khu Đông Thị này rất có thể sắp sửa bị xáo trộn hoàn toàn bởi tên thiếu gia kỳ lạ này.

Cố Tam ung dung gom toàn bộ bạc và tiền đồng nhét vào một chiếc túi vải lớn, đứng dậy phủi bụi trên áo. Hắn nhìn quanh đám đông thương nhân đang chết lặng xung quanh, khóe miệng nhếch lên thành một nụ cười đầy ẩn ý.

Hắn biết, đây mới chỉ là bước khởi đầu cho đế chế kinh doanh tái chế mà hắn sắp dựng lên.

Khi Cố Tam nhấc túi tiền nặng trịch lên vai và chuẩn bị bước đi, một gã trung niên mặc áo gấm sang trọng, trên tay cầm hai viên minh châu xoay tròn liên tục, bước ra từ đám đông thương nhân, cản ngay trước mặt hắn.
 
CHƯƠNG 9 — CỐ TAM MỞ TIỆM ĐỒ CŨ

Gã trung niên mặc áo gấm dừng bước, hai viên minh châu trong tay xoay tròn phát ra những tiếng lách cách đều đặn. Ánh mắt hắn sắc lẹm lướt qua túi tiền nặng trịch trên vai Cố Tam, rồi dừng lại trên khuôn mặt thản nhiên của vị thiếu gia vừa tạo nên cơn địa chấn nhỏ ở góc chợ.

“Cố thiếu gia quả nhiên có đôi bàn tay vàng,” gã trung niên cất giọng trầm ấp, khóe môi hơi nhếch lên. “Bản điếm là Triệu Hưng, nắm vài mặt bằng kinh doanh ở khu Đông Thị này. Vừa rồi thấy ngài thi triển thần thông biến phế liệu thành bạc trắng, trong lòng không khỏi bái phục. Không biết Cố thiếu gia có ý định tìm một gian hàng đàng hoàng để dừng chân, hay muốn tiếp tục làm kẻ bán dạo ngoài đầu đường xó chợ?”

Cố Tam nhướn mày, liếc nhìn hai viên minh châu trên tay Triệu Hưng rồi cười khẩy. Hắn đang cần một địa điểm cố định để đặt nền móng cho kế hoạch tái chế của mình, việc gã thương lái này tự tìm đến cửa chẳng khác nào buồn ngủ gặp chiếu cật. Sau một hồi ngã giá ngắn gọn nhưng đầy mùi thuốc súng, Cố Tam đã chốt xong hợp đồng thuê lại một gian nhà gỗ hai tầng cũ kỹ nằm ở mép ngoài chợ Đông Thị.

Nơi đó vốn là một tiệm gốm bỏ hoang nhiều năm, mái ngói sụt mất một góc, màng nhện giăng chật kín các góc tường, mùn gỗ rơi vung vãi mỗi khi có cơn gió mạnh thổi qua. Mọi thương lái trong chợ đều chê nơi đó xui xẻo và chật hẹp, nhưng trong mắt Cố Tam, đó lại là một điểm mỏ tiềm năng. Hắn trả ngay hai mươi lượng bạc tiền thuê nửa năm trước sự ngỡ ngàng của Triệu Hưng, rồi lập tức bắt tay vào dọn dẹp.

Hắn xắn cao tay áo, tự mình xách nước lau chùi từng chiếc quầy gỗ mục bụi bặm, quét sạch lớp rác thải tích tụ nhiều năm. Đến chiều muộn, gian nhà xập xệ đã trở nên vô cùng ngăn nắp. Hắn tìm thấy một tấm gỗ phế liệu phẳng lỳ còn sót lại ở hậu viện, tự tay mài mực, vung chiếc bút lông cỡ lớn viết lên đó những nét chữ đen tuyền, khỏe khoắn và vuông vức.

Tấm biển hiệu nhanh chóng được treo chễm chệ ngay trước hiên nhà. Nội dung trên tấm biển vô cùng kỳ lạ: Cố Gia Đồ Cũ, thứ người khác chê, ta mua.

Tấm biển vừa xuất hiện đã lập tức thu hút sự chú ý của toàn bộ người dân và thương lái qua lại khu chợ Đông Thị. Đám đông hiếu kỳ vây quanh, chỉ trỏ vào dòng chữ rồi bộc phát những tiếng cười nhạo báng vang động cả một vùng.

“Mọi người mau đến xem này! Cố Tam gia lại phát điên rồi!” Một gã bán thịt lợn tay cầm dao chọc tiết cười đến mức bụng mỡ rung lên bần bật. “Nhà người ta mở tiệm thì bán gấm vóc, lụa là, đồ cổ quý giá, còn nó lại mở tiệm đi thu mua rác thải!”

“Đúng là phá gia chi tử hết chỗ nói,” một bà lão bán rau thở dài lắc đầu. “Chắc tiền kiếm được hôm nọ đè nặng túi quá nên muốn vung qua cửa sổ cho nhẹ bớt đây mà. Đồ vứt đi thì ai mà tốn tiền mua làm gì?”

“Được vài hôm rồi lại đóng cửa cuốn gói chạy về Cố phủ xin cơm thôi,” gã thợ rèn kế bên chêm vào với vẻ khinh khỉnh. “Để chống mắt lên xem cái tiệm đồ cũ này tồn tại được bao lâu!”

Mặc cho những lời chế giễu và ánh mắt khinh bỉ của người đời, Cố Tam chỉ mỉm cười ung dung. Hắn bước vào trong tiệm, thong thả pha một ấm trà xanh rẻ tiền rồi ngồi xuống sau quầy gỗ, bắt đầu ngày kinh doanh đầu tiên.

Ngày thứ nhất trôi qua trong sự im lặng tuyệt đối.

Từ sáng sớm cho đến khi mặt trời lặn sau những dãy núi phía tây, tiệm Cố Gia Đồ Cũ không hề có một vị khách nào bước chân qua ngưỡng cửa. Người đi chợ chỉ đứng ngoài ngó đầu vào, chỉ trỏ vào tấm biển hiệu rồi bật cười hô hố trước khi bỏ đi. Tiếng rao hàng rộn rã của những tiệm bánh bao, quán vải vóc xung quanh càng làm cho không khí bên trong gian tiệm của Cố Tam trở nên cô quạnh.

Cố Tam ngồi sau quầy, thong thả húp từng ngụm trà. Hắn thừa biết tâm lý của người dân thời đại này. Họ chưa bao giờ nghe đến khái niệm thanh lý đồ cũ hay tái chế rác thải. Trong suy nghĩ của họ, đồ đã hỏng thì chỉ có vứt bỏ hoặc làm củi đốt, việc mang đồ rác đi bán lấy tiền là một điều vô cùng nhảm nhí. Muốn thị trường này vận hành, hắn không thể ngồi yên chờ đợi mà phải tự mình kích hoạt nó.

Đến giữa buổi chiều, Cố Tam đứng dậy phủi bụi trên áo. Hắn đeo một chiếc sọt gỗ lớn sau lưng, tay cầm chiếc kẹp sắt tự chế, hiên ngang bước ra khỏi tiệm. Hắn không đi đâu xa mà thẳng tiến đến các bãi rác tập trung ở cuối chợ Đông Thị, các ngõ ngách tối tăm đằng sau những xưởng mộc và tiệm rèn.

Hình ảnh vị thiếu gia họ Cố lom khom nhặt nhạnh từng mảnh gỗ vụn, từng chiếc đinh gỉ, những mảnh gốm vỡ hay đống vải rách vứt lăn lóc trên đường đã trở thành một trò cười mới cho toàn bộ khu chợ.

Nhưng trong nội tâm của Cố Tam, hắn lại đang cảm thấy vô cùng phấn khích. Kiếp trước, hắn là một kiểm toán viên cao cấp, suốt ngày vùi đầu vào những con số khô khốc và các báo cáo tài chính hàng tỷ đồng. Giờ đây, khi tự tay nhặt từng mảnh phế liệu, hắn lại nhìn thấy một bức tranh tài chính sống động. Mỗi mảnh gỗ mục, mỗi chiếc mâm đồng thủng lỗ trong mắt hắn đều mang một tỷ suất lợi nhuận khổng lồ, chỉ chờ bàn tay tài hoa và tư duy hiện đại của hắn khai phá. Hắn gom đầy một sọt phế liệu mang về tiệm, cẩn thận phân loại và bắt đầu quá trình sơ chế.

Sáng ngày thứ ba, sự bế tắc bắt đầu bị phá vỡ.

Khi Cố Tam đang ngồi ở hiên tiệm tỉ mẩn chà nhám một thanh gỗ cũ, một bóng người rón rén bước tới. Đó là lão Lý, một nông dân nghèo rớt mồng tơi sống ở khu xóm trọ ngoại thành. Trên tay lão ôm một cái hũ gốm sứt vòi, nứt một đường dài cùng một chiếc rìu sắt gỉ sét đã mất cán.

Lão Lý dáo dác nhìn quanh như sợ người khác nhìn thấy, rồi ngập ngừng bước vào tiệm, cất giọng run run: “Cố… Cố thiếu gia, tấm biển ngoài kia ghi là thật sao? Thứ gì người khác chê ngài cũng mua chứ?”

Cố Tam lập tức đặt thanh gỗ xuống, đứng dậy đón tiếp với thái độ vô cùng nồng hậu. Hắn đỡ lấy cái hũ gốm và chiếc rìu gỉ từ tay lão Lý, cẩn thận soi xét dưới ánh nắng.

“Đúng vậy, lão nhân gia,” Cố Tam mỉm cười xoa dịu sự căng thẳng của người nông dân. “Bất kể là hũ vỡ, rìu gỉ hay vải rách, ở tiệm của ta đều có giá trị.”

Hắn tính toán nhanh trong đầu. Chiếc hũ gốm tuy nứt nhưng chất đất khá tốt, chỉ cần dùng kỹ thuật Kintsugi trám lại bằng keo và bột nhũ đồng là có thể bán làm bình hoa nghệ thuật. Chiếc rìu gỉ tuy mất cán nhưng phần lưỡi thép vẫn còn rất dày, chỉ cần đánh bóng và tra cán mới là dùng tốt.

“Chiếc hũ này ta mua ba đồng tiền đồng, chiếc lưỡi rìu này ta mua bảy đồng. Tổng cộng là mười đồng tiền đồng. Lão thấy thế nào?” Cố Tam đưa ra mức giá.

Mắt lão Lý trợn tròn vì kinh ngạc. Lão vốn định mang hai thứ này đi vứt ra sông, không ngờ lại đổi được mười đồng tiền đồng tươi rói. Mười đồng tiền đồng đủ cho gia đình lão mua mấy cái bánh bao thịt và một cân gạo bình dân.

“Bán! Tôi bán chứ!” Lão Lý gật đầu liên lụa.

Cố Tam lập tức lấy ra mười đồng tiền đồng mới tinh đặt vào tay lão Lý. Lão nông run rẩy cầm lấy tiền, cẩn thận nhét vào cạp quần rồi cúi đầu cảm ơn rối rít trước khi hỉ hả chạy về phía hàng bánh bao.

Câu chuyện lão Lý mang hai món đồ bỏ đi đến tiệm Cố Gia Đồ Cũ và đổi được mười đồng tiền đồng thật lập tức lan truyền với tốc độ chóng mặt khắp các khu xóm trọ nghèo và dãy hàng rong quanh chợ. Người dân bắt đầu nhận ra một sự thật chấn động: Cố Tam gia không hề nói suông, hắn thật sự trả tiền cho rác thải.

Đến ngày thứ tư, bầu không khí hoàn toàn đảo chiều.

Một hàng dài những người dân nghèo, người làm thuê và thương lái nhỏ bắt đầu nườm nượp kéo đến trước cửa tiệm Cố Gia Đồ Cũ. Người ôm chiếc mâm đồng thủng lỗ, kẻ xách bộ áo quần lụa sờn vai, người lại vác theo đống ghế gỗ gãy chân hay mấy cuốn sách cũ bị mối ăn mất một góc.

Cố Tam thiết lập một quy trình làm việc vô cùng chuyên nghiệp và khoa học ngay tại quầy. Hắn phân loại phế liệu thu mua thành bốn nhóm chính: kim loại, gốm sứ, gỗ nội thất và vải vóc. Với mỗi loại, hắn định giá rõ ràng dựa trên khả năng phục hồi và tái sử dụng, tuyệt đối không ép giá người nghèo nhưng cũng không chi tiền bừa bãi.

Màn đêm buông xuống, gian tiệm nhỏ của Cố Tam vẫn sáng rực ánh đèn dầu. Tiếng đục đẽo, tiếng mài dũa kim loại, tiếng cưa gỗ và mùi keo dán thơm nhẹ vang lên liên tục như một bản hòa tấu lao động hăng hái.

Với nhóm kim loại, hắn dùng dấm chua và cát mịn tẩy sạch lớp gỉ sét, mài dũa lại lưỡi dao, gạt bỏ những chỗ biến dạng rồi đánh bóng bề mặt sáng choang. Với đồ gốm sứ nứt mẻ, hắn khéo léo áp dụng nghệ thuật Kintsugi, biến những vết nứt xấu xí thành những đường hoa văn mạ vàng mạ bạc đầy tính nghệ thuật. Với vải vóc cũ, hắn cho giặt sạch, cắt nhỏ rồi may ghép lại thành những chiếc túi xách cá tính hoặc thảm chùi chân phối màu rực rỡ. Với gỗ mục gãy chân, hắn tháo dỡ lấy phần gỗ còn tốt, ghép lại thành những chiếc hộp đựng trang sức mini, đôn kê chậu cây hay khung tranh xảo diệu.

Sự biến hóa kỳ diệu đó nhanh chóng đem lại kết quả phi thường.

Đến ngày thứ mười, cửa tiệm Cố Gia Đồ Cũ đã trở thành một hiện tượng chưa từng có tại chợ Đông Thị. Tình cảnh vắng vẻ ngày nào hoàn toàn biến mất, thay vào đó là một khung cảnh náo nhiệt đến nghẹt thở.

Mặt trước cửa tiệm chia làm hai hàng rõ rệt. Cửa hông là nơi người dân xếp hàng dài để bán đồ cũ lấy tiền đồng. Cửa chính là nơi khách hàng chật ních chen chúc nhau để chọn mua những món đồ tái chế độc nhất vô nhị.

Giới văn nhân, sĩ tử trong thành vô cùng thích thú với những chiếc hộp trà làm từ gỗ ghép vân độc lạ và những chiếc bình hoa gốm sứ có đường trám nhũ đồng đầy vẻ hoài cổ. Các bà nội trợ thì tranh nhau mua những chiếc mâm đồng, nồi đồng được mài bóng như mới với giá chỉ bằng một nửa so với tiệm rèn. Các tiểu thư nhà giàu lại mê mẩn những chiếc túi vải may ghép thủ công không đụng hàng.

Tiền đồng và bạc trắng chảy vào hũ của Cố Tam như nước lũ tràn về. Chiếc túi vải nhỏ ngày trước không còn đủ sức chứa, hắn phải sắm hẳn ba chiếc rương gỗ lớn đặt ở gian sau để đựng tiền. Cố Tam vừa bận rộn thu tiền vừa mỉm cười mãn nguyện. Kế hoạch dựng lên một đế chế kinh doanh tái chế của hắn đã chính thức cất cánh.

⁂

Cùng lúc đó, tại chính đường của Cố phủ.

Không khí bên trong gia tộc họ Cố suốt mười ngày qua luôn trong trạng thái đè nén đến mức cực điểm. Cố Viễn Sơn ngồi tựa lưng vào chiếc ghế gụ chạm rồng, tay cầm tách trà đã nguội lạnh từ lâu, sắc mặt u uất và trầm ngâm.

Từ sau cái ngày cầm gậy gia pháp đuổi đánh đứa con trai phá gia chi tử ra khỏi nhà, trong lòng ông lúc nào cũng đan xen giữa sự giận dữ tột cùng và nỗi lo lắng ngầm. Dù sao Cố Tam cũng là giọt máu duy nhất của ông. Mấy ngày đầu, ông liên tục phái gia nhân ra ngoài thăm dò, chỉ sợ nhận được tin đứa con tồi tệ của mình bị chết đói hay gục ngã ở ngõ hẹp nào đó.

Thế nhưng, những tin tức từ chợ Đông Thị dồn dập truyền về lại hoàn toàn nằm ngoài mọi kịch bản mà ông có thể tưởng tượng.

Ngày đầu tiên khi nghe gia nhân báo cáo rằng Cố Tam thuê một gian tiệm xập xệ và treo biển thu mua rác, Cố Viễn Sơn đã tức đến mức đập vỡ một tách trà gốm Giang Nam quý giá. Ông gầm lên giữa chính đường, cho rằng đứa con trai đã hoàn toàn phát điên và đang cố tình làm nhục gia phong họ Cố trước mặt toàn thể thiên hạ.

Đến ngày thứ ba, khi nghe tin Cố Tam bắt đầu bỏ tiền túi ra mua những đống phế liệu bỏ đi của dân nghèo, Cố Viễn Sơn chỉ biết thở dài ngao ngán. Ông vuốt râu nghiến răng, tin chắc rằng số bạc lẻ mà con trai kiếm được hôm nọ sẽ nhanh chóng cạn sạch trong vài ngày tới, và khi đó nó sẽ phải lột bỏ cái tự do hão huyền để lết gối về nhà xin lỗi.

Tuy nhiên, đến ngày thứ mười, sự kiên nhẫn và định kiến của Cố Viễn Sơn đã bị đánh nát hoàn toàn.

Gia nhân hầu cận hớt hơ hớt hải chạy từ bên ngoài vào, thở không ra hơi, tay ôm một chiếc hộp gỗ nhỏ được bọc cẩn thận trong lớp vải gấm.

“Lão gia! Lão gia!” Gia nhân quỳ rụp xuống đất, giọng nói run rẩy vì phấn khích lẫn bàng hoàng. “Tin mới nhất từ chợ Đông Thị truyền về rồi!”

Cố Viễn Sơn nhíu mày, đặt mạnh tách trà xuống bàn: “Lại có chuyện gì nữa? Có phải cái tiệm rác thải của nó bị người ta đập phá, hay là nó đã tiêu sạch bạc rồi?”

“Không phải! Hoàn toàn không phải ạ!” Gia nhân vội vàng ngẩng đầu lên, lắc đầu lia lịa. “Tiệm đồ cũ của thiếu gia… của thiếu gia mấy ngày nay khách đến đông như hội! Người ta chen chúc nhau từ sáng đến tối để mua đồ. Chiếc hộp gỗ này là nô tài phải nhờ người quen chen chân mãi mới mua lại được từ tay một thương lái với giá ba lượng bạc đấy ạ!”

Cố Viễn Sơn chớp mắt, vẻ mặt tràn ngập sự nghi hoặc. Ông giơ tay ra: “Đưa đây ta xem.”

Gia nhân cẩn thận dâng chiếc hộp gỗ lên. Cố Viễn Sơn đón lấy, ngón tay ông vừa chạm vào bề mặt hộp đã lập tức cảm nhận được sự mịn màng, trơn nhẵn đến kỳ lạ. Chiếc hộp được ghép từ hàng chục mảnh gỗ vụn với nhiều màu sắc và vân gỗ khác nhau, nhưng từng đường ghép lại khít khao đến mức không hề thấy một khe hở nhỏ. Nhìn tổng thể, những mảnh gỗ tưởng chừng như bỏ đi ấy lại tạo thành một bức tranh phong cảnh sơn thủy hữu tình vô cùng tinh tế và độc đáo.

Cố Viễn Sơn mở nắp hộp ra, một mùi hương gỗ thanh nhẹ tỏa ra ngạt ngào. Bên trong hộp còn kèm theo một tấm thiệp nhỏ ghi dòng chữ nắn nót: Sản phẩm tái chế từ Cố Gia Đồ Cũ.

“Thiếu gia… thiếu gia đã kiếm được bao nhiêu tiền rồi?” Cố Viễn Sơn ngẩng đầu, giọng nói bắt đầu có chút run rẩy mà chính ông cũng không nhận ra.

Gia nhân nuốt nước bọt một cái ừng ực, cất giọng thì thầm: “Nô tài đã lén điều tra sổ sách ngầm của các thương lái xung quanh. Chỉ trong mười ngày qua, sau khi trừ đi chi phí thu mua phế liệu và tiền thuê nhà, tiệm của thiếu gia đã thu về lợi nhuận ròng hơn ba trăm lượng bạc trắng! Mỗi ngày số tiền thu vào lại tăng lên gấp đôi!”

Ba trăm lượng bạc!

Con số đó đối với Cố gia không phải là một khoản tiền quá lớn, nhưng đối với một đứa trẻ chưa từng chạm tay vào thương trường, lại bắt đầu từ hai bàn tay trắng cùng một đống phế liệu, thì đây quả là một con số không tưởng.

Tách trà trên tay Cố Viễn Sơn chao đảo, nước trà nóng hổi sánh ra ngoài làm bỏng cả mu bàn tay nhưng ông hoàn toàn không hay biết. Ngực ông phập phồng liên hồi, đôi mắt chong chong nhìn chằm chằm vào chiếc hộp gỗ ghép tỉ mỉ trên bàn. Thằng con trai quanh năm chỉ biết tiêu tiền như nước của ông, nay lại có thể biến đồ bỏ đi thành vàng thật sao?

“Lão gia, người xem…” Gia nhân cẩn thận ngẩng đầu, thì thầm hỏi. “Chúng ta có nên gọi thiếu gia về không ạ?”

Cố Viễn Sơn hít một hơi thật sâu, cố gắng đè nén sự chấn động đang cuộn trào trong lòng. Ông chậm rãi đứng dậy, chỉnh lại nếp áo nhăn, ánh mắt lóe lên một tia sáng phức tạp vừa kinh ngạc vừa tức giận.

“Gọi về làm gì?” Cố Viễn Sơn vỗ mạnh tay xuống bàn, gầm lên một tiếng nhưng khóe môi lại không kềm được mà giật giật. “Chuẩn bị xe ngựa ngay cho ta! Ta phải tự mình ra cái tiệm phế thải đó xem rốt cuộc thằng nhãi ranh đó đang giấu ta trò ma quỷ gì!”
 
Back
Top